Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

GS Lê Thành Khôi & Lịch Sử Việt Nam

04/11/201400:00:00(Xem: 3339)

Cuối tháng 8-2014 Nhà Xuất bản Thế Giới Hà Nội vừa cho ra mắt quyển Lịch Sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XX của Giáo Sư Lê Thành Khôi do dịch giả Nguyễn Nghị. Phải hơn 50 năm, một tác phẩm được giới nghiên cứu các ngành Khoa Học Xã hội thế giới xem kinh điển về lịch sử Việt Nam mới được đến với độc giả trong nước.

Tác phẩm này được dịch từ hai quyển sử Giáo sư Lê Thành Khôi:

Le Viet Nam Histoire et Civilisation (Việt Nam lịch sử và văn minh) Eds Minuit. Paris. 1955

Histoire du Viet Nam des origines à 1858.(Lịch sử Viet Nam từ khởi thủy đến năm 1858) Eds Asie du Sud Est. Paris. 1982

Lẽ ra công việc này phải làm từ lâu, và việc dịch thuật toàn bộ công trình nghiên cứu của Giáo Sư Lê Thành Khôi cần được phổ biến trong nước. Việc xuất bản quyển Lịch sử Việt Nam của GS Lê Thành Khôi đánh dấu sự phá bỏ  bức tường kính vô hình giữa học giả Việt Nam trong và ngoài nước. Việt Nam hội nhập vào thế giới, cần thu nhập nhanh chóng những thành tựu nghiên cứu của Việt Kiều làm sức mạnh văn hóa của mình, phá bỏ cái ranh giới văn hóa tư sản và văn hóa mác xít. Phá bỏ cái cách ly ngoài nước, trong nước trong thời đại tin học, xa lộ thông tin..

Năm nay 2013, Giáo sư Lê Thành Khôi, 90 tuổi. Giải thưởng Phan Châu Trinh về Nghiên cứu đã được trao tặng cho Giáo sư với công trình 25 tác phẩm nghiên cứu riêng, 33 tác phẩm nghiên cứu soạn chung, và hàng mấy trăm bài viết đăng trên các báo tạp chí thế giới, bài nghiên cứu tư vấn, giảng dạy cho các tổ chức quốc tế, cho Unesco Tổ chức Văn Hóa Giáo Dục Khoa Học thuộc Liên Hiệp Quốc.

Các tác phẩm của Giáo sư là các công trình đồ sộ, trở thành sách kinh điển mẫu mực cho người nghiên cứu trong ngành, người nghiên cứu nếu không đọc đến xem như một thiếu sót lớn. Trong lịch sử Việt Nam có những bậc thầy như Chu Văn An, Nguyễn Huy Oánh, Lê Quý Đôn, Phạm Quý Thích, Trần Đình Phong, Hoàng Xuân Hãn. Giáo sư Lê Thành Khôi là vị thầy có nhiều học trò khắp các nước trên thế giới, nhiều vị đã trở thành Bộ Trưởng Giáo Dục các nước, hay trở thành người lãnh đạo các nước, các cơ quan quốc tế. Mỗi năm ngoài việc giảng dạy tại Viện Đại Học Paris, Giáo sư được mời đi thỉnh giảng các Viện Đại Học danh tiếng thế giới. Thay mặt cho tổ chức Giáo Dục Khoa Học Liên Hiệp Quốc đến tư vấn cho các nước về tổ chức giáo dục. Danh tiếng và uy danh của Giáo sư được giới đại học kính phục. Giáo sư như một nhà Nho giữa hai nền văn minh Đông Tây, một người không ngừng học hỏi hiểu biết, Giáo sư còn là một thi sĩ viết thơ bằng tiếng Pháp, viết truyện từ các truyện cổ Việt Nam, dịch Chinh Phụ Ngâm, viết và dịch Tổng Tập Văn Học Việt Nam từ thế kỷ thứ 10 đến hiện đại bằng Pháp Ngữ, Giáo sư còn là một nhà văn, một nhà nhiếp ảnh gia, một nhà sưu tập đồ cổ Phương Đông, một đời công sức, tài sản góp nhặt tiêu khiển để rồi tặng cho Viện Bảo Tàng Quốc Gia Việt Nam hơn 600 cổ vật quý báu. Giáo sư còn là thân phụ của Nguyên Lê, nhạc sĩ danh tiếng nhạc Jazz-World Music và Hương Du, Bác Sĩ Chuyên Khoa Nội Khoa. Bệnh Viện Paris.

Tôi có điều may mắn nhất trên đời, là được soạn luận án Tiến Sĩ Khoa Học Giáo Dục tại Phân Khoa Khoa Học Giáo Dục. Viện Đại Học René Descartes Paris V. Sorbonne trong thời gian Giáo sư làm Khoa Trưởng, và thường xuyên theo học với Giáo sư từ năm 1973, đến năm 1980 trình xong luận án. Giáo sư được mời để chấm hầu hết các luận án Tiến Sĩ có liên hệ đến Việt Nam, nhưng chỉ có tôi là người Việt được học trực tiếp dưới sự hướng dẫn của giáo sư.

Tại Pháp, ít người Việt Nam đạt đến đỉnh cao trong ngành Giáo Dục như Giáo sư Lê Thành Khôi, sang Pháp năm 1947 hai năm sau trình luận án Tiến Sĩ Kinh Tế. Tốt Nghiệp Luật Quốc Tế La Haye. Cử nhân Văn Chương Viện Đại Học Sorbonne. Tốt Nghiệp Hán Học Trường Cao Đẳng Ngôn Ngữ Đông Phương. Giảng dạy các Đại Học Paris, Tiến sĩ Quốc Gia Pháp năm 1968 với luận án Công nghệ Giáo Dục. Cố vấn cho Unesco, và nhiều tổ chức Quốc Tế, giáo sư được mời đi thỉnh giảng nhiều Đại Học các nước.

Giáo Sư Lê Thành Khôi được biết đến như một sử gia qua quyển Histoire du Viet Nam (lịch sử Việt Nam), trở thành quyển sách căn bản cho những ai nghiên cứu về Việt Nam, nhưng quyển l Industrie de lEnseignement (Công nghệ Giáo Dục) PUF in năm 1967. Giáo sư trở thành một trong những người sáng lập ngành Kinh Tế Giáo Dục. Giáo Sư Đại Học năm 1971 môn Giáo Dục Đối chiếu, năm 1973 Giáo sư là Khoa Trưởng Phân Khoa Khoa Học Giáo Dục tại Viện Đại Học Paris V. Sorbonne. 25 tác phẩm Giáo sư Lê Thành Khôi là những công trình nghiên cứu đồ sộ: từ lịch sử, kinh tế, giáo dục, tôn giáo, đến Toàn tập Văn học Việt Nam.

Khác biệt với những bộ sử khác tại Việt Nam viết sử chỉ kể chuyện biên niên lịch sử các triều đình, các trận đánh. Giáo Sư Lê Thành Khôi đưa vào lịch sử các thành tựu khoa học từ khảo cổ, đến đời sống văn minh, văn hóa từng thời đại, các tiến bộ kinh tế, giáo dục.. Là một người được đào tạo đa ngành, những công trình nghiên cứu sử học Giáo sư bao quát và toàn diện. Vài quan điểm của Giáo sư.

Giáo sư Lê Thành Khôi không chấp nhận quan điểm Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, cho rằng thời đại Hùng Vương bắt đầu năm 2879 trước Công Nguyên (cách chúng ta gần 5000 năm), 18 đời Vua Hùng Vương, mỗi vua trị vì hai ba trăm năm là chuyện phi lý. Tiếp nối quan điểm Giáo sư, tôi cũng quan niệm rằng Hùng Vương chỉ là tên Hán hóa đời sau. Thủ lĩnh Phùng Hưng được gọi là Bố Cái Đại Vương, Hùng Vương là tên gọi chung các thủ lĩnh bộ tộc hùng mạnh, thủ lĩnh hùng mạnh này nối tiếp thủ lãnh hùng mạnh khác cai trị một vùng lãnh thổ. Mười tám đời chỉ là con số tượng trưng. Các thời đại đầu tiên của Việt Nam vẫn còn truyền thống này. Lý Phật Tử nối tiếp Lý Bí nước Vạn Xuân. Ngô Quyền được tiếp nối bởi Đinh Bộ Lĩnh, quyền hành lại về tay tướng Lê Hoàn và truyền cho tướng quân Lý Công Uẩn mà không truyền cho con cháu bất tài hay quá nhỏ bé. Hội đồng các cố vấn các quan có một vai trò dân chủ trong việc cử người kế thừa ngôi báu.

Giáo sư Lê Thành Khôi không chấp nhận có một thời đại Phong Kiến tại Việt Nam. Phong kiến theo Tây Phương có nghĩa là nhà vua phong đất cho các công hầu toàn quyền cai trị, lấy thuế một vùng lãnh thổ. Các triều đại lịch sử Việt Nam: Lý, Trần, Lê, Nguyễn không phải là phong kiến, quyền hành tập trung vào triều đình, nhà vua. Việt Nam không có nông nô.. ngày nay các sử gia Phan Huy Lê, Trần Đức Vượng đã thay đổi quan niệm người đi trước gọi thời đại Lý Trần là thời đại Quân Chủ Phật Giáo.

Giáo sư Lê Thành Khôi ca tụng việc tự trị dân chủ của làng xã từ thời Lý: Phép vua thua lệ làng, điều này các sử gia trong nước một thời bác bỏ, kể tội các hủ tục làng xã thời phong kiến.

Giáo sư Lê Thành Khôi cho rằng Tây Sơn dọn đường cho việc thống nhất nhưng Gia Long mới là vị vua trị vì trên một đất nước Việt Nam không chia cắt. Điều này khác biệt với quan điểm ca tụng Tây Sơn và kể tội bán nước nhà Nguyễn.

Có lẽ phải mất nhiều thời gian để rà soát lại bản dịch của anh Nguyễn Nghị, bổ túc những sơ sót. Là môn sinh của Giáo sư Lê Thành Khôi, tôi rất hoan nghênh công việc anh Nguyễn Nghị và nhà xuất bản Thế Giới. Các nhà nghiên cứu Việt Nam tại các đại học các nước có các điều kiện vật chất, thời gian, có nhiều tài liệu cũ từ Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp, từ các thư viện Quốc Gia, thư khố Pháp..các tài liệu mới cũ từ khắp nơi, có thời gian đi du hành đi khắp nơi, gặp gỡ, tiếp cận với các phương pháp tư duy hiện đại có thể có những đóng góp tốt cho công việc nghiên cứu các ngành, cần phải nhìn nhận và tiến đến hợp tác trong và ngoài nước.

Có một giáo sư tiến sĩ trong nước đến Paris, chỉ nhìn thấy: “ở xa thiếu tư liệu, việc nghiên cứu (Việt Nam tại Paris) là võ đoán.” Vị ấy đến Paris hai lần chỉ quanh quẩn quán Monge ăn nhậu, về nước viết được bài ca tụng người đầu bếp Việt Nam. Có vị còn dám nói Giáo Sư Hoàng Xuân Hãn ở Paris đã hơn năm mươi năm còn biết gì mà nói. Với những quan niệm ấy thì hết ý, chẳng còn gì có thể bàn cải.

Việc xuất bản tác phẩm Lịch Sử Việt Nam của Giáo sư Lê Thành Khôi của nhà xuất bản Thế Giới ước mong chỉ là bước đầu trong việc nâng cao dân trí và phá bỏ rào cản, bức tường kính vô hình: “độc quyền tư duy lịch sử”, để đưa dân tộc Việt Nam tiến kịp với thế giới trong mọi ngành nghề Khoa Học Xã Hội.

Paris 1-11-2014

Phạm Trọng Chánh

Tiến sĩ Khoa Học Giáo Dục Viện Đại Học Paris V Sorbonne.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Nguyễn Khải, Nguyễn Mộng Giác, Võ Phiến đều đã đi vào cõi vĩnh hằng. Lớp người Việt kế tiếp, đám thường dân Bốn Thôi cỡ như thì sống cũng không khác xưa là mấy. Tuy không còn phải “né viên đạn của bên này, tránh viên đạn của bên kia, đỡ ngọn roi của bên nọ” như trong thời chiến nhưng cuộc sống của họ (xem ra) cũng không được an lành hay yên ổn gì cho cho lắm
Như vậy là bao trùm mọi lĩnh vực quốc phòng, an ninh xã hội có nhiệm vụ bảo vệ đảng và chế độ bằng mọi giá. Nhưng tại sao, giữa lúc tệ nạn tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, suy thoái đạo đức, lối sống và tình trạng “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn còn ngổng ngang thì lại xẩy ra chuyện cán bộ nội chính lừng khừng trong nhiệm vụ?
Nhật báo Washington Post của Mỹ ghi nhận là: “Tổng thống Pháp Macron vốn dĩ đã rất tức giận khi được tham vấn tối thiểu trước khi Mỹ rút khỏi Afghanistan. Điều đó bây giờ đã tăng lên. Chính quyền Biden nên xem xét sự không hài lòng của Pháp một cách nghiêm túc. Hoa Kỳ cần các đối tác xuyên Đại Tây Dương vì đang ngày càng tập trung chính sách đối ngoại vào cuộc cạnh tranh cường quốc với Trung Quốc. Và trong số này, Pháp được cho là có khả năng quân sự cao nhất.
Sau khi tấm ảnh người đàn ông đi xe máy chở người chết cuốn chiếu, chạy qua đường phố của tỉnh Sơn La (vào hôm 12 tháng 9 năm 2016 ) được lưu truyền trên mạng, Thời Báo – Canada đã kêu gọi độc giả góp tay ủng hộ gia đình của nạn nhân. Số tiền nhận được là 1,800.00 Gia Kim, và đã được những thân hữu của toà soạn – ở VN – mang đến tận tay gia đình của người xấu số, ở Sơn La.
Công bằng mà nói, ngày càng có nhiều sự đồng thuận là chúng ta cần phải làm nhiều hơn nữa để ngăn chặn các hành động của Trung Quốc trong khu vực. Sự răn đe đòi hỏi những khả năng đáng tin cậy. Liên minh mới này phù hợp với lý luận đó.
Liên quan đến cuộc bầu cử Quốc Hội Đức 2021 trước đây tôi đã giới thiệu lần lượt ba ứng cử viên: Scholz của SPD, Laschet (CDU) và Baerbock (Xanh). Nhưng trong những tháng qua có khá nhiều tin giật gân nên để rộng đường dư luận tôi lại mạn phép ghi ra vài điểm chính bằng Việt ngữ từ vài tin tức liên quan đến cuộc bầu cử 2021 được truyền thông và báo chí Đức loan tải.
Năm 17 tuổi, đang khi học thi tú tài, tôi bỗng nhiên bị suyễn. Căn bệnh này – vào cuối thế kỷ trước, ở miền Nam – vẫn bị coi là loại nan y, vô phương chữa trị. Từ đó, thỉnh thoảng, tôi lại phải trải qua vài ba cơn suyễn thập tử nhất sinh. Những lúc ngồi (hay nằm) thoi thóp tôi mới ý thức được rằng sinh mệnh của chúng ta mong manh lắm, và chỉ cần được hít thở bình thường thôi cũng đã là một điều hạnh phúc lắm rồi. If you can't breathe, nothing else matters!
Một người không có trí nhớ, hoặc mất trí nhớ, cuộc đời người ấy sẽ ra sao? Giả thiết người ấy là ta, cuộc đời ta sẽ như thế nào? Ai cũng có thể tự đặt câu hỏi như vậy và tự cảm nghiệm về ý nghĩa của câu hỏi ấy. Sinh hoạt của một người, trong từng giây phút, không thể không có trí nhớ. Cho đến một sinh vật hạ đẳng mà chúng ta có thể biết, cũng không thể tồn tại nếu nó không có trí nhớ. Trí nhớ, Sanskrit nói là smṛti, Pāli nói là sati, và từ Hán tương đương là niệm, cũng gọi là ức niệm, tùy niệm. Nói theo ngôn ngữ thường dùng hiện đại, niệm là ký ức. Đó là khả năng ghi nhớ những gì đã xảy ra, thậm chí trong thời gian ngắn nhất, một sát-na, mà ý thức thô phù của ta không thể đo được.
Ba mươi năm trước tôi là thành viên hội đồng quản trị của một cơ quan xã hội giúp người tị nạn trong khu vực phía đông Vịnh San Francisco (East Bay) nên khi đó đã có dịp tiếp xúc với người tị nạn Afghan. Nhiều người Afghan đã đến Mỹ theo diện tị nạn cộng sản sau khi Hồng quân Liên Xô xâm chiếm đất nước của họ và cũng có người tị nạn vì bị chính quyền Taliban đàn áp. Người Afghan là nạn nhân của hai chế độ khác nhau trên quê hương, chế độ cộng sản và chế độ Hồi giáo cực đoan.
Bà Merkel là một người đàn bà giản dị và khiêm tốn, nhưng nhiều đối thủ chính trị lại rất nể trọng bà, họ đã truyền cho nhau một kinh nghiệm quý báu là “Không bao giờ được đánh giá thấp bà Merkel”.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.