Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Liệu Cung Ứng Dịch Vụ Có Thể Thay Cho Vai Trò Của Công Nghiệp Chế Biến Được Không?

30/10/201400:00:00(Xem: 2039)

Dani Rodrik

Đỗ Kim Thêm dịch

Những thảo luận trên bình diện toàn cầu về tình trạng tăng trưởng tại các nước đang phát triển đã thay đổi triệt để trong thời gian gần đây. Những quảng bá ồn ào và các khích động trong những năm qua về triển vọng sẽ nhanh chóng bắt kịp các nền kinh tế tiên tiến đã không còn nữa. Có ít các nhà phân tích nghiêm túc vẫn còn tin là sự hội nhập kinh tế đầy ngoạn mục của các nước châu Á, và ít ngoạn mục hơn của các nước châu Mỹ La tinh và châu Phi, sẽ được duy trì trong những thập niên sắp tới. Mức lãi suất thấp, giá thương phẩm cao, tốc độ toàn cầu hoá nhanh, tình hình ổn định sau thời kỳ Chiến tranh Lạnh, tất cả các yếu tố để hỗ trợ cho thời kỳ đặc biệt này dường như không còn tiếp tục tồn tại nữa.

Một kế hoạch thứ nhì cần thực hiện đã mờ dần: Các nước đang phát triển cần có một mô hình mới về tăng trưởng. Vấn đề không phải chỉ là các nước này cần tự từ bỏ lệ thuộc vào các luồng vốn tư bản ngoại nhập luôn biến động và sự bùng nổ trong thị trường thương phẩm, hai hiện tượng này thường dẫn tới tình trạng tổn thương và khủng hoảng. Quan trọng hơn, tiến trình công nghiệp hoá tập trung cho xuất khẩu, một đường hướng chắc chắn đem lại thịnh vượng trong lịch sử, dường như đi vào giai đoạn cuối.

Từ khi có cuộc Cách mạng Công nghiệp, sản xuất chế biến đã là một chìa khoá cho sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng. Có nhiều nước đã bắt kịp và thậm chí còn có thể còn qua mặt được nước Anh, thí dụ như Đức, Hoa Kỳ và Nhật Bản. Tất cả các nước này đã đạt được tình trạng này bằng cách họ tập trung xây dựng được nền công nghiệp chế biến. Sau thế chiến thứ hai, có hai trào lưu làm hội nhập kinh tế nhanh chóng, thứ nhất thuộc về lĩnh vực ngoại vi trong châu Âu trong thập niên 1950 và 1960, và thứ nhì là tại Đông Á kể từ thập niên 1960.

Cả hai dựa trên chế biến trong công nghiệp. Trung Quốc đã trổi dậy như là một khuôn mẫu của một chiến lược tăng trưởng này từ thập niên 1970 mà họ đã triệt để tận dụng để đi theo phướng hướng này. Ngày nay, công nghiệp chế biến không còn được sử dụng như xưa, mà nó cần dùng nhiều hơn về vốn và kỷ năng; nhưng tiềm năng thu hút lực lượng lao động quá lớn từ khu vực nông thôn lại suy giảm nghiêm trọng.

Trong khi những chuỗi cung ứng trên bình diện toàn cầu đã tạo thuận lợi trong việc thâm nhập vào khu vực chế biến, nhưng nó cũng làm giảm dần những doanh thu trong nước đã tăng được là do tính theo giá trị cộng thêm. Một vài công nghiệp cổ truyền, thí dụ như ngành dệt và thép, dường như phải đối phó với thị trường quốc tế đang co cụm và tình trạng quá mức công suất, cả hai bị tác động do nhiều thay đổi trong nhu cầu và những quan tâm đến vấn đề môi sinh. Và một nhược điểm trong sự thành công của Trung Quốc là các nước khác nhận ra rằng càng khó khăn hơn để tạo thêm được một khe hở trong khu vực chế biến. Hậu quả của vấn đề là các nước đang phát triển (vì sẽ không thể đeo đuổi theo tiến trình công nghiệp hoá nữa, CTCND), đang khởi động việc giải công nghiệp hoá và trở thành lệ thuộc nhiều hơn vào khu vực dịch vụ với mức thu nhập thấp hơn so với một khuôn mẫu trước đây dành cho các nước đã phát triển, - một hiện tượng mà tôi gọi đó là giải công nghiệp hoá sớm hơn dự trù.

Liệu những nền kinh tế dịch vụ sẽ giữ vai trò của công nghiệp chế biến như trong quá khứ không? Dịch vụ vốn dĩ đã đóng góp một phần lớn vào TSLQG tại các nước đang phát triển, ngay cả tại các nước có lợi tức thấp, nơi mà canh nông từ xưa đã chiếm một phần quan trọng. Công nhân trẻ tuổi từ các nông trại ra thành phố ngày càng được thu dụng nhiều hơn trong khu vực dịch vụ của đô thị, thay vì làm trong khu công nghiệp chế biến. Mậu dịch quốc tế trong lĩnh vực dịch vụ có khuynh hướng mở rộng nhanh hơn là trong mậu dịch về hàng hoá.

Ejaz Ghani và Stephen D. O´Connell của Ngân hàng Thế giới là hai trong số những người lạc quan này. Trong một tài liệu nghiên cứu gần đây, hai ông lập luận là cung ứng dịch vụ có thể phục vụ như một bậc thang cho tăng trưởng, một vai trò mà từ lâu người ta gán cho công nghiệp chế biến. Đặc biệt hơn, họ chứng minh là kinh tế dịch vụ gần đây đã thể hiện được một tình trạng hội nhập không điều kiện trong năng suất. Điều này có nghĩa là các nước ở xa nhất của lằn ranh quốc tế để tính được năng suất lao động nhận ra là mức tăng trưởng năng suất nhanh nhất nằm trong dịch vụ.


Đây là một tin quá vui, nhưng cũng có nhiều lý do cần cảnh giác. Bằng chứng của Ghani và O´Connell bao gồm dữ liệu tính được từ những năm đầu tiên của thập niên 1990, trong khi những nước đang phát triển đã kinh qua một sự hội nhập cho toàn nền kinh tế, kết quả này có được là do luồng vốn ngoại nhập và vận may trong thị trường thương phẩm. Điều chưa rõ là liệu kết luận này có thể mở rộng để áp dụng cho các thời kỳ khác hay không.

Có hai vấn đề tạo cho nền kinh tế dịch vụ dị biệt với công nghiệp chế biến. Thứ nhất, trong khi một số lĩnh vực của dịch vụ có thể đem ra mua bán được và ngày càng trở nên quan trọng trong mậu dịch quốc tế, những lĩnh vực này thường cần đến công nhân có tay nghề cao, nên tương đối ít thu dụng các lao động phổ thông.

Ngân hàng, tài chính, bảo hiểm và các dịch vụ kinh tế khác, cùng với công nghệ thông tin và truyền thông là những lĩnh vực hoạt động có năng suất cao và trả lương hậu. Các lĩnh vực này có thể tác động như bậc thang cho tăng trưởng trong kinh tế khi mà lực lượng lao động được huấn luyện một cách phù hợp. Nhưng thông thường thì các nước đang phát triển có một lực lượng lao động hầu hết là kém tay nghề. Trong những nền kinh tế như thế, những dịch vụ có thể trao đổi đuợc không thể thu dụng nhiều hơn phần do phiá lao động cung ứng.

Đó là lý do tại sao, dù với tất cả sự thành công của mình, mà lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông tại Ấn Độ không phải là động lực chính cho tăng trưởng kinh tế. Ngược lại, công nghiệp chế biến cổ truyền có thể cung ứng một phần lớn công ăn việc làm cho công nhân thoát khỏi nông trại mà mức độ năng suất nhiều đến ba hay bốn lần hơn trong khu vực nông nghiệp.

Tại các nước đang phát triển ngày nay, một phần lớn của lực lượng lao động dư thừa được thu dụng trong khu vực dịch vụ phi mậu dịch đang hoạt động với năng suất rất thấp, thí dụ như trong những hoạt động bán lẻ và công việc thuộc phạm vi gia đình. Trên nguyên tắc, một vài hoạt động trong lĩnh vực này có thể thu lợi do công nghệ tốt hơn, tổ chức được cải thiện và thay đổi hình thức rộng lớn hơn. Nhưng ở đây có sự di biệt thứ hai giữa dịch vụ và chế biến tác động nhau.

Cuối cùng thì gia tăng một phần năng suất trong những hoạt động phi mậu dịch cũng phải đang tự hạn chế, bởi vì hoạt động của các dịch vụ cá nhân không thể mở rộng mà không thay đổi điều kiện trao đổi so với hoạt động của mình, - tự hạ thấp giá cung (và khả năng sinh lợi). Những nước nhỏ đang phát triển có thể đẩy mạnh công nghiệp chế biến dựa trên cơ sở của vài thành công trong lĩnh vực xuất khẩu, và phân tán liên tục qua thời gian – như hiện nay là sản xuất áo thun, theo sau đó là lắp ráp các linh kiện cho máy vô tuyến truyền hình và các lò vi sóng, và từ đó nâng cao dần các chuỗi về kỷ năng và giá trị.

Ngược lại, trong lĩnh vực dịch vụ, vì quy mô thị trường bị giới hạn do nhu cầu nội địa, nên những thành công liên tục đòi hỏi phải gia tăng những năng suất phụ thuộc và đồng thời trong các lĩnh vực khác của nền kinh tế. Nếu chỉ tập trung vào một vài lĩnh vực thì sẽ không mang lại cơ hội thắng lợi nhanh chóng. Chính vì thế, tăng trưởng phải dựa những khả năng toàn diện của nền kinh tế mà sự tích lũy ở mức độ chậm hơn vì phải thông qua các hình thức về vốn thuộc về con người và các thể chế.

Do đó, tôi vẫn còn hoài nghi về một mô hình do dịch vụ làm chủ đạo có thể mang lại một sự tăng trưởng nhanh chóng và tạo ra công ăn việc làm tốt đẹp theo như cách mà trước đây công nghiệp chế biến đã thực hiện được.

Ngay khi những người lạc quan về cơ hội đang mở rộng trong lĩnh vực công nghệ là có lý, rất khó mà nhận ra rằng triển vọng này cho phép các quốc gia đang phát triển có thể duy trì được một loại tăng trưởng mà họ đã từng trải trong hai thập niên qua.

Dani Rodrik là Giáo Sư Xã hội học, Institute for Advanced Study, Princeton, New Jersey. Sách đã xuất bản gần đây là One Economics, Many Recipes: Globalization, Institutions, and Economic Growth và The Globalization Paradox: Democracy and the Future of the World Economy.

Nguyên tác: Are Services the New Manufactures?
http://www.project-syndicate.org/commentary/are-services-the-new-manufactures-by-dani-rodrik-2014-10

Tựa đề bản dịch là của người dịch.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Liên quan đến cuộc bầu cử Quốc Hội Đức 2021 trước đây tôi đã giới thiệu lần lượt ba ứng cử viên: Scholz của SPD, Laschet (CDU) và Baerbock (Xanh). Nhưng trong những tháng qua có khá nhiều tin giật gân nên để rộng đường dư luận tôi lại mạn phép ghi ra vài điểm chính bằng Việt ngữ từ vài tin tức liên quan đến cuộc bầu cử 2021 được truyền thông và báo chí Đức loan tải.
Năm 17 tuổi, đang khi học thi tú tài, tôi bỗng nhiên bị suyễn. Căn bệnh này – vào cuối thế kỷ trước, ở miền Nam – vẫn bị coi là loại nan y, vô phương chữa trị. Từ đó, thỉnh thoảng, tôi lại phải trải qua vài ba cơn suyễn thập tử nhất sinh. Những lúc ngồi (hay nằm) thoi thóp tôi mới ý thức được rằng sinh mệnh của chúng ta mong manh lắm, và chỉ cần được hít thở bình thường thôi cũng đã là một điều hạnh phúc lắm rồi. If you can't breathe, nothing else matters!
Một người không có trí nhớ, hoặc mất trí nhớ, cuộc đời người ấy sẽ ra sao? Giả thiết người ấy là ta, cuộc đời ta sẽ như thế nào? Ai cũng có thể tự đặt câu hỏi như vậy và tự cảm nghiệm về ý nghĩa của câu hỏi ấy. Sinh hoạt của một người, trong từng giây phút, không thể không có trí nhớ. Cho đến một sinh vật hạ đẳng mà chúng ta có thể biết, cũng không thể tồn tại nếu nó không có trí nhớ. Trí nhớ, Sanskrit nói là smṛti, Pāli nói là sati, và từ Hán tương đương là niệm, cũng gọi là ức niệm, tùy niệm. Nói theo ngôn ngữ thường dùng hiện đại, niệm là ký ức. Đó là khả năng ghi nhớ những gì đã xảy ra, thậm chí trong thời gian ngắn nhất, một sát-na, mà ý thức thô phù của ta không thể đo được.
Ba mươi năm trước tôi là thành viên hội đồng quản trị của một cơ quan xã hội giúp người tị nạn trong khu vực phía đông Vịnh San Francisco (East Bay) nên khi đó đã có dịp tiếp xúc với người tị nạn Afghan. Nhiều người Afghan đã đến Mỹ theo diện tị nạn cộng sản sau khi Hồng quân Liên Xô xâm chiếm đất nước của họ và cũng có người tị nạn vì bị chính quyền Taliban đàn áp. Người Afghan là nạn nhân của hai chế độ khác nhau trên quê hương, chế độ cộng sản và chế độ Hồi giáo cực đoan.
Bà Merkel là một người đàn bà giản dị và khiêm tốn, nhưng nhiều đối thủ chính trị lại rất nể trọng bà, họ đã truyền cho nhau một kinh nghiệm quý báu là “Không bao giờ được đánh giá thấp bà Merkel”.
Hai cụm từ trọng cung (supply-side) và trọng cầu (demand-side) thường dùng cho chính sách kinh tế trong nước Mỹ (đảng Cộng Hòa trọng cung, Dân Chủ trọng cầu) nhưng đồng thời cũng thể hiện hai mô hình phát triển của Hoa Kỳ (trọng cầu) và Trung Quốc (trọng cung). Bài viết này sẽ tìm hiểu cả hai trường hợp. Trọng cung là chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hoà từ thời Tổng Thống Ronald Reagan nhằm cắt giảm thuế má để khuyến khích người có tiền tăng gia đầu tư sản xuất. Mức cung tăng (sản xuất tăng) vừa hạ thấp giá cả hàng hóa và dịch vụ lại tạo thêm công ăn việc làm mới. Nhờ vậy mức cầu theo đó cũng tăng giúp cho kinh tế phát triển để mang lại lợi ích cho mọi thành phần trong xã hội. Giảm thuế lại thêm đồng nghĩa với hạn chế vai trò của nhà nước, tức là thu nhỏ khu vực công mà phát huy khu vực tư.
Gần đây, chỉ một tấm ảnh của nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ – Nicole Gee – ôm em bé người Afghan với thái độ đầy thương cảm thì nhiều cơ quan truyền thông quốc tế đều phổ biến và ca ngợi! Nhân loại chỉ tôn trọng sự thật, trân quý những tâm hồn cao thượng và những trái tim biết rung động vì tình người – như nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ, Nicole Gee – chứ nhân loại không bao giờ thán phục hoặc ca ngợi sự tàn ác, dã man, như những gì người csVN đã và đang áp đặt lên thân phận người Việt Nam!
Tôi vừa mới nghe ông Trần Văn Chánh phàn nàn: “Cũng như các hội nghề nghiệp khác, chưa từng thấy Hội nhà giáo Việt Nam, giới giáo chức đại học có một lời tuyên bố hay kiến nghị tập thể gì liên quan những vấn đề quốc kế dân sinh hệ trọng; thậm chí nhiều lần Trung Quốc lấn hiếp Việt Nam ở Biển Đông trong khoảng chục năm gần đây cũng thấy họ im phăng phắc, thủ khẩu như bình…”
Thế giới chưa an toàn và sẽ không an toàn chừng nào các lực lượng khủng bố trên thế giới vẫn còn tồn tại, một nhà báo, cựu phóng viên đài VOA từ Washington D.C. nói với BBC News Tiếng Việt hôm thứ Năm. Sự kiện nước Mỹ bị tấn công vào ngày 11 tháng 09 năm 2001 đã thức tỉnh thế giới về một chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan đang tồn tại trong lòng các nước Trung Đông. Giờ đây, sau 20 năm, liệu người Mỹ có cảm thấy an toàn hơn hay họ vẫn lo sợ về một cuộc tấn công khủng bố khác trên đất nước Hoa Kỳ hay nhằm vào công dân Mỹ ở nước ngoài.
Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, những kẻ khủng bố Hồi giáo thuộc tổ chức mạng lưới Al-Qaida đã dùng bốn phi cơ dân sự làm thành một loại vũ khí quân sự để tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới ở New York và Lầu Năm Góc ở Washington D.C. Các sự kiện không tặc loại này là lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh của nhân loại và đã có hậu quả nghiêm trọng nhất trong lịch sử cận đại.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.