Hôm nay,  

Bò Tái Và Bê Thui Tại Canada

18/07/201400:00:00(Xem: 7380)

Thịt bò, nằm trong nhóm thịt đỏ, là một loại thịt rất được ưa chuộng trong ẩm thực.

Có nhiều loại thịt bò

Giá trị dinh dưỡng thay đổi tùy theo dòng bò, tùy theo tuổi tác của con vật, tùy theo cách nuôi dưỡng, tùy theo coupe, và cũng còn tùy thuộc vào cách biến chế nấu nướng thành món ăn nữa.

Tại Canada, kỹ nghệ thịt đã xếp các loại thịt bò tùy theo màu sắc của thịt, tùy theo tuổi con bò, tùy theo bò đực hay bò cái và tùy theo sự phân bố của mỡ trong các sớ thịt.

Nói chung thịt bò được xếp hạng theo các thứ lớp sau đây: thịt loại A, AA, AAA, B1, B2, B3 vv…Thịt loại A là loại ngon nhứtt và lẽ đương nhiên là giá cả cũng đắt nhất. Triple A hay AAA là số dách.

Thịt bò xay ( boeuf haché, ground beef) thường là loại thịt tạp, thịt bò vụn được xay chung với nhau.

Bò già và bò cái phế thải (vache de réforme, slighter cows), tức là bò cái sau thời gian sanh sản và sản xuất sữa, thường đựợc gởi đi hạ thịt. Thịt bò cái sậm màu, dai nên được xếp vào hạng D.

Thịt của những loại bò nầy phần chính là để làm thịt xay, và được ép thành miếng tròn ( patties) đông lạnh để cung cấp cho các nhà hàng fast food dùng làm hamburger.

blank
Tình hình thịt bò ở Canada.

Thịt bò xay được phân ra làm nhiều loại tùy theo nó có chứa nhiều hoặc ít mỡ.

- loại régulier, regular: không được có nhiều hơn 30 % mỡ

- loại mi maigre, medium ground beef: có thể chứa tối đa 23 % mỡ

- loại maigre, lean: có thể chứa tối đa 17 % mỡ

- loại extra maigre, extra lean: không được chứa hơn 13 % mỡ.

Thịt bò có bổ không?

Thịt bò là nguồn proteine rất tốt, chứa nhiều vitamins nhóm B như Niacine, B12, nhiều chất sắt (Fe), phosphore, kẽm ( Zn) và potassium.

Cái bất lợi mà người ta thường gán cho thịt bò là nó chứa nhiều acide béo bão hòa (saturated fat) và nhiều cholesterol. Hai chất nầy là đầu mối của các bệnh về tim mạch.

Thịt bê hay thịt bò con

Theo luật Kiểm Tra Thực Phẩm Canada, được xem là thịt bê (veau,calf) những quầy thịt (đã lột da) nào cân nặng dưới 350 lbs. Thịt bê, hay thịt bò con từ 2 tuần đến 1 tuổi mặc dù rất đắt tiền nhưng lại được nhiều người chiếu cố đến vì thịt mềm và chứa ít cholesterol hơn thịt bò loại thường. Thịt bê ít mỡ, ít calories, màu nhạt. Thịt nhão nếu con vật bị hạ thịt trước 14 tuần tuổi.

Thịt bê được bán nhiều nhứt vào đầu mùa xuân và thường là loại bê nuôi bằng hạt (veaux de grain, grain fed calves ). Loại bê nầy được nuôi bằng sữa lúc đầu, đến lúc được 6-8 tuần tuổi thì cho ăn hạt(bắp), đến khi được 18-20 tuần thì đem hạ thịt, lúc đó bê nặng lối 155 kg. Thịt bê nuôi bằng hạt có màu hồng sậm hơn thịt bê nuôi bằng sữa cho một loại thịt nhạt màu. Bê nuôi bằng sữa còn có tên là veaux de lait hay veaux blancs (milk fed calves) và được nuôi thuần bằng sữa. Thịt bê sữa giá đắt nhất.

blank
Tình hình thịt bò ở Canada.

Tại sao phải sử dụng hormone trong chăn nuôi bò thịt?

Hormone tăng trưởng (growth hormone) giúp gia tăng hiệu suất của thực phẩm (feed efficiency) và thúc đẩy sự chuyển hóa thức ăn thành thịt một cách có hiệu quả hơn. Nói tóm lại là rút ngắn được thời gian sản xuất, tiết kiệm thức ăn (giảm thiểu lối15%) nhưng con vật lại mau tăng cân và cho một loại thịt có phẩm chất cao, mềm và ít mỡ hơn cách chăn nuôi bình thường.

Tại Canada và Hoa kỳ, các loại hormones nào được cho phép sử dụng?

Trên thế giới hiện nay có lối 12 quốc gia đã sử dụng hormones tăng trưỡng trong chăn nuôi.

Riêng Canada có 6 hormones được chính thức cho phép dùng để kích thích sự tăng trưỡng của gia súc.

- Nhóm hormones thiên nhiên: Oestradiol, progestarone, và testosterone. Đây là những hormones thiên nhiên mà con vật có thể tự tạo ra được.

- Nhóm hormones tổng hợp: MGA (mélengestrol acetate), trenbolone acetate và Zeranol. Cơ thể không thể tự tổng hợp các loại hormones nầy được.

Vào những năm 60, hormone DES ( diethylstilbestrol) thường được bác sĩ kê toa cho phụ nữ để giúp dưỡng thai, và ngừa hư thai. DES cũng rất phổ biến bên phía thú y. Một thời gian sau, các nhà khoa học đã khám phá ra rằng DES là một hormone cực kỳ nguy hiểm. Các bà mẹ, nếu có sử dụng DES lúc mang thai, có thể tăng nguy cơ gây cancer cho cho cã thế hệ con cái sau nầy. Trường hợp nếu sinh ra con gái (DES daughters), tuy còn trẻ,chúng vẩn có thể bị cancer cổ tử cung và cancer âm hộ (adenocarcinoma of vagina and cervix), còn nếu là con trai (DES sons)thì có thể bị cancer dịch hoàn (testes cancer). DES ngày nay đã bị cấm sử dụng trong y khoa cũng như trong thú y.

Tại Hoa Kỳ DES có thể còn được thấy sử dụng (bán theo toa Bs ) trong những ca rất đặc biệt dể trị vài loại cancer ác tính ở phụ nử hoặc cancer tiền liệt tuyến ở đàn ông, nhưng trên hộp thuốc phải có ghi rỏ: for treatment of breast cancer in appropiately selected women and men with metastatic diseases and prostatic cance, palliative therapy of advanced diseases.

blank
Tình hình thịt bò ở Canada.

Tại Canada những loại gia súc nào được cấy hormone?

Canada chỉ cho phép sử dụng hormone tăng trưởng ở bò thịt (beef, boeuf de boucherie) mà thôi, và cấm sử dụng ở bò con nuôi để sản xuất ra thịt bê (veau,calf).

Theo luật Canada, bê là những bò dưới 1 tuổi, khi hạ thịt quầy thịt có da phải cân dưới 205 kg, hay dưới 180 kg nếu như đã được lột da…

Nếu phát hiện bê có dấu hiệu đã bị cấy hormone ở lỗ tai thì quầy thịt sẽ bị tịch thu để hủy bỏ.

Đối với thịt gà, vấn đề không cần phải được đặt ra vì hormone đã bị cấm sử dụng trong chăn nuôi gia cầm từ năm 1962 rồi. Santé Canada cũng không có chấp thuận một loại hormone tăng trưởng nào để nuôi heo cả…

Ở bò thịt, hầu hết các hormones đều được cấy dưới da phía sau lỗ tai gần cổ. Khi hạ thịt, 2 lỗ tai và phần da lân cận đều bị cắt bỏ để tránh cho người tiêu thụ khỏi ăn phải hormones có thể còn sót lại ở nơi đó.

Riêng đối với hormone MGA, người ta trộn trong thức ăn của bò cái tơ (génisse, heifer) với mục đích kích thích tăng trưởng và đồng thời cũng giúp ngăn chặn sự lên giống của nó (vì nếu để lên giống nó sẽ quậy phá, nhẩy cưỡi lung tung các thú khác, gây thương tích, làm rối loạn cả chuồng!). Luật thú y bắt buộc phải ngưng cấp MGA 48 giờ trước khi đưa con vật bị gởi đi hạ thịt.

Cấy hormone có lợi ích gì?


Nhà chăn nuôi chỉ sử dụng các loại hormones tăng trưởng khi con bò đã đạt được một trọng lượng nhất định nào đó. Hormone có tác dụng thúc đẩy (booster) sự tăng cân, cũng như cải thiện tính chất thịt và còn giúp tiết giảm thời gian nuôi được ngắn hơn lối 17 ngày so với thời gian sản xuất bình thường, nhờ đó mà giá thành sản xuất được giảm thiểu đáng kể để thịt mới có thể được bán ra với một giá không quá đắt!

blank
Tình hình thịt bò ở Canada.

Thịt chứa hormone ăn vào có hại không?

Đây là một vấn đề khá phức tạp đang được các nhà khoa học trên thế giới tranh cãi dữ dội. Việc dùng hormone trong chăn nuôi không phải là phương pháp được mọi người nhứt trí hết.

Phe thuận, gồm các giới kỹ nghệ thịt, kỹ nghệ dược phẩm, chánh phủ, Tổ chức y tế Thế giới và một số nhà khoa học nổi tiếng nhiệt tình cổ võ.

Phe chống đối phần đông thuộc nhóm xanh tức là các nhóm chủ trương bảo vệ môi sinh, các nhóm ăn chay, và một số các nhà khoa học Âu Châu. Cả hai phía đều trưng ra những bằng chứng và lập luận khoa học rất có giá trị để bảo vệ quan điểm của mình.

Nhưng nói chung, thì tất cả mọi người đều nhìn nhận là ở một mức độ nào đó, và về lâu về dài, sự tồn dư hormone sẽ gây ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe…

Phụ nữ đang mang thai và thời gian tiền dậy thì (prepuberty) ở trẻ em là thời gian mà cơ thể chịu ảnh hưởng của hormone nhiều nhứt. Triệu chứng có thể thấy là, kinh nguyệt xuất hiện sớm, vú nổi to, râu và lông mọc ra một cách bất thường, nhưng có một điều lo sợ nhất của mọi người là cancer. Hiện tượng dậy thì xuất hiện quá sớm ở các cháu gái nhỏ tuổi thường được các nhà khoa học tìm thấy có liên hệ với sự xuất hiện cancer vú sau nầy.

blank
Tình hình thịt bò ở Canada.

Các nhà khoa học Âu châu đã nói gì?

Được biết là từ năm 1989, Âu châu đã cấm ngặt việc sử dụng hormone tăng trưởng trong lãnh vực chăn nuôi. Có tất cả 17 công trình khảo cứu về hormones đã được khối Liên hiệp Âu châu thực hiện và họ đi đến kết luận là các loại hormones tăng trưởng hiện đang được sử dụng trong ngành bò thịt đều rất nguy hiểm cho sức khỏe người tiêu thụ.

Các nhà khoa học Hoa Kỳ và Canada thì không đồng ý với lý lẽ trên. Sau đây là giải thuyết của nhóm khoa học gia Âu châu đã đưa ra:

- Oestradiol[benzoate d’oestradiol, oestradiol beta-17, oestradiol]: được xem là chất gây cancer trọn vẹn (carcinogène complet). Ngoài ra Oestradiol còn có thể làm giảm thiểu kích thước tuyến thymus là một tuyến rất quan trọng của hệ miễn dịch. Liên Âu còn cấm sử dụng hormone 17-béta oestradiol để trị bệnh bò kể cả việc điều hợp sự lên giống bò cái (synchronisation des chaleurs). Trong chăn nuôi, người ta thường tiêm một loại hormone đặc biệt cho rất nhiều bò cái cùng một lúc để chúng có thể lên giống cùng một ngày. Đây là kỹ thuật điều hợp sự lên giống. Lý do: để tiện việc làm gieo tinh nhân tạo cũng như để giúp việc quản lý đàn bò sữa được dễ dàng và khoa học khoa học hơn.

- Progesterone, thuộc nhóm hormone stéroide giúp vào việc định vị noãn thụ vào tử cung và giúp cho bào thai phát triển một cách bình thường. Thí nghiệm trong labo cho thấy progesterone có tính làm tăng nhủ tuyến, noãn sào, tử cung và âm hộ.

- Testostérone, thí nghiệm cho thấy nó có thể gây cancer tiền liệt tuyến ở chuột đực.

- Trenbolone[acétate de trenbolone]: đây là một hormone tổng hợp của thú đực. Tính chất Trenbolone mạnh gấp nhiều lần hơn Testostérone. Thí nghiệm cho thấy nó gây cancer tụy tạng và cancer gan ở loài chuột.

- Zéranol là một hormone œstrogène (hormone nữ) tạo ra từ nhiều loại nấm fusarium. Có thể gây cancer tuyến não thùy ở chuột thí nghiệm.

- Acétate de mélengestrol [MGA, mélengestrol] là hormone duy nhất được trộn chung trong thức ăn của bò. Nó là một hormone cùng nhóm với diéthylstilbestrol(DES). Thí nghiệm cho thấy MGA gây cancer vú ở chuột.

Canada không cho phép sử dụng hormone tăng trưởng ở bò sữa.

While the administration of growth hormones known as BST or rBGH to dairy cows is allowed in the US, it is illegal in Canada and therefore not permitted for use with any dairy cows.

Kiểm soát trên bình diện quốc tế

Các tổ chức quốc tế sau đây đều đồng ý và hậu thuẩn phương pháp sử dụng hormone tăng trưởng trong chăn nuôi. Đó là Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO), Tổ Chức Lương Nông Thế Giới (FAO), Commission du Codex Alimentaire, và Codex Committee on residue in Veterinary Drugs in Foods (CC/RVDF). Codex Alimentarius ấn dư lượng thường nhật khả chấp (acceptable daily intake) cũng như dư lượng tối đa hormon cho phép lưu tồn (maximum residue limit).

Thịt bò tại Hoa Kỳ và Canada có an toàn không?

FDA Hoa Kỳ và Santé Canada đã trấn an mọi người và cả quyết rằng ăn thịt bò cấy hormone sẽ không có hại gì đến sức khỏe hết!

Estrogen, Progesterone, và Testosterone đều là những hormones thiên nhiên hiện diện trong cơ thể của tất cả các loài động vật. Hai cơ quan trên còn cho biết, bình thường trong cơ thể chúng ta, số lượng hormone vừa kể cũng nhiều gấp cả trăm lần hơn số lượng hormone mà ta ăn vào từ thịt bò.

Ở trẻ em vào thời gian tiền dậy thì, lượng estrogen sản xuất ra hằng ngày ở vào khoảng 41500 nanograms (ng). Một ng tương đương với 1 phần tỉ của gram. Nếu em bé này ăn 120 gr thịt bò thì số lượng hormone trong miếng thịt cũng chỉ là 1,6 ng mà thôi. Trên lý thuyết, em bé phải ăn mỗi ngày 32 kg thịt bò mới có thể bị bệnh được.

Ngày nay, Hoa Kỳ không quan tâm đến các loại hormones thiên nhiên, nhưng họ chỉ chú trọng hơn đến các hormones tổng hợp mà thôi. FDA ấn định ngạch số an toàn của Trenbolone acetate là 50 ppb (part per billion) và zeranol là 20 ppb.

Ngược lại với Hoa Kỳ và Canada, các nhà khoa học châu Âu rất khắt khe. Họ cho rằng dù với một liều lượng cực nhỏ (khoa học gọi là trace) đi nữa, hormone vẫn có thể gây ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe. Mối liên hệ giữa sự tiêu thụ thịt đỏ (thịt bò, heo, cừu) và cancer đã được giới khoa học nhìn nhận từ lâu rồi./.

Tham khảo

- Wikipedia-Beef hormone controversy
http://en.wikipedia.org/wiki/Beef_hormone_controversy

- The Big Question Over Beef Hormones
http://www.thebeefsite.com/articles/1734/the-big-question-over-beef-hormones

Montreal

Ý kiến bạn đọc
21/07/201413:24:02
Khách
Kinh thua Bac Chanh,

Chau ten la Chon. Chau chuc Bac duoc nhieu suc khoe. I'd like to ask you please use your expertise in the medical field to write an article to help our people to reliaze that eating meat is extremely dangerous to one's health and it’s unethical to eat animals.
http://woodstocksanctuary.org/learn-3/why-its-unethical-to-eat-animals/
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong cuốn tiểu thuyết Chuyện Hai Thành Phố (A Tale of Two Cities) của Charles Dickens, được xuất bản năm 1859 và lấy bối cảnh thời Cách Mạng Pháp, có đoạn viết: “Đó là thời đại tốt đẹp nhất, cũng là thời đại tồi tệ nhất, đó là thời đại của sự khôn ngoan, cũng là thời đại của sự ngu xuẩn.” Đại dịch COVID-19 cũng là một thời đại như thế. Một mặt, khoa học đã cứu sống được nhiều người. Chưa đầy một năm sau khi phát hiện virus, Hoa Kỳ đã tạo ra và thử nghiệm vắc xin, rồi cho sản xuất, phân phối và triển khai tiêm chủng hàng loạt miễn phí cho người dân. Ước tính vắc xin COVID đã cứu được ít nhất 3.2 triệu người chỉ riêng ở Hoa Kỳ. Những thành tựu này tạo ra hy vọng về việc chúng ta có thể nhanh chóng ứng phó với đại dịch trong tương lai.
Hơn một thập niên trước, Shria Kumar, bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa và là chuyên gia nghiên cứu tại Đại học Miami, bắt đầu chú ý đến một dấu hiệu đáng lo ngại. Có một số bệnh nhân ung thư dạ dày đến gặp bà ở độ tuổi rất trẻ, và rất nhiều người là phụ nữ. Khuynh hướng này vẫn tiếp diễn cho đến ngày nay. Các khoa học gia đang nỗ lực tìm hiểu tại sao điều này lại xảy ra. Vào mùa xuân năm ngoái, họ đã xác nhận rằng hiện tượng này đang diễn ra ở Hoa Kỳ. Sau khi kiểm tra hệ thống các cơ sở dữ liệu chứa các thông tin chi tiết về các trường hợp ung thư ở nhiều tiểu bang trên toàn quốc, các nhà nghiên cứu nhận thấy ung thư dạ dày đang gia tăng nhanh hơn ở phụ nữ trẻ.
Wegovy, Ozempic và Mounjaro là các loại thuốc giảm cân và điều trị tiểu đường đã gây được tiếng vang lớn trong lĩnh vực tin tức y tế. Chúng nhắm vào các con đường điều tiết liên quan đến cả bệnh béo phì và tiểu đường, và được nhiều người coi là bước đột phá trong việc kiểm soát cân nặng, đường và huyết áp. Nhưng liệu những loại thuốc này có giải quyết được nguyên nhân gốc rễ của hội chứng chuyển hóa (metabolic disease) không? Điều gì đã thúc đẩy sự phát triển của chúng từ ban đầu?
Gần đây quý vị vừa bị cảm lạnh, cúm, RSV hoặc COVID, bệnh đã qua nhưng mãi vẫn không thể hết ho? Rất nhiều người bị giống như vậy. Triệu chứng này có thể tồn tại trong nhiều tuần sau khi cơ thể chúng ta đã loại bỏ vi-rút. Michael Shiloh, một bác sĩ chuyên nghiên cứu bệnh truyền nhiễm tại Trung tâm Y tế UT Southwestern cho biết những bệnh nhân bị ho thường kể là họ đã bị bịnh từ 8 tuần trước khi đến gặp ông. Ông nói: “Chúng tôi thực sự không thể phát hiện thấy vi rút gì ở những người này nữa nhưng họ vẫn bị ho.”
Bằng cách bắt chước cơ chế bảo vệ của cơ thể chống lại nhiễm trùng do vi khuẩn, một nhóm nghiên cứu ở Lund, Thụy điển hy vọng có thể ngăn chặn tình trạng viêm phát triển thành nhiễm trùng máu, theo đài truyền hình SVT, Thụy điển. Nhiễm trùng máu là tình trạng nhiễm trùng có thể đe dọa tính mạng. Thông thường nguyên nhân là do viêm phổi, nhiễm trùng đường tiểu hoặc nhiễm trùng vết thương. Nghiên cứu từ Lund cho thấy hiện nhiễm trùng huyết phổ biến hơn so với trước đây.
Ngày nay, có nhiều người lớn hơn bao giờ hết đang phải đối mặt với chứng rối loạn khả năng tập trung- thiếu khả năng chú ý, hay ADHD. Người ta nghi ngờ nguyên nhân chính của vấn đề này là do công nghệ hiện đại đang gây áp lực lên não bộ của họ. Trong khi có gần 10% trẻ em được chẩn đoán mắc chứng ADHD, một phân tích tổng hợp gần đây từ nhiều nghiên cứu cho thấy gần 6.8% người lớn mắc chứng ADHD – tăng từ 4.4% vào năm 2003.
Bộ não của chúng ta thường có khuynh hướng tìm kiếm và phản ứng với những điều mang lại sự hài lòng, gọi là phần thưởng. Khi chúng ta đói, bộ não hiểu rằng thức ăn là một phần thưởng, còn khi ta khát, nước sẽ là phần thưởng. Nhưng lạm dụng các chất gây nghiện như rượu và các loại thuốc có thể ảnh hưởng đến các con đường tìm kiếm phần thưởng tự nhiên trong bộ não, tạo ra những ham muốn khó kiểm soát và làm giảm khả năng kiểm soát hành vi của chúng ta.
Aissam Dam, cậu bé 11 tuổi, lớn lên trong một thế giới im lặng tuyệt đối. Em sinh ra đời đã bị điếc và chưa bao giờ nghe thấy bất kỳ tiếng động nào. Khi sống trong một cộng đồng nghèo ở Maroc, em đã học cách diễn đạt bằng ngôn ngữ ký hiệu do chính mình phát minh ra và không được đi học. Năm ngoái, sau khi chuyển đến Tây Ban Nha, gia đình đưa em đến gặp một chuyên gia về thính giác, người đã đưa ra một gợi ý đáng ngạc nhiên: Aissam có thể đủ điều kiện tham gia thử nghiệm lâm sàng sử dụng liệu pháp gen. Vào ngày 4 tháng 10, Aissam được đưa đến điều trị tại Bệnh viện Nhi đồng Philadelphia, trở thành người đầu tiên được điều trị bằng liệu pháp gen ở Hoa Kỳ cho bệnh điếc bẩm sinh. Mục đích là cung cấp cho em thính giác, nhưng các nhà nghiên cứu không biết liệu phương pháp điều trị này có hiệu quả hay không, và nếu có thì em sẽ nghe được bao nhiêu.
Sau mùa lễ cuối năm là lúc các bậc phụ huynh lo lắng về con đường đại học của con cháu mình. Những con số điểm, những chữ viết tắt như GPA, SAT và ACT sẽ làm phụ huynh nhức đầu và chúng ta sẽ bàn lại về vai trò các điểm này và nhất là tương quan giữa SAT và IQ trong khung cảnh của các thay đổi gần đây ở Mỹ. Năm ngoái, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ quyết định cấm dùng màu da, nguồn gốc sắc tộc để quyết định tuyển chọn một ứng viên, từ chối không cho Đại học Harvard thực hành “tác dụng khẳng định” (affirmative action) để tăng sỉ số da màu không được đại diện đúng mức so với tỷ lệ trong dân số nói chung. Một trong những biện pháp được dùng để giảm bớt sỉ số dân Á Châu là gạt bỏ kết quả kỳ thi SAT hoặc giảm bớt tầm quan trọng của SAT, vì người gốc Á Châu có điểm SAT cao hơn nhiều so với các sắc dân khác.
Hội chứng người cứng đơ (Stiff Person Syndrome – SPS) là một căn bịnh có thể gây co thắt dữ dội và làm suy nhược các cơ, nhưng hầu hết mọi người đều không biết gì về nó mãi cho đến cuối năm ngoái, khi nữ danh ca Celine Dion công bố tình trạng bịnh của mình. Chứng rối loạn thần kinh và tự miễn dịch hiếm gặp này được cho là chỉ ảnh hưởng đến 1 hoặc 2 người trong một triệu người – và hai phần ba trong số những người bị là phụ nữ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.