Hôm nay,  

Trang Sử Việt: Trần Huyền Trân Công Chúa

29/07/201400:00:00(Xem: 4391)

Nguyễn Lộc Yên
(Lời tâm tình: Bài viết về “Sử Việt-Đất Việt” chỉ khái quát, không đi sâu từng chi tiết của đề tài. Cuối mỗi bài viết, phần “Thiết nghĩ” nếu có chỉ là góp ý của tác giả, không ngoài mục đích làm sáng tỏ thêm về nội dung đã biên soạn. Trang “Sử Việt-Đất Việt” được đăng hằng tuần, luôn mong mỏi nhúm nhen tình tự dân tộc, niềm yêu thương quê hương và giữ gìn Việt ngữ cùng văn hóa Việt.)
________________

TRẦN HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA
(1287 - 1340)

Trần Huyền Trân là con gái của Trần Nhân Tông, em Trần Anh Tông. Năm 1301 (Tân Sửu), có phái bộ Chiêm Thành sang giao hảo, mời Thượng hoàng Nhân Tông qua thăm Chiêm Thành. Trần Nhân Tông cùng phái đoàn, đến ở tại cung điện vua Chế Mân (Jaya Sinhavarman III) của Chiêm, lại hứa gả Công chúa Huyền Trân cho Chế Mân dù vua Chiêm lúc đó đã có hoàng hậu Tapasi, người xứ Java. Chế Mân sai Chế Bồ Đài dâng vàng bạc để xin cưới Huyền Trân. Quần thần trong triều phản đối, chỉ có Văn Túc vương Đạo Tái và Trần Khắc Chung đề nghị tiến hành. Năm 1306, Chế Mân lại đem hai châu Ô, Rí (Lý) vùng đất từ bờ Nam sông Hiếu, Quảng Trị đến bờ Bắc sông Thu Bồn, Quảng Nam, dâng Đại Việt để làm lễ cưới. Vua thấy thành ý vua Chiêm như vậy, nên chấp thuận đưa Huyền Trân về Chiêm Thành.

Công chúa bất đắc dĩ phải tuân mệnh cuộc quốc hôn có ảnh hưởng đến mở mang đất nước. Công chúa buồn bã từ giã người thân và quê hương, đến phương Nam xa lạ. Huyền Trân về Chiêm, được phong làm hoàng hậu Paramecvari, ở Chiêm được 11 tháng, thì sinh hoàng tử Chế Đa Đa vào tháng 5; sau đấy một tháng là tháng 6-1307, thì vua Chế Mân băng hà. Tương truyền theo phong tục của Chiêm Thành thì Hoàng hậu Huyền Trân phải lên hoả đàn tuẫn tang, để chôn chung với vua vừa mất. Tháng 10 năm 1307, vua Trần Anh Tông sai Trần Khắc Chung và Đặng Văn, đưa quân đến Chiêm Thành điếu tang, nhân dịp tìm cách cứu Công chúa. Quan nhà Trần lập kế, đề nghị đưa Công chúa ra bờ biển để chủ lễ tế vua Chiêm, rồi mới hoả thiêu. Trần Khắc Chung dùng thuyền đã dự trữ đầy đủ thực phẩm và đồ uống, bất ngờ cướp sống Công chúa chạy ra biển. Đến tháng 8 năm 1308 (gần một năm) mới về đến Thăng Long. Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư thì Trần Khắc Chung và Huyền Trân đã tư thông với nhau?.

Năm 1309, Công chúa xuất gia, tu ở một ngôi chùa trên núi Trâu Sơn, thuộc trấn Kinh Bắc (Bắc Ninh ngày nay), do quốc sư Bảo Phát ấn chứng. Công chúa được ban pháp danh là Hương Tràng. Năm 1311, Hương Tràng lập am dưới chân núi Hổ (làng Hổ Sơn huyện Thiên Bản, trấn Sơn Nam (Nam Định) tu hành. Bà viên tịch nơi đây, dân chúng thương tiếc, tôn bà là “Thần Mẫu” và lập đền thờ cạnh chùa Nộn Sơn, chùa này nay gọi Quảng Nghiêm Tự.

*- Thiết nghĩ: Hồng nhan liễu yếu như Công chúa Huyền Trân, không cầm quân lấy thành đoạt ải, gây cảnh “nhất tướng công thành vạn cốt khô”, nhưng Công chúa đã đem về cho giang sơn Đại Việt một vùng đất rộng lớn từ Quảng Trị đến Quảng Nam. Thử hỏi từ cổ chí kim có bao nhiêu nhân vật mở rộng bờ cõi cho đất nước, được êm dẹp như Bà?! Thế mà trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi: “Trần Khắc Chung và Huyền Trân đã tư thông với nhau”? Có thật vậy không?!. Tôi đã khảo cứu nhiều tài liệu, xin thưa rằng:

1- Xét về tuổi tác, vào năm 1307, Trần Khắc Chung đã 60 tuổi (sinh 1247), còn Huyền Trân mới 20 tuổi (sinh 1287), với số tuổi chênh lệch quá xa, liệu rằng có thể vương vấn lứa đôi được không? Thưa không, nhất là thời xưa thì không thể.

2- Tiến sĩ Po Dharma trong Champaka.org đã viết: “Vào đầu thế kỷ 14, Chiêm Thành bị mất một khu vực đất đai rộng lớn của mình ở miền Bắc, trong một hoàn cảnh chính trị vô cùng đặc biệt chưa từng xảy ra trong lịch sử của vương quốc này. Nguyên nhân đó chính là vua Champa Jaya Simhavarman III (vua Chế Mân) năm 1306, dâng cho Đại Việt 2 vùng Ô và Lý để được kết hôn với Công chúa Huyền Trân của Đại Việt. Sự kết hôn này đúng là một vở bi kịch tình sử. Vì rằng chưa đầy một năm chung sống với công chúa Đại Việt, Jaya Simhavarma III lại từ trần, để rồi Huyền Trân tìm cách chạy trốn về Thăng Long với Trần Khắc Chung... Công chúa Đại Việt này, ai cũng biết rằng không thể hội đủ điều kiện để xin lên giàn hỏa. Theo truyền thống Champa, chỉ có bà Hoàng hậu chính thức mới được phép để hủy thân trên giàn hỏa với chồng của mình”. Ngoài ra, trong kinh điển đạo Bà La Môn không thấy nhắc đến tục lệ này. Việc hỏa táng nếu tổ chức, phải trong vòng 7 ngày sau khi chết, vì khí hậu vùng nhiệt đới không cho phép để thi hài lâu hơn được. Trong khi ấy tháng 6-1307, thì Chế Mân mất, mãi đến tháng 10, Trần Khắc Chung mới khởi hành đi qua Chiêm viếng tang, như vậy việc Huyền Trân “tuẫn tang”, không thể thuyết phục được ai?!

3- Trần Khắc Chung là người có đạo đức và thực tài. Ông đã lăn lộn ở quan trường, thì sự va chạm với người khác khó tránh khỏi, nên chuyện ân oán xảy ra không phải ít. Vì vậy chuyện ông tư thông với Huyền Trân có thể bị gièm pha.

4- Bảo rằng Khắc Chung và Huyền Trân âu yếm trên tàu gần cả năm, là điều không thể có, vì trên tàu còn có nhiều người khác, như là An Phủ Sứ Đặng Văn, ai là người có thể chiếu chăn trước mặt đông đảo nhiều người như vậy?!

Từ bốn (4) dẫn chứng trên; Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của sử gia Ngô Sĩ Liên ghi: “Trần Khắc Chung và Huyền Trân đã tư thông với nhau”, có thể đấy là một sự lầm lẫn lớn?!. Sử gia Ngô Thì Sĩ còn chê trách: “...Nhân Tông đem con gái gả cho chúa Chiêm Thành là nghĩa làm sao? Nói rằng nhân khi đi chơi đã trót hứa gả, sợ thất tín thì sao không đổi lại lệnh đó có được không? Vua giữ ngôi trời mà Thượng hoàng đã xuất gia rồi, vua đổi lại lệnh đó thì có khó gì, mà lại đem gả cho người xa không phải giống nòi để thực hiện lời hứa, rồi sau lại dùng mưu gian trá cướp về, thế thì tín ở đâu?”.

Các Sử gia trên đã phê phán đúng không?! Mở mang đất nước mà được thỏa thuận đôi bên, người lãnh đạo sáng suốt, sao bỏ lỡ cơ hội?. Còn việc cứu Công chúa là cần thiết, vì người đang sống lại đem hoả thiêu để chôn chung với kẻ vừa chết, nếu có, là việc làm sai trái, mê tín thiếu đạo đức, cần huỷ bỏ. Cuối cùng, mong mỏi những ai khi ghi chép về nhân vật lịch sử Huyền Trân nên tham khảo cho đúng sự thật.

Cảm niệm: Công Chúa Huyền Trân

Duyên tình định đoạt bởi quân vương
Bịn rịn riêng mang, mỗi tấc đường
Vua Chế thiết tha, mòn mỏi đợi
Triều Trần rầu rĩ, ngậm ngùi thương
Hai Châu Ô Lý, liền non nước
Một bóng Huyền Trân, biệt cố hương
Tổ quốc mở mang, dù phận liễu
Gian nan, lặn lội vẫn kiên cường!

Nguyễn Lộc Yên

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Làm thế nào để ngăn chặn Trung Quốc tiến hành một cuộc xâm lược quân sự toàn diện nhằm chiếm Đài Loan bằng vũ lực? Sau đây là một số suy nghĩ cá nhân về vấn đề quan trọng này, tôi trình bày với tư cách là một học giả về Trung Quốc và không phải là đại diện chính thức của chính phủ Úc...
Tôi không thân thiết, và cũng chả quen biết chi nhiều với Trương Văn Dũng (TVD). Thản hoặc, mới có chút chuyện cần – cần phải trao đổi đôi ba câu ngăn ngắn – thế thôi. Tuy thế, tôi hoàn toàn không ngạc nhiên khi nghe ông bị “túm”, và bị kết án tù. Dù rất ngại làm mất lòng thiên hạ (và cũng rất sợ gạch đá tán loạn, từ khắp bốn phương) nhưng tôi vẫn phải khách quan mà nhìn nhận rằng ông Tô Lâm chưa hề bắt “lộn” một nhân vật bất đồng chính kiến nào (ráo trọi) nhất là trường hợp của TVD!
Khi bài này đến với độc giả thì Tổng Bí thư đảng CSVN, Nguyễn Phú Trọng đã vắng mặt gần một tháng mà không có lời giải thích nào của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Lần gần nhất công chúng Việt Nam nhìn thấy ông Trọng là khi ông tiếp Tổng thống Putin thăm Hà Nội ngày 20/06/2024. Sau đó ông đã vắng mặt tại các buổi họp quan trọng...
Không ai biết chắc khi nào một đế chế sẽ sụp đổ. Chẳng ai có thể xác định chính xác thời điểm Đế chế La Mã, Bồ Đào Nha, Ottoman hay Anh kết thúc. Trong bài thơ "Waiting for the Barbarians", nhà thơ Hy lạp Constantine P. Cavafy nhiều lần khẳng định rằng những kẻ man rợ sẽ đến hôm nay. Người ta chờ đợi, như thể đây là chuyện thường nhật như việc một công ty sẽ phá sản, hay một buổi lễ ra trường vậy. Nhưng một đế chế thì sao? Liệu vào thời của mình, nhà thơ Hy Lạp Cavafy có thuộc về một đế chế nào đáng để gọi là đế chế không?
Tôi hoàn toàn (và tuyệt đối) không có năng khiếu hay tham vọng gì ráo trong lãnh vực thơ văn/thi phú. Suốt đời chỉ ước mong sao có sách báo để đọc, để thưởng thức những lời hay ý đẹp của giới văn nhân thi sỹ, là vui thích lắm rồi. Sở thích, cùng niềm vui, tuy giản dị thế thôi nhưng đôi lúc tôi vẫn bị lôi thôi vì những câu cú (vô cùng) tối nghĩa:
Tệ nạn “dưới đẩy lên, trên đùn xuống” và “vô trách nhiệm” không mới trong cán bộ, đảng viên CSVN, nhưng số người “sáng vác ô đi tối vác về” vẫn khơi khơi trong hệ thống cầm quyền mới là điều lạ. Tổng Bí thư đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng từng nói:“Ai không làm thì đứng sang một bên cho người khác làm”, nhưng không ai muốn về vườn vì chứng bệnh nan y “tham quyền cố vị” đã có trong máu thịt Đảng...
Đảng CSVN đang bối rối về câu hỏi: Tại sao phải kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh để xây dựng đất nước? Lý do đơn giản, vì đảng sợ “dân chủ”, nhát “tự do” và lo phải đối phó với tình trạng “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ đảng, đe dọa sự sống còn của chế độ...
BBC ái ngại loan tin: “Hôm 8/6, Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) đã phát một video (‘Thông tin xuyên tạc ẩn tu của ông Thích Minh Tuệ’) có độ dài 3 phút 40 giây … Sau khi phóng sự được đăng tải trên các trang báo, cũng như các trang mạng xã hội, có không ít người nghi ngờ về độ chân thực của video”.
Hội nghị thượng đỉnh về hoà bình cho Ukraine tại Bürgenstock, Thụy Sĩ vào ngày 15 và 16 tháng 6 năm 2024 được coi là một thành công khiêm nhường cho Ukraine. 80 nước đã lên tiếng ủng hộ mạnh mẽ cho chính nghĩa đấu tranh của Ukraine, nhưng tiếp tục phát huy thành quả này sẽ là không chắc chắn.
Cảnh người Mỹ tranh cãi và dọa dẫm kiện tụng liên quan đến “Thập giới” lại làm tôi nghĩ đến “Thập cửu giới” – tức “Mười chín điều đảng viên không được làm” trên đất Việt. Trên phương diện sử học thì “Thập giới”, hay “Mười điều răn”, chính là bộ luật hình sự đầu tiên của nhân loại. Theo Cựu ước thì bộ luật này được Thượng Đế ban cho Nhà tiên tri Moses trên đỉnh núi Sinai để thiết lập trật tự cho cộng đồng Do Thái. Cũng trên phương diện sử học thì Cựu ước chính là một “đại tự sự” – một “câu chuyện lớn” tương tự câu chuyện về Bốn ngàn năm văn hiến hay con Rồng cháu Tiên của chúng ta v.v.. – với ý hướng tạo một bản sắc chung để kết hợp các bộ lạc Do Thái lại với nhau.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.