Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Về Ý Nghĩa Của Mục Tiêu Thoát Khổ Trong Đạo Phật

12/08/201400:00:00(Xem: 2090)

Chúng ta thường nghe: “Mục tiêu chính của Đạo Phật là thoát Khổ, giác ngộ, và giải thoát.” Thực ra, cả ba ý nghĩa của mục tiêu này đều rốt ráo qui về một, nói đến một mục tiêu là đã hàm ý cả hai cái kia. Trong phạm vi bài viết này, chúng ta sẽ khai triển mục tiêu thứ nhất tức là "Thoát Khổ."

Trước hết, chúng ta hãy chú tâm, lắng lòng nghe lại lời di huấn về mục đích duy nhất của 49 năm thuyết pháp của đức Thế Tôn: "Ví như nước biển chỉ có một vị mặn, Pháp của ta thuyết ra chỉ có một vị là vị Giải Thoát." (1)

Ở đây, chúng ta xin nêu ra hai câu hỏi để cùng nhau suy nghiệm lời di huấn trên:

1. Thế nào là thoát?

2. Thế nào là Khổ?

Thế nào là thoát? - "Thoát," bản chất là một "sự vượt qua" một "giới hạn nào đó" để đến một trạng thái "hoàn toàn tự do". Như vậy được gọi là “thoát.” Đó là ý nghĩ của “sự thoát ra,” trong đó bao gồm ba yếu tố chính: một sự vượt qua, một giới hạn nào đó, và một trạng thái hoàn toàn tự do. Chúng ta sẽ trở lại ý nghĩa của “sự thoát ra” này sau khi khảo sát tướng trạng và nguyên nhân của Khổ.

Thế nào là Khổ? - Khi nói về "Khổ", thì chúng ta ai cũng có thể hình dung, cảm nhận được, ai cũng có thể cho ví dụ được, hoặc dễ dàng kể ra được nỗi Khổ riêng của mình; tuy nhiên, khi được hỏi định nghĩa về Khổ thì đa số chúng ta vẫn còn mơ hồ.

Ở đây, câu hỏi nêu ra là định nghĩa về Khổ, không phải ví dụ về Khổ. Chúng ta cần xác định rõ ràng điều gì là mẫu số chung trong tất cả các tướng trạng của các nỗi Khổ trong thế gian. Muốn giải quyết triệt để một vấn đề gì, việc cần làm trước nhất và quan trọng nhất là phải hiểu rốt ráo khái niệm và ý nghĩa của vấn đề đó. Đó là nguyên tắc giải quyết bất cứ vấn đề nào trong thế gian, bao gồm vấn đề quan trọng nhất của nhân sinh, tức là Khổ.

Đức Phật Thích Ca đã nhận diện và xác định vấn đề nầy một cách thấu suốt, rốt ráo khi Ngài chứng nghiệm các tướng trạng căn bản của Khổ (già, bệnh chết) ở các cửa thành. Sau đó, Ngài quyết tâm giải quyết triệt để vấn đề này bằng cách tự tu, tự chứng. Sau khi tự tu, tự chứng, đức Thế Tôn vì thương xót chúng sanh còn chìm ngập trong biển Khổ nên Ngài đã chuyển pháp luân, công bố giải pháp triệt để chấm dứt vấn nạn lớn nhất của nhân thế. Đó là nhân duyên ra đời của Tứ Diệu Đế. Với lòng tri ân vô tận đối với vị Phật lịch sử, chúng ta cùng nhau trước đèn lần giở lại trang kinh xưa để tìm hiểu về giải pháp chấm dứt Khổ Uẩn, tức là Tứ Diệu Đế.

Trong bài kinh Vô Ngã Tướng, đức Thế Tôn trước hết cho ví dụ về 12 tướng trạng đưa tới sự cảm nhận "Khổ". Sau đó, đức Thế Tôn mới đưa ra định nghĩa rất thâm sâu và rõ ràng về nguồn gốc của "Khổ". Định nghĩa này xác định và nhận diện tính chất căn bản của tất cả các tướng trạng của Khổ, nguyên văn như sau:

"Đây là Thánh đế về Khổ, này các Tỷ-kheo. Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu, bi,khổ, ưu, não là khổ, oán gặp nhau là khổ, ái biệt ly là khổ, cầu không được là khổ. Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ." (2)

Câu định nghĩa này rất quan trọng: “Năm thủ uẩn là khổ”. Nói rộng ra, điều đó có nghĩa là:

“Chấp thủ nơi năm uẩn mà cho đó là Ta, thuộc về Ta, là tự ngã của Ta, thì đó là Khổ.”

Nó diễn đạt rõ ràng sự thật thứ nhất trong Tứ Diệu Đế. Chúng ta cần thấu hiểu định nghĩa này một cách thật rõ ràng rốt ráo. Muốn vậy, chúng ta nhắc lại ở đây cấu trúc câu thường được Đức Thế Tôn sử dụng khi trình bày Tứ Diệu Đế:

1. Đây là Khổ

2. Đây là Khổ Tập

3. Đây là Diệt

4. Đây là Đạo.

Chúng ta hãy chú tâm đến cấu trúc câu được lập lại nhiều lần này: "Đây là X.” Tứ Diệu Đế khi được trình bày rõ ràng và đầy đủ, thì nhất thiết phải có cấu trúc “Đây là X” này. Chúng ta không nên trình bày theo kiểu liệt kê và giản lược rằng: “Tứ Diệu Đế bao gồm Khổ, Tập, Diệt, Đạo.” Vì sao? - Vì khi nói giản lược như vậy, ta không những nói sai với nguyên bản kinh văn mà còn làm mất đi ý nghĩa tinh túy của Pháp thực hành khi ta dụng công tu tập theo tinh thần của Tứ Diệu Đế.

Bây giờ chúng ta sẽ khảo sát cấu trúc trình bày “Đây là X,” vì ý nghĩa của cấu trúc này phản ảnh bản chất tinh túy của pháp hành trì. Bản chất của cấu trúc “Đây là X” mang ý nghĩa rằng: việc nhận thức là một hành động nhận-diện-trực-tiếp (directly identify, instinctively recognize). Nó đòi hỏi yếu tố X phải là "cái-đang-là," tức là cái thực-tại-hiện-tiền, hay cái bây-giờ-và-ở-đây.

Một ví dụ cụ thể để nói lên cái tinh yếu của cấu trúc “Đây là X”: Khi chúng ta muốn giới thiệu ông A với một nhóm bạn, chúng ta chỉ có thể dùng cấu trúc câu: “Thưa các bạn, đây là ông A,” nếu và chỉ nếu như ông A đang thực sự có mặt trước chúng ta. Nếu ông A không hiện diện vào lúc đó thì chúng ta không thể nào giới thiệu ông A bằng cách sử dụng cấu trúc câu “Đây là ông A” được.

Tương tự như thế khi chúng ta giới thiệu một pháp nào đó với cấu trúc câu “Đây là X” cho chính tâm thức của chúng ta nhận diện và tu tập, điều này có nghĩa là ngay trong sát na đó tâm ta đang hiện diện để quan sát như thật thực-tại-X (có như lý tác ý, Pali. yoniso manasikara). Nói cách khác, ngay trong sát na đó tâm đang-là-một với thực-tại-X. Ta gọi sát na đó là một thực-tại-tâm-pháp; nó được biểu hiện ra là một đơn-niệm-biết. Điều này thực sự cần thiết cho khả năng nhận diện của tâm thức: “Đây là X” một cách chính xác theo đúng quy ước của thế gian. Nói cách khác, lúc đó tâm đã “vận hành” theo đúng chức năng nhận diện của nó, tâm đã trở về nhà và “an trú” ngay trên trú xứ của chính nó, tức là cái thực-tại-hiện-tiền của 18 giới (sáu căn, sáu trần, sáu thức.)

Ngược lại, ngay bây giờ khi bạn đang đọc những dòng chữ này, nếu tâm thức bạn không có cảm nhận tướng trạng Khổ, thì bạn không thể nói rằng: “Đây là Khổ” được. Tuy nhiên, tri thức bạn nãy giờ vẫn theo dõi các dòng chữ và thấu hiểu rõ ràng những gì đang được trình bày và ghi nhận tính chất hợp lý của cách trình bày này trong ký ức. Chính sự ghi nhận tính chất hợp lý này sẽ là nền tảng giúp bạn dễ dàng trực nhận ra “Đây là Khổ” một khi bạn thực sự trong trạng thái Khổ. Việc nhận ra này (instinctively recognize) lúc đó sẽ xảy ra vì có sự thấu hiểu hợp lý (logically understand) làm nền tảng.

Như thế, phương pháp thực hành thiền với trí tuệ là: ngay khi ta đang Khổ, hãy trực nhận "Đây là Khổ"; cùng lúc đó, ta thấy rõ ràng như thật với trí tuệ rằng ta đang Khổ vì có sự-chấp-thủ nơi năm uẩn và cho đó là Ta, thuộc về Ta, là tự ngã của Ta. Sự trực nhận đó là chức năng của "Như Thật Tuệ Tri" của Phật giáo Nguyên Thủy (Pali. yathabhuta pajanati.)


Đối với người đó, sự thật vi diệu thứ nhất, tức là Khổ Đế được phơi bày rõ ràng không che dấu. Vấn nạn lớn nhất của nhân sinh đã được phơi bày. Vì sao? Vì người đó đã thành tựu “như lý tác ý” và “như thật tuệ tri”: "Đây là Khổ." Đây là chánh kiến vững chắc đầu tiên trên con đường tâm linh vì vị ấy đã nhận ra vấn đề căn bản cần giải quyết bằng Trí Tuệ của chính vị ấy: “Đây Là Khổ.”

Nói tóm lại, ý nghĩa tinh túy của 2 chữ “Đây là” trong sự thật thứ nhất “Đây là Khổ” chính là sự trực nhận của chức năng “Như Thật Tuệ Tri.” Tác nhân của nó là “Như lý tác ý”. Kết quả của nó là sự thành tựu chánh kiến về sự thật vi diệu thứ nhất: Khổ Đế.

Cũng theo nguyên tắc tương tự đối với sự thật thứ hai: “Đây là Khổ Tập”; bất cứ khi nào, chúng ta nhận thấy tâm chúng ta đang có phản ứng thích thú muốn duy trì các cảm thọ lạc trong tâm, hay móng tâm xua đuổi các cảm thọ Khổ, thì ngay lúc đó, chúng ta cần như-thật-tuệ-tri: "Đây là Khổ Tập".

Vì sao nói thói quen hay phản ứng Tâm trước các cảm thọ (thọ lạc, thọ Khổ, thọ bất lạc bất Khổ) chính là nguyên nhân của Khổ, tức là Khổ Tập?

- Vì trong kinh Phật dạy: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy (nằm) trong đau khổ. Chính vì liên hệ đến tánh vô thường, tánh đoạn tận, tánh tiêu vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến hoại của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy (nằm) trong đau khổ.” (3)

Bản chất tinh túy của sự nhận ra “Đây là Khổ Tập” chính là sự nhận ra một thói quen rất căn bản: Thói quen phản ứng của Tâm trước ba loại cảm thọ. Nhưng các thọ là vô thường và thường được Phật ví như bong bóng nước chỉ tạm có trong chốc lát do duyên xúc chạm của sáu căn và sáu trần mà thôi. Thói quen phản ứng lại cái gì vô thường hay chấp rằng nó là Ta, thuộc về Ta, là Tự Ngã của Ta thì chắc chắn sẽ mang đến đau Khổ. Thói quen này đã bị huân tập từ vô lượng kiếp nên rất khó bỏ, nếu không có sự tu tập có hệ thống với sự dự phần của Trí Tuệ.

Khi thói quen cũ hay phản ứng Tâm này bị nhận ra một cách trực tiếp trong trạng-thái-đang-là của chính nó bằng năng lực của như-thật-tuệ-tri: “Đây là Khổ Tập,” nó sẽ mất dần quán tính, không lôi kéo ta theo đường cũ được nữa.

Thực hành như vậy thường xuyên, ta sẽ huân tập được thói quen mới. Thói quen này chính là điều ngược lại với định nghĩa về Khổ. Tức là thói quen: KHÔNG chấp thủ nơi năm uẩn mà cho đó là Ta, thuộc về Ta, là tự ngã của Ta.

Khi thói quen này được tu tập viên mãn, hành giả kiểm chứng lại Tâm mình xem các đam mê nghiền ghiện đã sạch hết chưa, tham sân si có còn chi phối tâm hay không? Nếu thực sự là không thì cần phải xác định và nhận diện rõ ràng: "Đây là Diệt". Tiến trình này đòi hỏi sự kiên nhẫn và tinh tấn cùng với trí tuệ.

Bản chất tinh túy của hai chữ “Đây là” trong Diệt Đế chính là sự tu tập và thâm-chứng trạng thái Diệt tức là Niết Bàn. Ở đây cần nói rõ cái gì Diệt? Không phải thế giới hiện tượng diệt, mà là thói quen, tập quán cũ: Diệt - tham, sân, si diệt; khát ái và vô minh diệt.

Sau khi tự thân thâm chứng trạng thái Diệt, hành giả phản chiếu lại con đường mà mình đã đi qua nhờ đó có kinh nghiệm trực tiếp và nhận diện một cách rõ ràng rốt ráo trạng thái "Đây là Diệt." Hành giả khởi tâm từ bi đối với tất cả chúng sanh, vì chúng sanh còn lăn trôi trong dòng đau Khổ mà nói lên con đường thoát Khổ. Vị ấy sẽ tùy cơ thuyết Pháp theo tinh thần chỉ thẳng, rõ ràng, không có gì huyền bí: "Đây là Đạo," tức là con đường thánh đạo (bát chánh đạo,) tám ngành khởi lên từ Chánh Kiến về vấn nạn lớn nhất của kiếp nhân sinh: Khổ Đế.

Bản chất tinh túy của hai chữ “Đây là” trong Đạo Đế, là sự phơi bày, bộc lộ, chói sáng, không dấu diếm và có tính chất khoa học triệt để của Chánh Pháp (Pali: Sanditthiko; English: Self-evident; immediately apparent; visible here-and-now). Trong đó, sự phơi bày “Đây là Đạo,” lấy từ bi và trí tuệ làm phương thức thể hiện và sự thâm chứng Diệt Đế làm nền tảng.

Tóm lại, với cấu trúc “Đây là X”, bốn sự thật của quy ước thế gian, được đức Thế Tôn chuyển Pháp Luân một cách thiện xảo. Ý nghĩa tinh túy của từng cấu trúc “Đây là X” có sự khác biệt rất vi tế từ Khổ Đế cho tới Đạo Đế. Chúng ta tóm tắt các ý nghĩa chính yếu như sau:

1. “Đây là Khổ” mang ý nghĩa như thật tuệ tri vấn đề lớn nhất của kiếp nhân sinh.

2. “Đây là Khổ Tập” mang ý nghĩa như thật tuệ tri một thói quen rất căn bản: Thói quen phản ứng của Tâm trước ba loại cảm thọ. Nhờ trí tuệ này ta thực hành thói quen mới, tức là: Thọ biết, mà không dính mắc, không phản ứng tâm trước ba loại cảm thọ.

3. “Đây là Diệt” mang ý nghĩa như thật tuệ tri về một trạng thái Diệt, cũng chính là Niết Bàn. Ý nghĩa của Diệt vừa là phương tiện (hiểu theo ý nghĩa Diệt là một chủ đề để dụng công) vừa là cứu cánh của Pháp hành trì. “Đây là Diệt” lấy sự kiên trì, tinh tấn, tự tu, tự chứng làm nền tảng.

4. “Đây là Đạo” mang ý nghĩa sự phơi bày bộc lộ chói sáng không dấu diếm và khoa học triệt để của Chánh Pháp. Nó lấy từ bi và trí tuệ làm phương tiện, lấy sự thâm chứng trạng thái Diệt của Diệt Đế làm nền tảng.

Đó là con đường tu tập theo tinh thần Tứ Diệu Đế, được đức Thế Tôn chuyển Pháp Luân cho chúng ta hơn 2500 năm trước, nhằm một mục đích duy nhất được tiết lộ trong lời di huấn của Ngài: "Ví như nước biển chỉ có một vị mặn, Pháp của ta thuyết ra chỉ có một vị là Thoát Khổ."

Chúng ta vừa cùng nhau khảo sát tướng trạng, nguyên nhân, và phương pháp thực hành để giải quyết vấn đề Khổ. Bây giờ chúng ta cùng nhìn lại và ghi nhận ý nghĩa của 3 thành phần căn bản trong "Sự Vượt Thoát": “Thoát," bản chất là một "sự vượt qua" một "giới hạn nào đó" để đến một trạng thái "hoàn toàn tự do."

- "Sự vượt qua" ở đây chính là sự tinh tấn thực hành Pháp để vượt qua quán tính, thói quen của tâm thức cũ.

- Một "giới hạn nào đó" chính là "Cái Ta," tức là sự chấp thủ nơi năm uẩn mà ta cho đó là Ta, thuộc về Ta, là tự ngã của Ta. Cái Ta, chính là nguyên nhân của sự giới hạn. Cái Ta cần phải nhận rõ như là một ảo tưởng và được vượt qua bằng Trí Tuệ.

- Trạng thái "hoàn toàn tự do" - Chính là trạng thái "Diệt" trong “Đây là Diệt,” cũng được gọi là Niết Bàn.

Đó chính là ý nghĩa của sự thoát Khổ trong Đạo Phật.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Chú Thích Trích Dẫn các Kinh:

(1) Kinh A-Tu-La Pahàràda, Tăng Chi Bộ Kinh (IX) (19)

(2) Kinh Chuyển Pháp Luân, Tương Ưng Bộ Kinh (S.v,420)

(3) Kinh Sống Một Mình, Tương Ưng Bộ Kinh (S.iv,216)

Ý kiến bạn đọc
12/08/201415:53:54
Khách
Khi đã nhận ra một câu nói là tối nghĩa, thì không có gì sai khi giải thích thêm câu nói đó. Ông Tô Đăng Khoa đã giải thích "Năm thủ uẩn là khổ" có nghĩa là "Chấp thủ nơi năm uẩn mà cho đó là Ta, thuộc về Ta, là tự ngã của Ta, thì đó là Khổ".
(tiếp)

Tôi cho rằng câu "ngũ uẩn là khổ" là câu có vấn đề, nhưng tôi không đồng ý với lời giải thích của ông Tô Đăng Khoa, mà tôi nói như vầy:

Đời là bể khổ. Nhân thế là bể khổ. Con người sống trong nhân gian không khác gì cá sống trong nước. Nói đến cá là nói đến nước. Cá liền với nước. Nói đến người là nói đến đời, người liền với đời. Người bị dính chặt với nhân thế, dính chặt với bể khổ. Một câu trong bài kinh Chuyển Pháp Luân, được viết là "Năm uẩn là khổ", như vậy, có nghĩa là "Chúng sanh là đang lặn hụp, đang chìm đắm trong bể khổ". Giải thích như vầy thì hoàn toàn phù hợp với nhân sinh quan "Đời là bể khổ" của Phật Giáo, và cũng không trái với Bát Nhã Tâm Kinh.

Kinh điển Phật Giáo đã được kết tập từ mấy ngàn năm trước, chuyện tam sao thất bản, thiếu thừa vài từ ngữ là chuyện hoàn toàn có thể xảy ra. Xin hãy dựa vào kinh điển để làm sáng tỏ kinh điển.
12/08/201415:30:40
Khách
(tiếp)
Câu kinh nào có vấn đề?

Câu kinh trong Bài Chuyển Pháp Luân, được bắt đầu bằng chuyện Sanh Lão Bệnh Tử là KHỔ, rồi nối kết bằng câu "Năm thủ uẩn là khổ". Sanh Lão Bệnh Tử là những ngôn từ mô tả những tính trạng có trong một kiếp sống của một người. Còn năm uẩn là năm yếu tố phối hợp nhau để thành một con người sống. Để dễ hình dung, chúng ta mượn một chiếc xe để so sánh:
Chạy êm, chạy giật,... là các tính trạng của một chiếc xe; còn sườn xe, động cơ, bánh xe,.. là các thành tố phối hợp nhau để tạo thành chiếc xe. Giửa 'tính trạng' và 'thành tố' có một khỏang cách không nhỏ. Từ chuyện Sanh Lão Bệnh Tử là Khổ, mà kết luận rằng Ngũ uẩn là Khổ, thì kết luận này không êm ái. Ông Tô Đăng Khoa đã không sai, nếu như ông ta đã nhận ra chuyện "ngũ uẩn là khổ" là tối nghĩa.
12/08/201415:15:25
Khách
Ông Tô Đăng Khoa viết:<<
Đây là Thánh đế về Khổ, này các Tỷ-kheo. Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu, bi,khổ, ưu, não là khổ, oán gặp nhau là khổ, ái biệt ly là khổ, cầu không được là khổ. Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ."

Câu định nghĩa này rất quan trọng: “Năm thủ uẩn là khổ”. Nói rộng ra, điều đó có nghĩa là:

“Chấp thủ nơi năm uẩn mà cho đó là Ta, thuộc về Ta, là tự ngã của Ta, thì đó là Khổ.”
>>

Tại sao ông Tô Đăng Khoa lại mở rộng và giải thích câu "Năm thủ uẩn là khổ" thành “Chấp thủ nơi năm uẩn mà cho đó là Ta, thuộc về Ta, là tự ngã của Ta, thì đó là Khổ.” ?

Có phải là ông Tô Đăng Khoa đã nhận định rằng câu "Năm thủ uẩn là khổ" là có phần tối nghĩa, nên ông ta đã giải thích thêm câu này?

Câu "Năm thủ uẩn là khổ" được chú thích là trong bài kinh Chuyển Pháp Luân. Ngoài bài kinh này, có bài kinh nào khác cũng ghi như vậy? Kinh điển Phật Giáo trùng điệp, tôi không biết là có một bài kinh nào khác cũng viết như vậy không, như tôi biết chắc là có một bài kinh không viết như vậy. Đó là bài Bát Nhã Tâm Kinh. Bài Tâm Kinh Bát Nhã viết là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức thị KHÔNG, và bên cạnh bài kinh Bát Nhã, chúng ta còn nghe được câu "Ngũ Uẩn giai KHÔNG".

KHÔNG và KHỔ là hai khái niệm khác nhau. Chúng không đồng nhất với nhau. Như vậy, một trong hai câu kinh là có vấn đề.
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Năm 2012, 8 quốc gia trong khu vực châu Á Thái Bình Dương đang cùng Hoa Kỳ thương lượng Hiệp Định Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) thì cũng bắt đầu thương thuyết Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) với Trung cộng.
Bà chị đi lấy chồng vào đúng lúc tôi chia tay với cá, chim, dế, diều, bông vụ, nút phéng, giây thung, ná cao su, bong bóng … Giã từ tuổi thơ (adieu, những đứa bạn của thưở ấu thời) cùng những buổi chiều sôi nổi: tạt lon, dích hình, bắn bi, rượt bắt cứu tù, rồng rắn lên mây, và những đêm chơi năm mười bịt mắt mãi trốn tìm.
Trung Quốc tuy theo mô hình Tư Bản Nhà Nước nhưng ngân sách chính thức của nhà cầm quyền tính theo GDP lại thấp hơn nhiều so với các nước Âu-Mỹ [1] Bài viết này nhằm tìm hiểu nguyên nhân của mâu thuẩn đó.
Trong những trang sổ tay trước, chúng tôi đã có dịp đề cập đến vài mảnh đời lưu lạc của đồng bào H’mong đến từ Mường Nhé. Những dòng chữ còn lại của S.T.T.D hôm nay xin được dành riêng cho những đồng bào Thượng đi từ Tây Nguyên mà chúng tôi đã có dịp tiếp chuyện – nhiều lần – ở ven đô Bangkok.
Hôm nay 24/11/20, theo tin AFP, ông TT.Trump bật đèn xanh cho ông Joe Biden đắc cử Tổng thống trong cuộc bầu cử hôm 3/11 tiếp cận chương trình chuyển giao quyền lực tuy ông Trump vẫn chưa thừa nhận sự thắng cử của ông Biden.
Trước hết chúng ta hãy biết ơn chính nền dân chủ. Trong mùa bầu cử này, chúng ta đã thấy những con số kỷ lục về số người Mỹ thực hiện quyền thiêng liêng nhất của họ, đó là quyền bỏ phiếu để bày tỏ ý nguyện của họ qua lá phiếu. Hơn 150 triệu người đã đi bỏ phiếu. Đó là điều phi thường. Nếu quý vị muốn biết điều gì đang đập tận trong trái tim nước Mỹ thì đó là nền dân chủ.
Qua bao nhiêu mùa lễ Tạ Ơn trên đất Hoa Kỳ, năm nào tôi cũng thầm tạ ơn đất nước này đã cho tôi một nếp sống tự do, một mái nhà ấm cúng dung dưỡng gia đình tôi từ ngày tôi rời Việt Nam. Năm nay là lần đầu tiên tôi nghĩ mình nên trải lòng biết ơn sâu xa này xuống mà nói thành lời. Nguyên nhân chính có lẽ vì biến cố đại dịch và sự mâu thuẫn chính trị của nước Mỹ tác động mạnh đến tôi và cuộc sống của triệu triệu người dân.
Xét lại lịch sử đảng, bài học hàng hàng lớp lớp Thanh niên-Trí thức đã xếp bút nghiên theo tiếng gọi kháng chiến chống Pháp giàng độc lập trước 1945, để sau này phải hối hận vì đã sai lầm để cho đảng Cộng sản cướp công kháng chiến, biến hành động gọi là Cách mạng tháng Tám thành bệ phóng cho đảng lên nắm quyền cai trị độc tài Cộng sản.
Số dân Việt Nam đang trôi nổi ở xứ Chùa Tháp thì không. Họ là thứ sắc dân vô tổ quốc (stateless ethnic Vietnamese, theo như cách gọi chính thức của các N.G.O đang hoạt động ở Cambodia) nên không có quyền sở hữu tài sản hay đất đai, và buộc phải chấp nhận một nếp sống rất bồng bềnh, và vô cùng bấp bênh – như hiện cảnh.
Một vài ghi chép lại trong nhiều tháng qua là như vậy. Câu chuyện về những người Việt ủng hộ Trump và chống Trump sẽ vẫn kéo dài thêm một thời gian nữa. Nó sẽ khép lại, hay mở rộng thêm còn tùy vào nghiệp lực của nước Mỹ, của cộng đồng người Việt ở Mỹ. Qui luật nhân quả vẫn sẽ vận hành như một qui luật muôn đời của vũ trụ.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
Người Việt Phone
Bầu trời chứa đầy khí phát sáng mờ mờ ảo ảo, dù có thể dùng camera nhạy sáng cao và kính viễn vọng để quan sát.
Giá Bitcoin đã thiết lập một kỷ lục mới khi hàng tỷ USD được các nhà đầu tư tổ chức rút khỏi thị trường vàng, làm dấy lên một cuộc tranh luận gay gắt về việc liệu có một ngày Bitcoin trở thành đối thủ của vàng trên cương vị một kênh đầu tư để chống lạm phát.
Hiện có khoảng 2,800 vệ tinh đang hoạt động xung quanh Trái đất. Tuy nhiên, con số vẫn chưa là gì so với số lượng vật thể không còn hoạt động – hay còn gọi là ‘rác không gian’ – đang quay quay hành tinh chúng ta.
Samsung được cho là sẽ ngừng sản xuất dòng điện thoại Galaxy Note của mình vào năm 2021, phản ánh nhu cầu điện thoại thông minh cao cấp bị sụt giảm mạnh do đại dịch Covid-19.
Chánh văn phòng Nhà Trắng Mark Meadows đã triệu tập Stephen Hahn, giám đốc Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA), để chất vấn việc cơ quan không đẩy nhanh quá trình cấp phép cho vaccine Covid-19 của Pfizer.