Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Truyền Thống Dân Tộc Việt Và Ý Nghĩa Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương

26/03/201400:00:00(Xem: 4904)
Cho đến nay, người Việt tha hương chúng ta ở hải ngoại thường tổ chức những buổi lễ mang nhiều dân tộc tính như Lễ Tổ Tiên vào dịp Tết Nguyên Đán, Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương, Lễ Quốc Khánh v.v...nhằm mục đích duy trì phong tục cổ truyền của người Việt tại nhiều địa phương ở các quốc gia đang định cư.

Trong khuôn khổ bài này, người viết (qua sự hiểu biết rất hạn hẹp của mình, chắc chắn không tránh khỏi sơ sót mong quí bậc trưởng thượng, quí vị thức giả bổ túc cho) xin được giới hạn, chỉ giới thiệu ngày Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương và nói về ý nghĩa ngày Lễ này đến quí đồng hương, một ngày Lễ mà hầu hết chúng ta đều nghe nhắc đến sau khi Tết Nguyên Đán vẫy tay giả từ và hẹn đến Xuân sau.

Đối với người Việt tha hương nói chung thì tất cả các ngày Lễ Dân Tộc ở nước ngoài còn quan trọng hơn khi còn ở quê nhà, lý do là vì qua những buỗi lễ này chúng ta có dịp nối liền quá khứ với hiện tại nhưng không quên tương lai. Trong những ngày đại lễ như Lễ Tổ Tiên vào dịp Tết hay Giỗ Tổ Hùng Vương, gia đình, bạn bè, thân bằng quyến thuộc mới có cơ hội nhắc nhở con cháu, đồng hương nhớ về cội nguồn, ôn lại lịch sử và tưởng nhớ đến công ơn của các bậc tiền nhân, của ông bà tổ tiên khi giải thích cho con cháu biết tại sao phải lễ lạy trước bàn thờ đèn hương nghi ngút. Bởi lẽ, nếu không tạo được những dịp như vậy tại hải ngoại nói riêng có lẽ chỉ trong vòng vài thập niên nữa, các thế hệ kế tiếp chúng ta sẽ không màng nhắc đến và trong tương lai chắc chắn „ các ngày Lễ Dân Tộc „ sẽ bị lãng quên. Ngoài ra, qua các buổi lễ như Lễ Tổ Tiên trong dịp Tết hay Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương v.v..., không những để tưởng nhớ đến ông bà tổ tiên thôi mà chúng ta còn tạo ra được cơ hội cho giới trẻ (sinh ra và lớn lên ở xứ người, ít nhiều cũng đã hấp thụ văn hóa người !) biết về niềm tự hào văn hóa của dân tộc Việt.

Như chúng ta rõ, hàng năm cứ đến ngày 10 tháng Ba Âm Lịch, người Việt tỵ nạn cộng sản khắp nơi trên thế giới, nếu hoàn cảnh cho phép, đều tổ chức Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương rất trọng thể, mục đích để tưởng nhớ đến Quốc Tổ và các bậc Tiền Nhân đã có công dựng nước và giữ nước, theo đúng tinh thần và đạo lý được đúc kết qua câu đối tại đền Hùng:

Lăng tẩm tự năm nào, núi Tản, sông Đà,
Non nước vẫn quy về đất Tổ,
Văn minh đương buổi mới, con Hồng, cháu Lạc,
Giống nòi còn biết nhớ mồ Ông.

* Sự tích Hùng Vương:

Theo truyền thuyết thì cháu ba đời của vua Thần Nông, vua Đế Minh đi tuần thú phương Nam, đến dẫy núi Ngũ Lĩnh gặp một nàng Tiên (Vụ Tiên), lấy Vụ Tiên sinh ra Lộc Tục. Sau Lộc Tục nối ngôi lên làm vua vào năm 2879 trước Công Nguyên (tính cho đến nay 2013 cách nhau 4892 năm), xưng đế hiệu là Kinh Dương Vương và lấy Quốc Hiệu là Xích Quỉ. Cổ sử Việt ghi chép, Lộc Tục là vị vua đầu tiên của Việt Nam.

Nước Xích Quỉ, Bắc giáp hồ Động Đình, phía Nam thì giáp với Hồ Tôn (tức Chiêm Thành thưở xưa), còn Nam thì giáp biển Nam Hải và phía Tây thì giáp đất Ba Thục (tức tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc ngày nay).

Cũng theo Cổ sử Việt ghi, một hôm Kinh Dương Vương (KDV) đi ngoạn cảnh ở hồ Động Đình gặp được một người thiếu nữ đẹp tuyệt trần là Long Nữ, con gái của Động Đình Quân.

Vua Kinh Dương Vương kết duyên với Long Nữ, sinh ra được người con trai đặt tên là Sùng Lâm. Sùng Lâm về sau ngối ngôi cha lên làm vua, xưng hiệu là Lạc Long Quân (LLQ). Lạc Long Quân lấy con gái của vua Đế Lai là Âu Cơ, sinh ra một bọc, cho là điềm bất thường, chứa 100 trứng, nở ra trăm người con trai. Sau đó hai vợ chồng không thể sống chung với nhau được nên chia tay.

Lạc Long Quân nói với vợ rằng:

“Ta là giống Rồng đứng đầu Thủy Tộc, còn nàng là giống Tiên sống trên đất, tuy khí âm dương hợp lại mà sinh ra con cái nhưng thủy hỏa tương khắc, dòng giống bất đồng, khó ở lâu với nhau được nên nay đành phải chia ly. Ta dẫn 50 con về thủy phủ chia trị các xứ, còn nàng thì dẫn 50 đứa con về ở trên đất, chia nước mà trị!”

Về sau, người con trưởng của Lạc Long Quân nối ngôi cha và xưng là Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang, kinh đô đặt tại Phong Châu, thuộc Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Phú ngày nay.

Như vậy qua sử liệu, gia tộc đầu tiên lãnh đạo dân tộc Việt là họ Hồng Bàng, kế truyền ngôi cho nhau qua hai mươi đời vua từ Kinh Dương Vương đến Lạc Long Quân và 18 đời Hùng Vương kế tiếp từ năm 2879 kéo dài cho đến 2621 thì bị nhà Thục cướp ngôi vua năm 258 trước Công Nguyên. Dân chúng đã lập đền thờ Hùng Vương để tưởng nhớ, hiện nay vẫn còn ở núi Nghĩa Linh, còn gọi là núi Hùng Sơn hay Nghĩa Lương, thuộc Phong Châu, tỉnh Vĩnh Phú.

Và ngày Giỗ Tổ Hùng Vương 10 tháng 3 Âm Lịch, được truyền lại cho đến nay.

blank
Bàn thờ trong dịp giỗ Tổ Hùng Vương.

* Đặc tính của người Việt:

Dựa theo sử liệu và như đã trình bày ở trên, người Việt thuộc dòng giống Rồng Tiên!

Nói đến Rồng thì giống Rồng tượng trưng cho dương tính, cho uy quyền, sức mạnh long trời lở đất, ẩn hiện và biến hóa không lường. Còn Tiên thì tượng trưng cho âm tính, cho cái vẽ đẹp ôn nhu hài hòa và nhân từ... Con cái là kết hợp của hai giống Rồng-Tiên nên từ đó đã đúc tạo cho người Việt có đầy đủ các đặc tính: khỏe đẹp, biết tình biết lý, dũng cảm, khôn ngoan, biết đâu là quyền lợi nhưng không quên nghĩa vụ.

Qua quá trình dựng nước và giữ nước, dòng giống Rồng-Tiên đã áp dụng thành công một triết lý mang tính cách, truyền thống đặc biệt của dân tộc. Đó là triết lý „Vuông Tròn“ qua sự tích và ý nghĩa của „ Bánh Chưng, Bánh Dầy “. Ý nghĩa của triết lý này được thể hiện rõ nét và nỗi bật trong đời sống của dân tộc Việt Nam (VN) ta!

Nhân đây người viết cũng xin được nhắc sơ qua nguồn gốc của triết lý vuông tròn.

* Sự tích “Bánh Chưng, Bánh Dầy“:

Theo truyền thuyết, sau khi vua Hùng phá được giặc Ân, muốn truyền ngôi lại cho con, nhưng chưa biết chọn ai bèn cho triệu hai mươi vị quan lang và công chúa lại mà phán rằng:

“Ta muốn truyền ngôi lại cho kẻ nào làm ta vừa ý, cuối năm nay đem trân cam mỹ vị đến để tiến cúng tiên vương cho ta được tròn đạo hiếu thì sẽ được ta truyền ngôi“.

Những người con đều đua nhau đi tìm của ngon vật lạ khắp nơi. Duy chỉ có vị công tử thứ 18 là Lang Liêu (LL) vì mẹ chàng trước đó bị vua Hùng ghẻ lạnh, cảm thấy cô đơn buồn tủi mà chết nên không có ai giúp đỡ và chẳng biết xoay trở ra sao.

Một đêm kia Lang Liêu ngủ nằm mơ được thần nhân chỉ bảo cho cách làm bánh chưng bánh dầy và Lang Liêu lấy gạo nếp làm bánh, một cái hình vuông và một cái hình tròn, giữa có nhân và dùng lá bọc bên ngoài. Khi vua cha hỏi đến ý nghĩa cái bánh thì Lang Liêu giải thích đúng theo lời thần dặn rằng cái hình vuông, cái hình tròn để tượng trưng cho trời đất và dùng lá bọc ở ngoài, bên trong (nhân) là mỹ vị ngụ ý để nói lên công đức sinh thành lớn lao của cha mẹ! Vua cha rất hài lòng và sau đó truyền ngôi lại cho Lang Liêu.

blank
Thư Mời Giỗ Tổ Hùng Vương.

* Ý nghĩa Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương:

Qua bao thăng trầm của lịch sử, nhất là trước tham vọng của phương Bắc luôn luôn tìm cách thôn tính, đô hộ và đồng hóa của họ, dân tộc ta vẫn tồn tại! Chúng ta vẫn là người Việt, vẫn duy trì nền văn hóa Việt vốn mang đầy tính đặc thù của dân tộc ta, một dân tộc bất khuất có truyền thống dựng nước và giữ nước, chống ngoại xâm Tàu và Pháp.

Dưới thời đại Hùng Vương nói chung, dân tộc ta rất tiến bộ, có tinh thần dân bản và đoàn kết. Từ ngàn xưa, dân ta đã biết cách dẫn thủy nhập điền khai thác ngành nông nghiệp, biết phá rừng đốn nương làm rẫy, biết gieo mạ cấy lúa, biết dùng lúa gạo và khoai củ làm nông sản chính, đã biết dùng bếp nấu rượu, biết lấy sớ vỏ cây dệt vải, may quần áo; biết lấy cỏ năn để lát dệt làm chiếu nằm, biết nấu ăn bằng ống tre tươi, biết săn thú rừng, đánh cá và cũng đã biết làm nhà sàn cao để tránh thú dữ, biết gỏ vào cối đá làm hiệu khi có ai chết hay lúc gặp hiểm nguy để bà con, hàng xóm láng giềng hay mà đến giúp.

Ngoài ra, vua Hùng còn dạy cho những người sinh sống bằng nghề biển cắt tóc ngắn, chỉ cách xâm mình gọi “Văn Thân“ trông giống như giao long, để tiện bề bơi lội. Quốc Tổ Hùng Vương còn dạy cho dân chúng, từ một nếp sống cổ sơ đã tiến bộ rất nhanh, từ thời ký chỉ có „đồ đá đập“ đến „đồ đá mài“ và sau đến „đồ kim khí“, dạy dân biết cách đúc đồng, đúc sắt để chế tạo ra đồ dùng, làm dụng cụ sản xuất nông nghiệp, binh khí, v.v... nên trong thời đại đó mới có sự tích Phù Đổng Thiên Vương!

Về mối liên hệ hay nói rõ hơn về sự tương quan giữa Vua và tôi (dân) trong thời kỳ Hùng Vương thì vua chủ trương đặt chữ cho dân, vỗ về khuyến dụ dân khiến cho họ làm ăn yên ổn dựa trên tiêu chuẩn „vua tốt dân nhờ, vua ác thì dân nỗi loạn, vua mạnh thì bờ cỏi yên lành“, vững bền và nếu vua không được dân phục thì nên nhường ngôi cho người khác.

Xa hơn nữa, mối liên hệ nói trên còn thể hiện tình gần gũi, thương yêu nhau. Theo truyền thuyết thì vua Lạc Long Quân là một ông vua có thần thuật trị được yêu quái và hết lòng thương yêu, bảo bọc nhân dân. Khi có nguy cấp, dân kêu cứu với vua „Bố đi đàng nào mà không đến cứu chúng con!“ thì vua từ thủy phủ hiện đến để giải quyết ngay tại chỗ các vấn đề cho dân. Như vậy chứng tỏ dân ta vốn đã có truyền thống thương yêu đùm bọc nhau từ ngàn xưa rồi. Lối sống „ Bầu ơi, chung giàn“ quí trọng tình nghĩa đồng bào đã xuất phát từ thời Hùng Vương!

Ngày nay, sau biến cố 30.4.1975, chúng ta, những người Việt tỵ nạn, hiện đang định cư khắp năm châu, được sống trong Tự Do, Dân Chủ, có đầy đủ tiện nghi về vật chất nhưng chúng ta không quên bà con, thân nhân, đồng hương, bạn bè ở quê nhà ngày đêm đang thao thức, khắc khoải muốn có một cuộc sống như chúng ta ở hải ngoại cho nên Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản đã và đang cùng với các đoàn thể tôn giáo như Tin Lành, Phật Giáo, Phật Giáo Hòa Hảo và Thiên Chúa Giáo không nằm dưới sự chỉ đạo của nhà nước cộng sản, cùng với các chiến sĩ dân chủ ở quốc nội và hải ngoại đứng lên tranh đấu đòi nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam (csVN) phải tôn trọng Nhân Quyền, Tự Do Tôn Giáo, trả tự do cho các vị lãnh đạo tinh thần, các thanh niên yêu nước công giáo và những người vì đấu tranh cho lý tưởng tự do đang bị cs bắt giam, quản thúc tại Việt Nam! Người Việt nói chung, từ trong cũng như ở nước ngoài luôn hằng mong ước và cầu nguyện cho đêm đen đọa đầy ở quê nhà sớm trôi qua, để dân tộc ta, đất nước ta được sống trong ấm no, hạnh phúc. Mong cho nước VN chúng ta hùng mạnh, phú cường để người dân Việt được thụ hưởng cái ánh sáng bình minh của Tự Do, Dân Chủ, một nền dân chủ giống như ở các nước Anh, Mỹ, Đức, Pháp, Thụy Sĩ, Nhật, Bỉ, Hoà Lan, Thụy Điển, Na Uy, Gia Nã Đại, Đan Mạch, Úc, v.v...

Đi ngược lại dòng lịch sử, người Việt có thể tự hào rằng chúng ta đã thừa hưởng phần nào di sản của tiền nhân. Chúng ta có lối suy nghĩ và sống rất VN như: thủy chung có trước có sau, có tình có lý, biết lúc nào cương và lúc nào nhu, có vươn có cuộn và trung hiếu làm nền.

Thành ra, Lễ Giỗ Hùng Vương không những mang ý nghĩa tôn vinh mà còn có ý nghĩa nhắc nhở, thúc đẩy người Việt tỵ nạn nêu cao tinh thần Hùng Vương trong cuộc sống ở hải ngoại, vì đồng bào ruột thịt trong nước, vì Tổ quốc VN mến yêu và nhất là trong thời đại hiện tại bước sang thế kỷ 21, một thời đại đang có những biến chuyển rất ư là thuận lợi cho trào lưu hòa bình, dân chủ, hợp tác phát triển toàn cầu hãy nắm lấy thời cơ mạnh dạn đứng lên tranh đấu đòi csVN phải tôn trọng Dân Chủ, Nhân Quyền, Tự Do Tôn Giáo.

Chính vì vậy, Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương hàm chứa ý nghĩa rất quan trọng, không những chúng ta đốt ngọn lửa Hùng Vương bừng sáng lại và sống mãi trong tâm thức thôi mà còn thể hiện được tình cảm của mình bằng những hành động rất cụ thể, nói lên tinh thần đoàn kết, hợp tác trong mọi sinh hoạt của các hội đoàn và cộng đồng người Việt Tỵ Nạn cộng sản.

Chúng ta có đoàn kết thì bạn bè mới kính nể, không những kẻ thù hay những nhóm, cá nhân có lề lối sinh hoạt riêng rẻ mà ngay cả người dân của quốc gia cho chúng ta tạm dung từ đó mới kiêng sợ, mới đánh giá tập thể chúng ta cao hơn. Được vậy thì tiếng nói của người Việt lưu vong mới có nhiều giá trị hơn vì đó là tiếng nói của một tập thể có sức mạnh thật sự và từ đó mới hy vọng sẽ góp phần quan trọng trong việc củng cố, phát triển Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản (CĐNVTNCS) ở hải ngoại và xa hơn nữa, khi mà tiếng nói của cộng đồng NVTNCS chúng ta đã mạnh thì mới vang dội xa hơn và sẽ đóng góp tích cực vào công cuộc đổi mới quê hương Việt Nam.

Riêng tại Mỹ, như chúng ta biết là người Việt tỵ nạn cộng sản đã cùng với người bản xứ cứu giúp nạn nhân vụ không tặc xảy ra vào ngày 11.9.2001 và qua cơn bão Katrina, Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản nói chung, đặc biệt tại Houston/Texas nói riêng đã sốt sắng giúp đỡ đồng hương lâm nạn di tản về đây. Tinh thần lá lành đùm lá rách, hay nói theo tinh thần Hùng Vương „bầu ơi, chung giàn“ của CĐNVTNCS dành cho đồng hương VN nói riêng đã làm cho chính quyền địa phương tại Houston/Texas thán phục, kiêng nể và ban khen Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản chúng ta.

Thêm một vinh dự khác để NVTNCS đáng hãnh diện là cựu Tổng Thống Mỹ George H.W. Bush lên tiếng ca ngợi cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản tại Mỹ không những đã tích cực đóng góp vào sự thịnh vượng của nước Mỹ mà còn chia xẻ khó khăn của quốc gia này, qua việc cứu trợ nạn nhân trận bão Katrina vào cuối tháng 8 năm 2005. Và cái vinh dự rất lớn đối với người Việt là một số vị đại diện đã được cựu Tổng Thống Bush tiếp xúc tại văn phòng riêng hôm 01.03.2006, vinh danh CĐNVTNCS tại Houston chính là kết quả đi từ sự đoàn kết nói trên, điều mà chắc chắn đã và sẽ làm cho người Mỹ và các cộng đồng bạn kính nể cũng như có một cái nhìn khác về Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản chúng ta vậy!

Cũng trong tinh thần "tương thân tương trợ" nêu trên, tôi mạn phép chỉ "giới thiệu sơ, nhắc đến vài sinh hoạt cứu trợ thiện nguyện ở Đức quốc.

Tại thành phố Munich, thủ phủ của tiểu bang Bayern (Bavaria), tuy trời đã vào Thu lá vàng rơi rụng bay và thời tiết hơi lành lạnh nhưng hơn 10 năm về trước, nhân ngày kỷ niệm Đức thống nhất 03-10, Ban Chấp Hành đương nhiệm (Nhiệm Kỳ 2002-2003) và thành viên Hội người Việt tỵ nạn Cao Niên_M/B đã vận động, phối hợp với các đoàn thể, tổ chức, Chi Hội Phật Tử VN tỵ nạn tại Muenchen (Munich), Cộng Đoàn Công Giáo VN thuộc Giáo Xứ Nữ Vương Hoà Bình, thân hữu tỵ nạn tại địa phương và vùng phụ cận... đã tổ chức đêm văn nghệ tại hội trường Giáo Xứ St. Wolfgang nhằm mục đích gây quỹ cứu trợ nạn nhân Đức bị cơn lụt lớn tàn phá lúc đó, với ý nghĩa truyền thống rất đẹp "Ăn Trái Nhớ Kẻ Trồng Cây" từ phía người Việt tỵ nạn cộng sản nếu hồi tưởng lại thời điểm người Đức trước đó đã quyên góp tiền giúp cho con tàu Cap Anamur ra khơi để cứu vớt người Việt trốn chạy cộng sản VN, vượt biển Đông đi tìm Tự Do cũng như chính quyền và dân chúng Đức đã mở rộng vòng tay nhân đạo đón nhận "thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam" vào định cư tại Đức.

Chưa hết, cũng tại Đức quốc nhưng ở thành phố Moenchengladbach thuộc tiểu bang Nordrhein-Westfalen người Việt tỵ nạn cộng sản tại đây đã thường xuyên đóng góp trong các sinh hoạt dành cho những sắc dân ngoại quốc của thành phố, đồng thời đã tổ chức những buỗi Thánh Lễ mục đích quyên góp để ủng hộ con tàu Cap Anamur, dự án Gruenhelme... do Tiến sĩ Neudeck, vị ân nhân của "hơn 11 ngàn thuyền nhân Việt Nam tỵ nạn cộng sản !".

Vài thí dụ điển hình kể trên phản ảnh truyền thống của người Việt: "Uống Nước Nhớ Nguồn" cũng như thể hiện tình nghĩa đồng bào đã có từ thời Hùng Vương! Điều này chứng tỏ rằng tuy đa số người Việt tỵ nạn đã trở thành công dân nước đang định cư nhưng trên căn bản vẫn duy trì đặc tính "Bầu ơi, chung giàn" ngay cả với "những người đồng hương mới" của đất nước mà chúng ta vì hoàn cảnh đã chọn làm quê hương thứ hai của mình!

(Người viết nghĩ rằng, những cuộc lạc quyên hay giúp đỡ đồng hương tương tự cũng xảy ra tại các quốc gia khác như Canada, Úc... nhưng vì bài viết có giới hạn nên không thể tìm thêm được tài liệu để bài viết đầy đủ hơn. Mong đồng hương đã từng tham gia, đóng góp vào các công tác thiện nguyện tại các quốc gia ngoài Hoa Kỳ và Đức hoan hỷ cho!).

Trở lại chủ đề chính, Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương.

Nếu Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản (CĐNVTNCS) phối hợp làm được, tổ chức Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương hàng năm, đúng ngày càng tốt (nếu không được thì nên trước hay sau ngày 10 tháng Ba Âm Lich vài ngày thôi vào dịp cuối tuần thì mới hợp tình hợp lý!) ở Âu Châu (Đức, Bỉ, Pháp, Thụy Sĩ, Anh, Na Uy, Đan Mạch, Hoà Lan …) nói riêng và tại các quốc gia khác trên thế giới nói chung, tại những nơi có đông người Việt tỵ nạn cộng sản định cư như Mỹ, Gia Nã Đại hay Úc, chúng ta có thể biến đổi cái rủi từ tháng tư đen 1975, cái rủi của những người xa xứ lưu vong thành cái may và nối tiếp con đường của tiền nhân, của triều đại Hùng Vương hầu từ đó tạo nên được một khung trời Việt Nam mới tại hải ngoại qua những Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản mẫu mực, đoàn kết, phát triển không ngừng, qua những sinh hoạt phản ảnh hình thái văn hóa rất Việt Nam ngay trên mảnh đất tạm dung này để chúng ta hiên ngang, ngạo nghễ sánh vai cùng các cộng đồng của những sắc tộc khác. Và cũng từ đó CĐNVTNCS ở hải ngoại, vốn đã đào tạo rất nhiều nhân tài (Kỹ sư, Luật sư, Kinh tế gia, Tiến sĩ, Bác sĩ, Nha-Dược Sĩ...) từ gần bốn thập niên qua, sẽ lớn mạnh và dồi dào thêm về nhân sự, thành phần trí thức trên phương diện khoa học kỹ thuật, xã hội, kinh tế, tài chánh..v.v... Đây sẽ là những nhân tố rất quan trọng góp phần xây dựng một nước Việt Nam Tự Do, Dân Chủ, Phú Cường nếu nay mai cộng sản cáo chung, điều mà có lẽ tất cả người Việt ai ai cũng hằng ấp ủ, mong đợi xảy ra càng sớm càng tốt!

Đi từ ước mơ này, xin tất cả - nhất là những nhân sĩ có uy tín, đức độ và có khả năng thật sự (chắc chắn không thiếu trong CĐNVTN ở hải ngoại nhưng (có lẽ) vì lý do đặc biệt nào đó đã phải ẩn danh!)- hãy vì quyền lợi chung của tập thể NVTNcs tiếp tay nhau, cùng góp sức để chúng ta đốt sáng lại ngọn lửa và đề cao tinh thần Hùng Vương. Đối với chúng tôi, những người có tuổi, thuộc giới cao niên, chúng tôi mãn nguyện lắm rồi vì ít ra chúng tôi còn được nhìn tận mắt di sản Việt Nam tươi sáng. Còn riêng đối với thế hệ trẻ, qua đó anh chị em trẻ sẽ hiểu thêm được lịch sử và truyền thống dân tộc Việt để có thể tự đào luyện cho chính mình một nếp sống dựa trên tinh thần Hùng Vương, để mai sau giới trẻ sẽ tự hào, hãnh diện biết chừng nào khi đất giàu dân mạnh, khi nhìn thấy con đường tương lai của chính mình, thế hệ hậu duệ của dân tộc và đất nước Việt Nam thênh thang rạng rỡ!

Chính vì vậy, người viết (với khả năng hạn hẹp của mình) thành khẩn kêu gọi quí vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo, quí vị lãnh đạo các hội đoàn, tổ chức, đảng phái quốc gia, quí bậc trưởng thượng và đồng hương tùy theo khả năng cổ xúy và càng tốt nếu cùng chung sức với "ban tổ chức" (mà tôi nghĩ làm việc hoàn toàn bất vụ lợi!) đóng góp cho ngày Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương, làm sống lại tinh thần Hùng Vương của tiền nhân ở hải ngoại này hàng năm, nhằm mục đích xây dựng CĐNVTNCS chúng ta ngày càng mạnh, chặt chẽ hơn hầu từ đó có thể đáp ứng được nhu cầu của Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản ở hải ngoại nói riêng và những biến chuyển thời sự quốc tế liên quan đến Việt Nam, nói chung.

Và điều rất quan trọng, NẾU có thể cố gắng tổ chức đúng ngày hay chỉ xê xích vài ngày thôi vì lý do bất khả kháng. Đi ngược lại nguyên tắc đơn giản mà ai cũng biết này chẳng những "hoàn toàn sai lầm mà còn chỉ dạy không đúng cho giới trẻ", một việc rất nguy hại và nếu suy nghĩ chín chắn là KHÔNG nên làm dù bất cứ vì lý do nào. Từ cái nhìn liên quan đến lịch sử thì lại càng khó giải thích tại sao tự ý thay đổi ngày dù muốn tìm cách ngụy biện!

Có vậy chúng ta nói chung- nhất là những bậc trưởng thượng, cao niên- mới đủ tư cách để dạy dỗ và hướng dẫn giới trẻ hay con cháu được! Và xa hơn nữa mới có thể giải thích rõ ràng cho giới trẻ hay ngay cả đối với người ngoại quốc tò mò muốn tìm hiểu ngày tháng nào thật sự là ngày Giỗ Tổ cũng như vì sao người Việt tổ chức Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương?. Đừng vì một mục đích riêng nào đó (nếu có) tự ý thay đổi "LỊCH SỬ" một cách bừa bãi, tổ chức Lễ Giỗ Tổ trước đó cả 5-6 tuần như có nơi đã làm để mọi người và nhất là người bản xứ KHÔNG đánh giá sai lầm sự hiểu biết của người Việt tỵ nạn cộng sản.

Được như thế thì chúng ta mới giương cao tinh thần Hùng Vương trên quê hương "tạm dung thứ hai" của mình và qua đó, người Việt lưu vong thể hiện rõ nét ý nghĩa tuyệt vời „đoàn kết, bầu ơi chung giàn„ của ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, 10 tháng 3 Âm Lịch!

* © NC_Lê Hoàng Thanh (Nhân Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương 2014)

* Bài viết năm 2007 được hiệu đính (E03-2014)

* Tài liệu tham khảo: 

- Khai quật kho tàng Cổ Sử Hùng Việt (Tác giả BS Nguyễn Xuân Quang)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Trước hết, để tránh mọi ngộ nhận, xin nói ngay rằng đây là chuyện của cá hồi, và chỉ riêng có cá hồi mà thôi. Nói theo tiếng Mỹ là cá hồi only. Chớ còn cá chim, cá chuồn, cá chép, cá chốt, cá lóc, cá lạt, cá lìm kìm, cá mập, cá mú, cá măng, cá cơm, cá cam, cá cờ, cá trê, cá trích, cá trẻm, cá heo, cá hương, cá hố, cá lù đù, cá lìm kìm, cá lia thia, cá đổng, cá đối, cá đèn cầy, cá bè, cá bẹ, cá bống – bất kể là bống kèo, bống dừa, hay bống đá – hoặc bất cứ một loại cá thổ tả nào khác đều hoàn toàn (và tuyệt đối) không có dính dáng gì tới vụ này.
Tôi đến thăm anh vào một buổi chiều cuối năm, trong lúc anh ngồi đối diên với tác phẩm phù điêu“Măt Trời Tự Do”-một công trình anh hoàn thành một năm sau khi anh và gia đình đến Mỹ theo diên H.O. Sau khi mời tôi uống với anh một chén trà ấm, anh kể cho tôi nghe “môt góc đời” của anh: - Tôi là lính trận.
Nhờ bị thất tình, anh Phó tỉnh trở thành nhà thơ. Nhà thơ Nguyên Trần, Nguyễn Tấn Phát. Trên danh nghĩa thì anh chỉ dưới một người mà trên vạn người. Anh là người có quyền lực thứ hai trong tỉnh. Về hệ thống ngang thì các ty sở chuyên môn trong khu vực đều trực thuộc tòa tỉnh.
Tiếng khóc ai oán của chị Nhung con cụ Lê Đình Kình - người bị lực lượng cưỡng chế giết chết ở Đồng Tâm - như một nhát dao xuyên suốt tất cả trái tim những ai lắng nghe nó. Cho dù họ là người của chính quyền hay các nhà hoạt động, những người khác hẳn nhau về chính kiến.
Vừa rời nhà thì trời lấm tấm mưa, đường trơn và tối nên tôi lái xe rất chậm – dù thuở ấy tuổi đời còn trẻ. Phải qua đêm nay, đêm giao thừa, tôi mới bước qua tuổi ba mươi – nếu tính theo âm lịch. Tam thập nhi lập nhưng tôi đang hơi lập cập vì vừa bắt đầu một cuộc đời mới, đời tị nạn.
«Giáo lý của người cách mạng » (*) của Serge Netchaïev là một bản văn gồm có 26 nguyên tắc nền tảng dành rìêng cho người làm cách mạng. Lê-nin, dĩ nhiên, là người thuộc lòng bức cẩm nang này. Đây có thể nói là tài liệu cội nguồn hướng dẫn người cộng sản làm cách mạng cướp chánh quyền, cầm quyền và giữ chánh quyền từ năm 1917 cho tới ngày nay.
Khoảng cách giàu nghèo tăng vọt không những ở Tây Phương mà còn khắc nghiệt hơn nhiều tại các nước đang phát triễn. Hiện Trung Quốc có nhiều tỷ phú hơn Hoa Kỳ trong khi nhiều tập đoàn đại gia mọc lên nhanh chóng ở Ấn Độ, Việt Nam. Ngược lại đa số công nhân vẫn còn sống chui rút trong các ổ chuột ở những thành phố lớn. Hai câu hỏi đặt ra là (1) tại sao tại Á Châu không trổi dậy phong trào dân túy phản kháng như ở Âu-Mỹ, và (2) liệu chênh lệch giàu nghèo trong các nước đang mở mang có sẽ thu hẹp dần hay ngày càng thêm sâu rộng?
Công cuộc Cách mang Công Nghệ lần thứ Tư-CMCN-4.0-đang ập vào nước ta như vũ bão, có tác động sâu sắc tận gốc rễ của xã hội. Do đó bộ Thông tin-Truyền thông đã gửi đi nhiều thông điệp về cuộc CMCN-4.0 tới mọi người dân, mọi gia đình, doanh nghiêp, tổ chức Nhà nước, các đoàn thể xã hội, với hy vọng tận dụng những thành quả của CMCN-4.0 sẽ là công cụ hữu hiệu để Viêt Nam thưc hiện bỏ đi gánh nặng của quá khứ
Điều đáng trân trọng nơi cư sĩ Nguyên Giác là tác giả bám chặt kinh điển và lời dạy của chư Tổ, không dám phóng túng cho nên nội dung có thể khô khan, nhưng “chắc ăn” và nó giúp độc giả ngộ được “Tông Chỉ Phật” mà không lạc vào đường tà.
Bỏ mả, hay bãi mả là điều bắt buộc trong nếp sống du canh. Tục tảo mộ hằng năm, chắc chắn, chỉ bắt đầu khi nhân loại tiến đến giai đoạn định canh. Còn tôi thì phải mãi cho đến cuối 2014, mới được rủ đi tảo mộ (lần đầu) khi đang lơ ngơ giữa một chiều Xuân, nơi đất lạ.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
XEM NHIỀU
(Xem: 6103)
trong nhiều năm qua, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng ở mức hai con số, nhưng tỷ lệ quay trở lại thấp (chỉ từ 10% đến 40%) . Chi tiêu của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam không cao
(Xem: 5166)
Lời tòa soạn: Gần đây, nhiều ý kiến, tranh cãi gay gắt về vai trò và công trạng sáng lập chữ quốc ngữ, đặc biệt xung quanh nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha Alexandre de Rhodes. Việt Báo xin trích đăng lại bài viết của tác giả Mai Kim Ngọc trong mục VVNM năm 2013, bài viết là một tham khảo kỹ lưỡng về chữ quốc ngữ và vai trò của Alexandre de Rhodes, và tác giả đề cập đến sự “vô phép” trong Phép Giảng Ngày khi người tu sĩ Đắc Lộ này nói về Tam Giáo của nước chủ nhà.
(Xem: 4905)
WASHINGTON (VB) -- Sở Hàng Không Liên Bang (FAA) nói rằng ngành hàng không rất là may mắn vì suýt nữa là có thể rớt thêm 15 chuyến bay trên phi cơ Boeing 737 MAX.
(Xem: 4425)
Mỹ đánh thuế lên thép nhập cảng từ Việt Nam lên tới 456% đối với các sản phẩm thép mà VN sử dụng nguyên vật liệu được nhập cảng từ Nam Hàn và Đài Loan, theo bản tin của Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) cho biết hôm 17 tháng 12. Bản tin VOA cho biết thêm thông tin như sau.
(Xem: 3634)
Một viên chức tại một thành phố vùng Vịnh San Francisco Bay Area đưa ra độc chiêu để xóa sổ nạn vô gia cư: một tàu du thuyền khổng lồ có thể chứa tới 1,000 người vô gia cư, trong thời kỳ này giữa lúc chi phí đời sống tăng vọt đắt đỏ và nhà cửa không có đủ.