Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Chuyện Đời Lão Bần Cố Nông Lê Tư

07/10/201400:00:00(Xem: 4836)

Lời tác giả: Chuyện phóng tác theo tin tức về vụ triển lãm “Cải cách ruộng đất” đầu tháng 9, 2014 ở Hà Nội và cuộc gặp gỡ “bắt rễ” giữa triết gia Trần Đức Thảo với bần cố nông Lê Tư năm 1953 tại huyện Chiêm Hóa chi tiết trong cuốn “Trần Đức Thảo, những lời trăng trối” của Tri Vũ-Phan Ngọc Khuê. Các phần chính yếu có tính lịch sử xác thực. Thân tặng Trần T. Kiệt, người bạn đã dành cho tôi nhiều cảm hứng...

*

- Ờ... Đây rồi!

Địa chỉ số 1 Phạm Ngũ Lão phố Tràng Tiền, viện Bảo tàng Lịch sử Quốc gia cổ kính tọa lạc gần bờ sông Hồng xa xa thấp thoáng chiếc cầu Chương Dương ở quận Hoàn kiếm Hà Nội. Ối giời, bu nó ơi! Phố xá sao sang trọng quá thế này... Ôi chao! Cảnh vật “hoành tráng” nhà lầu ô tô một trời một vực khác hẳn với xóm nhà tranh vách đất và những con đường mòn lồi lõm ở quê mình mà hàng năm nếu không lụt lội vào mùa mưa thì mùa nắng đất bụi mù trời.

Thấm thoát đã 60 năm sau cách mạng “Cải cách ruộng đất 1953 - 1956”, lão Lê Tư xưa kia là bần cố nông ở huyện Chiêm Hóa thuộc tỉnh Tuyên Quang bốn mùa canh tác làm thuê gánh mướn, vô học nhưng sống theo gia đạo, ăn ở hiền lương vì sợ “trời quả báo”. Cách mạng cải cách về cùng với cố vấn Tàu phát động phong trào đấu tố giai cấp bằng bạo lực trái ngược với nền phong hóa tổ tiên nên lương tâm lão vẫn âm thầm phủ nhận.

Suốt quãng đời nghèo khó, đây là lần đầu tiên lão có dịp theo chân mấy bô lão “vô tư” rủ nhau về thủ đô Hà Nội. Trên xe đò, lão ngồi cạnh hai Việt kiều trở lại tỉnh sau chuyến thăm quê, họ xì xào tin thời sự nghe khó hiểu như bàn cờ tướng ra quân nhưng hấp dẫn không thua những mẩu truyện kiếm hiệp:

- Nào là tranh chấp biển đảo đường “lưỡi bò”, giàn khoan HD-981 ngang nhiên đặt sâu 89 hải lý vào trong hải phận kinh tế của Việt Nam, địa cầu hâm nóng khiến nước biển dâng cao; nào là khủng bố tự sát, chặt đầu con tin làm cả thế giới hãi hùng, chiến tranh lạnh Nga - Mỹ tái diễn và hai cường quốc Tàu - Nhật gia tăng “khủng” ngân sách quốc phòng nhất là hiện nay bom đạn đang nổ rền trời ở hai miền Đông Âu và Trung Đông. Đức Giáo Hoàng vừa lên tiếng cảnh báo đại chiến thứ 3...

Thế nhưng chuyện đời “cái khó ló cái khôn”, con người học cao hiểu rộng hay u mê “lú lẫn” chứ riêng lão tin rằng cứ mỗi chu kỳ khoảng 60 năm sẽ xảy ra nhiều hiện tượng bất thường! Dựa vào lẽ đó nên lão cố tránh can dự vào những điều ác trong thời cải cách. Cứ thử nhớ lại xem 69 năm trước đây tại Bắc Việt, nạn đói Ất Dậu tháng 5 - 1945 giết hại hơn 2 triệu người, tiếp đến cách mạng tháng 8 - 1945 vua Bảo Đại thoái vị chấm dứt triều đại quân chủ Nhà Nguyễn rồi tháng 9 - 1945 thế chiến thứ II kết thúc và cũng năm 1945 đất nước ta gian nan thoát khỏi ách nô lệ thực dân... Nếu kể tiếp để dẫn chứng thêm thì 61 năm trước 1945 là 1884 cũng có quốc biến quan trọng: toàn Liên bang Đông Dương Việt - Miên - Lào chính thức bị quân viễn chinh Pháp đặt nền móng đô hộ...

Những nhận định khách quan ấy là lịch sử mà lịch sử phải chăng thường tái diễn sau chu kỳ 60 niên kỷ? Lúc còn chân lấm tay bùn, tò mò lão hỏi những bậc thông thái trên tỉnh thì được giải thích là dựa vào thiên văn cổ học, sao Mộc (Jupiter) và sao Thổ (Saturn) quay theo vòng quỹ đạo cứ khoảng 20 năm lại gặp nhau trong vũ trụ một lần, 3 lần như thế vị chi 60 năm thì điểm gặp gỡ lại gần trùng với điểm của 60 năm trước đó nên tử vi lấy chu kỳ 60 năm để tính lịch và chuyện sinh tử đời người cũng vận hành theo hiện tượng thiên nhiên ấy. Vô số huyền bí ở cõi đời này con người chưa thể lý giải nên lão chỉ biết đặt lòng tin mà chưa dám quả quyết:

- Lẽ nào số mệnh đất nước cũng được an bài như đại hạn, tiểu hạn hay đại vận, tiểu vận... nó thay đổi bất thường sau 60 năm giống như đời người? Đoán có điềm gở cho Đảng báo trước việc chẳng lành nên bỗng dưng năm nay 2014, Ban bí thư Đảng cộng sản Việt Nam muốn khơi lại vết thù xưa trên lưng dân tộc bằng cách phô diễn “thành tích cách mạng” đúng 60 năm sau với cuộc triển lãm “Cải cách ruộng đất 1946 - 1957” mà phát động cao nhất là “1953 - 1956” từ ngày Thứ Hai 8 tháng 9 kéo dài đến cuối năm nay ở viện Bảo tàng Lịch sử Hà Nội.

Lão Lê Tư lặn lội đến đây cùng với đám dân oan mất ruộng để ngậm ngùi xem lại di tích vở bi kịch “cải cách long trời lở đất” giết hại hơn 172 nghìn người với số bị oan chiếm tỷ lệ 72% tức là hơn 123 nghìn theo tài liệu lưu trữ và tiêu chuẩn “địa chủ” do Đảng định nghĩa. Tuy nhiên, thống kê chính thức có thể gấp 3 lần nghĩa là hơn ½ triệu người đã bị đấu tố thảm sát ở miền Bắc. Nghìn năm một thuở mới có cuộc triển lãm nhập nhằng “báo cáo” tội lỗi “úm ba la” biến ra chiến lợi phẩm. Chuyện không tin mà có thật nhưng chưa đầy 3 ngày mở cửa đón khách, chiều hôm nay Thứ Năm 11 tháng 9 mọi người bất ngờ bị đuổi về không cho thăm viếng nữa vì “sự cố” “kỹ thuật ánh sáng” hay dân oan đã “sáng mắt” rồi? Cuộc triển lãm ngớ ngẩn nhằm mục đích biện minh cho quá khứ tội lỗi bị phản tác dụng nên ông giám đốc Nguyễn Văn Cường nhận chỉ thị phải tạm ngưng toàn bộ chương trình... Bao nhiêu sai lầm hôm nay chồng chất sai lầm hôm qua Đảng vẫn cố tình quanh co né tránh sự thật đau thương của cả một dân tộc.

Tính đến mùa thu năm nay lão Lê Tư thọ 85 tuổi. Lão già theo cách mạng nhưng cả đời sống bên lề cách mạng vì lương tri bất ổn với phong trào cải cách nên nghèo đói vẫn hoàn đói nghèo. Gốc nhà nông ăn uống thanh đạm, bữa rau bữa đậu lại lao động dầm mưa dãi nắng nên luật bù trừ, trời cho thể lực khỏe, thân còn cứng cáp đi đứng tương đối vững vàng... Lão đi Hà Nội lần này với hai mục đích:

- Khởi thủy do nông dân ở huyện “bức xúc” vì cuộc triển lãm nên rủ lão về đây để vừa viếng thăm vừa chống đối. Tất cả đoàn cố tình tạo làn sóng người đông như nước lũ tràn ngập ruộng đồng... có lẽ vì thế họ sợ mà phải đóng cửa bất ngờ, sớm hơn dự tính chăng? Hóa ra “gậy ông lại đập lưng ông”, dân oan chọn đúng thời cơ tụ họp nhốn nháo phản đối phía ngoài cổng viện. Sau hết vì thương cái Thôn, con gái lão lên tỉnh làm ăn mấy năm nay, từ dạo kinh tế khó khăn chẳng thấy Tết nào nó về thăm nhà nên sống chết ra sao không ai biết? Tội nghiệp, thân một mình xa quê làm công cho gia đình một đại gia quan chức ở phố Tràng Thi gần hồ Hoàn Kiếm nghe nói không xa nơi này lắm, chịu khó tản bộ vài con đường rồi sẽ tới thôi...

Lão Lê Tư chậm rãi bước về hướng Tràng Tiền, tay chống gậy tay cầm giấy ghi nguệch ngoạc địa chỉ nhà cái Thôn. Cứ đi hết quãng ngắn lão lại ngừng để hỏi thăm người qua lại. Tháng 9 ở Hà Nội là cuối mùa mưa, hơi lạnh từ đê sông Hồng thổi vào thành phố cuốn theo những luồng gió mát mạnh như chiếc quạt trần. Thời tiết tháng này ở thủ đô là dễ chịu nhất trong năm nên chuyến này thăm con, thiên nhiên cũng hiền hòa vì nghĩ thật đáng thương, thân già chẳng biết còn sống bao ngày nhưng nhớ con mà phải lần mò từ quê xa. Để quên con đường dài trước mặt, vừa đi lão vừa hoài niệm về quá khứ năm xưa...

- Khi đội cải cách về huyện Chiêm Hóa, lão là anh nông dân 25 tuổi nghèo mạt, mùa màng đến thì xin làm thuê gieo mạ gặt lúa cho địa chủ nhưng việc đồng áng còn tùy thời tiết, những tháng lụt lội mất mùa phải đi bắt ốc mò cua, cơm ăn bữa đói bữa no... Gia đình 1 vợ 2 con sống tạm lều tranh vách đất, đứa con trai 5 tuổi và cái Thôn tròn năm rưỡi. Vợ lão đau nặng không tiền thang thuốc nên yểu mệnh, tuổi thanh niên thằng lớn gia nhập bộ đội chết trận bên Cao Miên nên bây giờ trên thế gian này, gia đình chỉ còn có mình lão với cái Thôn tuổi cũng đã ngoài 60.

Lão nhớ năm 1953, phong trào cải cách ruộng đất hô hào đấu tranh lên cao điểm. Thủ trưởng dẫn về huyện một cán bộ trí thức trung niên tuổi chừng 35, dáng người thấp bé gầy gò... Họ đến trước túp lều rơm của vợ chồng Lê Tư ân cần:

- Giới thiệu đồng chí Trần Đức Thảo, trí thức bên Tây ủng hộ cách mạng. Đồng chí Thảo là triết gia mà các nhà văn hóa Đế quốc ở bên đó đã phải ngả mũ chào thua, hôm nay về đây để huấn luyện bần cố nông nổi dậy làm “đội viên cải cách” tố giác tung tích, hạch tội bọn cường hào ác bá cậy quyền thế của bọn thực dân bóc lột đồng bào cùng khổ...

Nghe hai chữ “trí thức” và “triết gia” Lê Tư chỉ thấy vui tai bởi với chàng chữ “tác” đánh chữ “tộ” bây giờ lại đang bị cơn đói hành hạ cả mấy bữa nay làm tai ù, mắt mờ thì còn biết gì nữa? Bỗng nhìn xuống bàn tay đồng chí Thảo, Lê Tư sáng mắt, chưa kịp hỏi thì đã có lời phân trần:

- Tôi đến đây mục đích làm quen với đời sống nhân dân nên sẽ sống chung vài ngày để huấn luyện đồng chí thành một “đội viên cải cách” hay “bần cố nông nổi dậy”. Cách mạng vô sản mang công bằng bác ái về nông thôn. Chúng ta cùng “bắt rễ” và “xâu chuỗi” sao cho phong trào cải cách sớm đạt chỉ tiêu. Đây là khẩu phần gạo với chút tiền nhờ gia đình đồng chí nấu cơm để cùng ăn trong những ngày sắp tới.

Đang đói mà tự dưng có kẻ mang gạo và tiền đến thì còn gì quý hơn! Chàng nhoẻn miệng cười nhưng vội khép lại ngay vì cuộc sống ưu tư khổ cực đã dậy cho Lê Tư tính đa nghi trước mọi lòng tốt con người. Gạo tiền ấy hình như kèm theo những điều kiện mà chàng nghe loáng thoáng vài chữ khó hiểu? Đoán được cả thắc mắc lẫn hạnh phúc từ anh bần cố nông nghèo khó đang đứng ngẩn tò te trước mặt mình nên Thủ trưởng vội cướp lời:

- Ừ để tôi thêm... Trước khi về đây, chính quyền địa phương đã cho đồng chí Thảo biết rõ hoàn cảnh của đồng chí và chúng ta sẽ giúp nhau bớt khổ, sống hòa bình với chủ thuyết Mác Lê-nin! Để làm điều đó, đồng chí Thảo tình nguyện “bắt rễ” tức là làm quen với gia đình đồng chí rồi sẽ giáo dục “quyền” và “lợi” của bần cố nông tham gia phong trào cải cách ruộng đất. “Quyền” là học cách hạch tội trừng trị những kẻ giầu có ăn trên ngồi chốc và “lợi” là đội viên sẽ được chia ruộng đất sau khi cách mạng đã tiếp thu hết tài sản của họ. Còn “xâu chuỗi” dụng ý kết nạp đồng chí vào “tổ đội viên đội cải cách” ở huyện này một khi đã biết đấu tố, hạch tội địa chủ trước phiên tòa nay mai. Đồng chí Thảo ở lại công tác rồi “báo cáo” cấp trên. Bây giờ tôi đi...

Lê Tư cứ ngẩn người tay ôm gói gạo và tiền của quan lớn vừa trao. Chuyện xảy ra như phép lạ nên chàng không giấu được niềm vui bởi chiều nay vợ đang ốm sẽ có cháo húp qua cơn đói và hai con sẽ được no bụng. Thoáng một giây, cảm thấy đôi chút xa lạ giữa hai người nên Thảo liền lên tiếng làm quen:

- Đồng chí tên gì?

- Dạ! Bẩm quan lớn, con tên là...

- Ấy chết! Bây giờ xin đừng dạ bẩm vào thưa nữa... Chúng ta là đồng bào cùng chí hướng vô sản nên gọi nhau “đồng chí”. Xã hội bình đẳng không còn giai cấp nên đồng chí cố tránh sử dụng những danh từ của bọn tư bản phong kiến khi xưa.

- Bẩm... Thưa ông vâng..

- Ơ hay! Đã bảo không bẩm không thưa nữa mà... Theo cách mạng, đồng chí đương nhiên trở thành một người mới.

- Khổ quá... Đầu của con chưa “nhất trí” ông ạ! Nghĩ một đàng lại nói một nẻo.

- Sao lại khổ? Được bình đẳng thì phải sướng chứ! Từ nay nhớ là không xưng “con” với bất cứ ai, xưng “tôi” để biểu lộ phẩm giá của mình trong mọi hoàn cảnh.

- Ấy chết! Chết.. chết... Quan có lỡ lời không? Gặp “bác Hồ kính yêu” bố bảo con cũng chả dám xưng “tôi” với “người”!

- Ơ..ơ... Tự kiểm.. tự kiểm... Ngoại lệ.. ngoại lệ... Đồng chí “cảnh giác” đúng nhưng phê bình nhé... cố mà bỏ chữ “quan” với “ông” đi! Đã nói xin nhắc lại chúng ta bây giờ là “đồng chí”.

- Dạ... vâng..

- Lại “dạ” với “vâng” rồi! Đồng chí phải ráng ý thức mới được. Cứ từ từ mà trả lời nhé... Này tôi hỏi lại: “Đồng. chí.. tên... gì?”

Nội dung chỉ có thế nhưng suốt cả buổi, triết gia ưu tú từng tốt nghiệp Trường Cao đẳng Sư phạm rue d Ulm lừng danh nước Pháp không sao thay đổi được thói quen đã “bắt rễ” vào tâm trí bần cố nông Lê Tư. Ở chàng nông dân ấy, khái niệm công lý tuy mù mờ có phần ù ù cạc cạc nhưng thâm tâm biết sợ sét đánh vì “trời quả báo” và tuy vô học lương tri bẩm sinh vẫn tiềm tàng để biết điều thiện điều ác khó lẫn lộn. Nếu triết gia tư tưởng Mác Ăng-gen này “bắt rễ” bần cố nông Lê Tư không xong thì “xâu chuỗi” cũng sẽ bất thành! “Sự cố” đã làm trí thức Trần Đức Thảo nao núng ngay trong ngày đầu công tác phát động cải cách. Thật phí cho thân phận của một khối óc siêu việt, một nhân tài nước Việt sau bao năm học hỏi thành danh vinh hiển ở phương Tây... Vì lòng ái quốc thúc đẩy về nước phụng sự lý tưởng nhưng tiếc thay cuộc đời mai một vì đã chọn lầm con đường tiến thân.

Chiều về chậm rãi trên nương... Mầu trời ráng cam mờ dần rồi tắt hẳn ở cuối chân mây, thôn quê thanh tịnh chỉ còn nghe xa vắng tiếng o nghèo giục giã về chuồng lẫn vào âm thanh tre trúc xào xạc theo cơn gió nhẹ buổi chiều nhưng khác với mọi lần bởi chiều nay khi nắng vừa nhạt cô thôn, nơi ở lều tranh của gia đình bần cố nông Lê Tư có khói lam bay ra từ phía bếp sau nhà... Vì sự hiện diện của khách lạ “tự ý mời đến chơi” nên mọi người may mắn ngồi quây quần bên nồi cơm nóng ở giữa có bát cà và đậu tương. Cảnh thôn quê ảm đạm dễ tạo tình thân nên sau bữa cơm, Thảo vào thẳng công tác “bắt rễ” dò hỏi:

- Đồng chí Lê Tư ơi! Liệu có “nhất trí” làm “đội viên cải cách” để trừng trị bọn địa chủ bóc lột nhân dân không?

Lê Tư giật mình với câu hỏi trực tiếp, đành phân trần “ba phải” cho vừa lòng ân nhân mới chia sẻ bữa ăn với gia đình.

- Ông ơi! Cháu là thằng vô học, ông bảo... Ấy chết! Khổ quá... Con xin nói lại... Tôi.. là... kẻ vô học nên cái đúng cái sai, hai cái nó lờ mờ lắm ông ạ! Ông bảo đúng thì nó đúng... Đồng.. chí... dạy sao thì con.. í... tôi... sẽ nói y như thế!

- Đồng chí có thấy nhân dân xã này căm thù bọn ác ôn đó không?

- Chả giấu gì ông, trong đám người mang ra xét xử, nhận xét t.ô..i... thấy chỉ một mình tên lý trưởng là có tội còn tất cả đều... oan hết! Dành dụm được ít gia tài nên mang tiếng địa chủ nếu chẳng may một đứa trong đội cải cách bịa chuyện hay thù hằn ganh ghét là chết nhưng thử hỏi có của cải nào từ trên trời rớt xuống đâu... họ cũng phải làm ăn khổ cực lắm mới có chút của ăn của để đấy chứ! Lúc trước, dân làng gặp nhau chào hỏi, mùa màng cần tá điền họ mướn ngay nhưng bây giờ nhìn nhau ai ai cũng sợ hãi như kẻ thù giai cấp. Đồng chí thông cảm cho vì cả tháng nay có đầy việc ngoài nương nhưng họ không dám thuê lao công, họ khổ nhưng chúng tôi còn khổ hơn. Thất nghiệp thì dĩ nhiên... đói! Cả nhà phải vào rừng kiếm ăn qua ngày.

- Vậy đồng chí sẵn sàng nhận lời làm “đội viên cải cách” để đấu tố bọn ác ôn chưa?

- Con.. ấy... t.ô..i... có biết gì về tội của chúng đâu? Hơn nữa tôi xin cố để đức lại cho con, chẳng nhẫn tâm giết hại người vô tội như thế! Tuy vô học nhưng tôi thờ Phật và tổ tiên trong đầu. Tôi tin trời có mắt, sáng suốt trừng phạt những kẻ gian dối. Nếu ai đã làm ác mà chưa trả kiếp này thì sẽ đền bù kiếp sau, chẳng thoát được đâu ông ạ!

- Nói thế, gián tiếp đồng chí bảo cán bộ cải cách làm điều xằng bậy à?

- Mấy ông cán bộ là người của cách mạng nên Đảng nói gì cũng như đinh đóng cột... Đúng họ nói sai, sai họ nói đúng và cả hai trường hợp đều “đúng” cả. “Vô tư” dân chỉ biết cúi đầu tuân thủ bởi có ai dám cãi lại đâu? Ở xứ này, sợ nhất hai tiếng phản động đấy.

- Đồng chí là nhân dân mà nhân dân đang làm chủ đất nước nên có quyền phê phán để cùng nhau tiến tới một xã hội ấm no, một thế giới đại đồng theo chủ nghĩa Mác Lê-nin không còn người bóc lột người.

- Quyền thì quyền, nó nằm trong sách vở ông ạ.. đồng chí ạ! Nếu kẻ nào dám lên tiếng chỉ trích Đảng lãnh đạo sai thì khổ ngay... Nặng thì bị thủ tiêu còn nhẹ là tội phản động sẽ chẳng bao giờ ngóc đầu lên được. Đồng chí giỏi thì cứ phê bình đi! Thử bảo họ ngưng những phiên tòa tàn ác giết người vô tội ấy xem nào? Đáng lý cách mạng cần đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân để chống ngoại xâm thì lại khơi mầm chia rẽ giai cấp vào ngay thời chiến khó khăn này.

Lão Lê Tư dừng bước, hình như đang nhớ ra điều gì quan trọng nên mặt ngước nhìn trời xanh, miệng lẩm bẩm một mình:

- Ừ nhỉ... Nhớ rồi! Nghe đồn ông trí thức ấy sau phiên tòa cải cách ở Chiêm Hóa đã thẳng thắn phản đối chính sách giết địa chủ ở mỗi xã theo tỷ lệ 5% dân số do cố vấn Tàu chỉ đạo mà “bác Hồ” bị áp lực phải cổ võ rồi giết cả ân nhân là bà Nguyễn Thị Năm... Lão tự hỏi chẳng biết có phải vì lão thách thức nên đồng chí Thảo đã phê phán lãnh đạo mà từ đó về sau bị Đảng nhẫn tâm trừ khử? Ông ta sống thì làm phận “cây cảnh” còn chết phải biệt xứ xa quê... cô đơn lìa đời bất ngờ một chiều tại Ba Lê?

Chậm rãi thế mà lão cũng đã đến ngã tư Hàng Bài, dọc bờ bên phải con đường Hàng Khay thấp thoáng Tháp Rùa ở giữa Hồ Gươm lóng lánh mầu nước xanh lục. Ngày xưa tên cũ là Hồ Thủy Quân, sau huyền thoại vua Lê Thái Tổ trả gươm báu cho thần rùa ở đây nên đặt là Hồ Hoàn Kiếm. Thanh gươm ấy vẫn nằm dưới đáy hồ, đợi thời thế một mai rùa vàng sẽ nổi lên trao cho bậc hiền tài để cứu đất nước này qua khỏi nạn Bắc thuộc lần thứ 5 kể từ Hội nghị Thành đô năm 1990. Lão theo dòng người vội vã qua đường rồi ngồi nghỉ chân trên ghế đá bên cạnh hàng liễu rủ bóng trên mặt hồ... Qua khỏi Bà Triệu và ngã tư Quang Trung là đến phố Tràng Thi. Tim lão đập dồn dập vì sắp đến nhà cái Thôn.

Khát nước quá lão định vào xin hụm nước lạnh ở một quán ăn bên đường nhưng lúc bước ngang mặt tiền của một nhà hàng sang trọng, lão giật mình vì vừa thấy đôi vai nhỏ với tấm lưng quen quen của người đàn bà đang ngồi. Ai như cái Thôn của lão? Tỉnh hay mơ thế nào... Chả lẽ cái Thôn bây giờ quý phái thế này sao? Con gái lão... cùng bàn với nó lại có đứa con trai thân hình béo tròn chừng 10 tuổi. Lão thắc mắc, đứng ngoài nhìn nghiêng qua khung kính thì đúng là cái Thôn! Gặp bất ngờ nên chỉ mình lão nhận diện nhưng tò mò xung quanh câu hỏi chưa rõ trắng đen nên lão lẳng lặng dò xem chuyện gì đang xảy ra nơi đây.

Trên bàn có ba bốn đĩa hải sản, thằng bé ngồi chéo chân rung đùi như ông lớn miệng nhai tay bóc vẻ ngon lành lắm! Nó ăn hết cá lại đến tôm, đồ xào đồ hấp con nào con nấy to bằng nửa cổ tay, vừa ăn vừa nhằn xương và vỏ vứt đầy mặt bàn. Thỉnh thoảng cầm đôi đũa gõ cạch cạch vào bát, lão lại thấy cái Thôn bới cơm cho nó. Cần món gì nó gõ đầu đũa vào chén đĩa đựng thứ đó, chỉ ra lệnh bằng mật hiệu không dùng lời... Muốn ăn món nào thêm cay bớt mặn thì nó cạch cạch là cái Thôn hiểu và gọi người bồi đến để dặn dò nấu theo đúng khẩu vị của nó. Cần khăn thì nó lấy bàn tay chùi phớt ngang miệng là cái Thôn đứng lên tìm mang đến. Cấp tốc thì gõ nhanh còn bình thường thì gõ nhẹ. Nó “hồ hởi” đánh chén tận tình còn cái Thôn chỉ ngồi xem! Khách quan nhìn tưởng bà ngồi bên đứa cháu bị câm điếc nhưng năm thì mười họa lỡ nó cất tiếng là phải có điều gì bực mình... Hóa ra cái Thôn ngồi đấy để trông chừng cậu Ấm con trời con Phật và đồ ăn ê hề nhưng nó có được thưởng thức miếng nào đâu?

Đại gia quan chức bố đẻ ra “đại gia con”. Điều đáng nói là thái độ của “quý tử” vừa nứt mắt mà vô tâm sống đời giai cấp trưởng giả như thế thì vài năm nữa xã hội này rồi sẽ ra sao? Ôi giai cấp! Cái này chết đi thì cái kia sinh ra nối tiếp nhau khác gì những bóng hình quay quanh chiếc đèn cù... Lão vẫn nghĩ người học cao hiểu rộng hay u mê “lú lẫn” như câu chuyện của nhân vật trí thức mà lão đã gặp năm xưa. Triết gia Trần Đức Thảo nổi tiếng phương Tây về duy vật biện chứng Mác Ăng-gen gặp chàng bần cố nông vô học Lê Tư ở huyện Chiêm Hóa năm 1953 nhằm mục đích cùng xóa bỏ giai cấp tư bản. Rõ ràng hai cuộc đời có hai tâm hồn ở hai thái cực, hai tư duy với hai trình độ cao thấp thật phân minh thế mà sau cùng những câu hỏi vẫn cần đặt ra: Ai đúng ai sai? Ai vô tội ai có tội? Ai thầy ai trò... nghi vấn lẫn lộn? Chỉ rõ một điều là cuộc đời của hai người dưới chế độ cộng sản: một trí thức đầy lương thiện và một thất học đầy lương tri đã cùng nằm chung một nùi rẻ rách!

Lão đưa tay lên mặt cố giấu nỗi nghẹn ngào... Tội nghiệp cái Thôn! Đứa con gái một đời nghèo khó giống cha nhưng vẫn ăn ở hiền lương để khỏi phụ ý trời: “hết cơn bỉ cực đến hồi thái lai” và chẳng ai sẽ “giầu ba họ khó ba đời”!

Lão tần ngần đứng trước cửa tiệm đợi cái Thôn, hình dung cảnh cha con lát nữa ôm nhau mừng sao kể xiết dù tâm tư lão băn khoăn chưa biết sẽ về đâu đêm nay? Bỗng nhận ra mùi hoa sữa theo luồng gió bay từ đầu phố Tràng Thi bay đến, lão hít một hơi đầy lồng ngực... Tuy tuổi già đường xa thấm mệt, lão vẫn thấy yêu đời khôn tả chẳng biết vì hương hoa quyến rũ hay vì sắp gặp lại cái Thôn? Có lẽ... cả hai bởi nó đã “bắt rễ” vào tâm thân lão mà không một chủ nghĩa nào có thể phủ nhận... Lão lẩm bẩm: càng học cao càng “lú lẫn” như ông Mác, ông Sartre... ông Trần Đức Thảo đã trăng trối cuối đời.

“Love and compassion are necessities, not luxuries. Without them, humanity cannot survive” Dalai Lama

25 / 9 / 2014

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Năm 17 tuổi, đang khi học thi tú tài, tôi bỗng nhiên bị suyễn. Căn bệnh này – vào cuối thế kỷ trước, ở miền Nam – vẫn bị coi là loại nan y, vô phương chữa trị. Từ đó, thỉnh thoảng, tôi lại phải trải qua vài ba cơn suyễn thập tử nhất sinh. Những lúc ngồi (hay nằm) thoi thóp tôi mới ý thức được rằng sinh mệnh của chúng ta mong manh lắm, và chỉ cần được hít thở bình thường thôi cũng đã là một điều hạnh phúc lắm rồi. If you can't breathe, nothing else matters!
Một người không có trí nhớ, hoặc mất trí nhớ, cuộc đời người ấy sẽ ra sao? Giả thiết người ấy là ta, cuộc đời ta sẽ như thế nào? Ai cũng có thể tự đặt câu hỏi như vậy và tự cảm nghiệm về ý nghĩa của câu hỏi ấy. Sinh hoạt của một người, trong từng giây phút, không thể không có trí nhớ. Cho đến một sinh vật hạ đẳng mà chúng ta có thể biết, cũng không thể tồn tại nếu nó không có trí nhớ. Trí nhớ, Sanskrit nói là smṛti, Pāli nói là sati, và từ Hán tương đương là niệm, cũng gọi là ức niệm, tùy niệm. Nói theo ngôn ngữ thường dùng hiện đại, niệm là ký ức. Đó là khả năng ghi nhớ những gì đã xảy ra, thậm chí trong thời gian ngắn nhất, một sát-na, mà ý thức thô phù của ta không thể đo được.
Ba mươi năm trước tôi là thành viên hội đồng quản trị của một cơ quan xã hội giúp người tị nạn trong khu vực phía đông Vịnh San Francisco (East Bay) nên khi đó đã có dịp tiếp xúc với người tị nạn Afghan. Nhiều người Afghan đã đến Mỹ theo diện tị nạn cộng sản sau khi Hồng quân Liên Xô xâm chiếm đất nước của họ và cũng có người tị nạn vì bị chính quyền Taliban đàn áp. Người Afghan là nạn nhân của hai chế độ khác nhau trên quê hương, chế độ cộng sản và chế độ Hồi giáo cực đoan.
Bà Merkel là một người đàn bà giản dị và khiêm tốn, nhưng nhiều đối thủ chính trị lại rất nể trọng bà, họ đã truyền cho nhau một kinh nghiệm quý báu là “Không bao giờ được đánh giá thấp bà Merkel”.
Hai cụm từ trọng cung (supply-side) và trọng cầu (demand-side) thường dùng cho chính sách kinh tế trong nước Mỹ (đảng Cộng Hòa trọng cung, Dân Chủ trọng cầu) nhưng đồng thời cũng thể hiện hai mô hình phát triển của Hoa Kỳ (trọng cầu) và Trung Quốc (trọng cung). Bài viết này sẽ tìm hiểu cả hai trường hợp. Trọng cung là chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hoà từ thời Tổng Thống Ronald Reagan nhằm cắt giảm thuế má để khuyến khích người có tiền tăng gia đầu tư sản xuất. Mức cung tăng (sản xuất tăng) vừa hạ thấp giá cả hàng hóa và dịch vụ lại tạo thêm công ăn việc làm mới. Nhờ vậy mức cầu theo đó cũng tăng giúp cho kinh tế phát triển để mang lại lợi ích cho mọi thành phần trong xã hội. Giảm thuế lại thêm đồng nghĩa với hạn chế vai trò của nhà nước, tức là thu nhỏ khu vực công mà phát huy khu vực tư.
Gần đây, chỉ một tấm ảnh của nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ – Nicole Gee – ôm em bé người Afghan với thái độ đầy thương cảm thì nhiều cơ quan truyền thông quốc tế đều phổ biến và ca ngợi! Nhân loại chỉ tôn trọng sự thật, trân quý những tâm hồn cao thượng và những trái tim biết rung động vì tình người – như nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ, Nicole Gee – chứ nhân loại không bao giờ thán phục hoặc ca ngợi sự tàn ác, dã man, như những gì người csVN đã và đang áp đặt lên thân phận người Việt Nam!
Tôi vừa mới nghe ông Trần Văn Chánh phàn nàn: “Cũng như các hội nghề nghiệp khác, chưa từng thấy Hội nhà giáo Việt Nam, giới giáo chức đại học có một lời tuyên bố hay kiến nghị tập thể gì liên quan những vấn đề quốc kế dân sinh hệ trọng; thậm chí nhiều lần Trung Quốc lấn hiếp Việt Nam ở Biển Đông trong khoảng chục năm gần đây cũng thấy họ im phăng phắc, thủ khẩu như bình…”
Thế giới chưa an toàn và sẽ không an toàn chừng nào các lực lượng khủng bố trên thế giới vẫn còn tồn tại, một nhà báo, cựu phóng viên đài VOA từ Washington D.C. nói với BBC News Tiếng Việt hôm thứ Năm. Sự kiện nước Mỹ bị tấn công vào ngày 11 tháng 09 năm 2001 đã thức tỉnh thế giới về một chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan đang tồn tại trong lòng các nước Trung Đông. Giờ đây, sau 20 năm, liệu người Mỹ có cảm thấy an toàn hơn hay họ vẫn lo sợ về một cuộc tấn công khủng bố khác trên đất nước Hoa Kỳ hay nhằm vào công dân Mỹ ở nước ngoài.
Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, những kẻ khủng bố Hồi giáo thuộc tổ chức mạng lưới Al-Qaida đã dùng bốn phi cơ dân sự làm thành một loại vũ khí quân sự để tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới ở New York và Lầu Năm Góc ở Washington D.C. Các sự kiện không tặc loại này là lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh của nhân loại và đã có hậu quả nghiêm trọng nhất trong lịch sử cận đại.
Thứ Bảy, ngày 11/09/2021, nước Mỹ tưởng niệm 20 năm vụ tấn công khủng bố thảm khốc nhắm vào tòa tháp đôi World Trade Center ở New York, bộ Quốc Phòng Mỹ ở gần Washington và ở Shanksville tại Pennsylvania. Gần 3.000 người chết, hơn 6.000 người bị thương. Hai mươi năm đã trôi qua, vẫn còn hơn 1.000 người chết đã không thể nhận dạng. Chấn thương tinh thần vẫn còn đó. Mối họa khủng bố vẫn đeo dai dẳng. Lễ tưởng niệm 20 năm vụ khủng bố gây chấn động thế giới diễn ra như thế nào, nhất là trong bối cảnh Hoa Kỳ triệt thoái toàn bộ binh sĩ khỏi Afghanistan sau đúng 20 năm tham chiến ? Mời quý vị theo dõi cuộc phỏng vấn với nhà báo Phạm Trần từ Washington.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.