Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Khủng Bố Đe Dọa: Thật Hay Giả?

13/08/201300:00:00(Xem: 7894)
...chính sách chống khủng bố của TT Obama rất mù mờ, đầy mâu thuẫn...

Tuần vừa qua, khủng bố Hồi giáo cực đoan Al Qaeda “tái xuất giang hồ” khi chính quyền Obama ra lệnh tạm đóng cửa 22 tòa đại sứ và lãnh sự tại 17 quốc gia, phần lớn tại Trung Đông và một số ở Phi Châu, và ra khuyến cáo dân Mỹ không nên du lịch vùng này, cần phải cẩn trọng tối đa nếu có nhu cầu bắt buộc phải đi đến mấy xứ này. Toàn bộ nhân viên toà đại sứ tại Yemen và tòa lãnh sự tại Lahore (Pakistan) đã di tản. Chính quyền Obama cho biết có tin Al Qaeda có thể sẽ mở một đợt tấn công quy mô vào các cơ sở ngoại giao Mỹ, nhưng cũng có thể tấn công các phi trường hay xe lửa hay trung tâm du lịch, nhắm vào du khách Mỹ.

Phối hợp với các chính quyền địa phương, các đường đi vào các cơ sở ngoại giao Mỹ cũng đã bị đóng, và hàng ngàn nhân viên an ninh địa phương đã tuần tra quanh những khu này. Các lực lượng quân sự Mỹ trú đóng tại miền nam Ý Đại Lợi và Tây Ban Nhà cũng đã bị đặt trong tình trạng báo động để có thể được huy động ngay khi cần. Không ai biết những biện pháp quy mô đặc biệt này sẽ kéo dài bao nhiêu lâu, một vài ngày hay thậm chí cả tháng trời, đến sau ngày 9/11 tới, hay lâu hơn nữa.

Quyết định này được lấy khi các cơ quan an ninh Mỹ chắp nối lại nhiều yếu tố đáng quan ngại như gần kỷ niệm ngày 9/11, nhân dịp chấm dứt lễ Ramadan là lễ nhịn ăn lớn trong Hồi giáo, việc đánh phá thả cả ngàn tù nhân khủng bố Hồi giáo tại Iraq, Libya và Pakistan, các biến động chính trị tại Ai Cập và Tunisia, các trao đổi thông điệp, nhắn tin giữa các nhóm bị theo dõi gia tăng mạnh, và cuối cùng là thủ lãnh Al Qaeda, Ayman Al-Zawahiri ra lệnh quân khủng bố “phải làm một chuyện gì ngay”.

Không ai có thể chối cãi những quyết định phòng ngừa này đáng hoan hô, còn hơn là im lặng dấu nhẹm để khủng bố tấn công, giết người rồi chính quyền chối bai bải như trong vụ khủng bố tấn công tòa lãnh sự tại Benghazi cách đây gần một năm, vào dịp kỷ niệm ngày 9/11.

Nhưng vụ cảnh báo với tầm mức lớn lao chưa từng thấy từ ngày 9/11 năm 2001 đã đưa ra ánh sáng một số vấn đề quan trọng đáng bàn.

Trước hết là vấn đề đưa ra các biện pháp cảnh giác mới. Các yếu tố gây chú ý như đã nêu trên thật ra không có gì mới lạ, tất cả đều khá quen thuộc từ hơn cả chục năm nay rồi. Năm nào thì cũng có ngày 9/11 và Ramadan, các biến động chính trị tại Trung Đông kéo dài từ hơn hai năm nay rồi, khủng bố tấn công nhà tù giải thoát đồng bọn xẩy ra thường xuyên từ ngày những nhà tù này được mở ra sau khi Afghanistan và Iraq bị Mỹ tấn công. Thủ lãnh Al Qaeda ra lệnh tấn công Mỹ là chuyện bình thường từ thời TT Clinton, gần hai chục năm nay rồi.

Trên căn bản, thiên hạ không thấy có gì mới lạ khiến các quyết định quy mô như vậy trở thành cần thiết và khẩn cấp. Một vài dân biểu và nghị sĩ trong các tiểu ban lo về an ninh hay quốc phòng, đã khẳng định là nguy cơ khủng bố tấn công có thật và chưa khi nào rõ rệt bằng bây giờ. Nhưng không một người nào có thể xác định khủng bố sẽ làm gì, ở đâu, và khi nào. Thế thì rõ rệt ở điểm nào? Cái gì rõ rệt? Nhân danh bí mật quốc gia, không ai tiết lộ gì hết. Đưa đến tình trạng “Nhà Nước nói dzậy thì dân nghe dzậy, biết dzậy” thôi.

Người ta cũng không thể không thắc mắc tầm vóc của các biện pháp đề phòng. Vì không có chi tiết chính xác gì nên “cẩn tắc vô áy náy”, chính quyền Obama do khuyến cáo của tân Cố Vấn An Ninh, bà Susan Rice, và cố vấn chống khủng bố, bà Lisa Monaco, ra lệnh đóng cửa hơn hai chục cơ sở ngoại giao. Cũng tốt thôi. Nhưng vô hình chung, các biện pháp quy mô kiểu này chỉ chứng tỏ các cơ quan an ninh hoàn toàn mù tịt, chẳng có tin tức gì chính xác hết, chẳng biết khủng bố sẽ đánh ở đâu và khi nào. Al Qaeda có thể vẫn còn mạnh lắm, nhưng không thể mạnh tới mức có khả năng đánh một lúc hai chục cơ sở ngoại giao. Tức là chính quyền Obama gọi là biết mà thật ra chẳng biết gì.

Tầm mức các biện pháp cảnh giác cũng phản ánh việc chính quyền Obama quá rét, quá hoảng sợ. Sau vụ Benghazi tấn công, chính quyền Obama đã có phản ứng kiểu “chim phải ná”. Nhất là khi quyết định đóng cửa hàng loạt cơ sở ngoại giao lại là quyết định của bà Rice, là người trước đây đã bị hố nặng khiến bị chỉ trích đến độ mất luôn cái chức ngoại trưởng mà bà Rice mơ mộng, bây giờ phải cảnh giác cao độ, tới mức hình như quá đáng.

Nhắc lại để quý độc giả rõ, bà Susan Rice là một luật sư, bạn thâm giao với TT Obama từ thời sinh viên. Sau khi TT Obama đắc cử, bà được bổ nhiệm đại sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc cho dù không có kinh nghiệm ngoại giao gì. Hai ngày sau vụ khủng bố Al Qaeda tấn công toà lãnh sự Mỹ tại Benghazi bên Libya hai tháng trước ngày bầu cử tổng thống năm ngoái, tất cả các tai to mặt lớn trong chính quyền, từ TT Obama đến ngoại trưởng Hillary Clinton, bộ trưởng quốc phòng, cố vấn an ninh quốc gia, tổng tham mưu trưởng, … trốn hết, đẩy bà Rice ra trước năm đài truyền hình khẳng định đây không phải là khủng bố tấn công, mà chỉ là phản ứng tự phát của dân chúng Libya bất mãn khi trên YouTube xuất hiện một đoạn phim ngắn bôi bác Tiên Tri Mohamed, cho dù bà chỉ là đại sứ tại Liên Hiệp Quốc, chẳng dính líu xa gần gì đến các biến cố tại Libya, cũng chẳng biết gì về các vấn đề an ninh quốc gia. Bị chỉ trích nặng nề vì đã hy sinh làm con thiêu thân, đóng vai Lê Lai cứu chúa Obama trước ngày bầu cử, bà bị chống đối mạnh khi TT Obama bổ nhiệm bà làm ngoại trưởng khiến bà phải rút lui. Sau đó, vẫn để trả công cứu chúa, TT Obama bổ nhiệm bà làm Cố Vấn An Ninh Quốc Gia, một chức vụ then chốt không cần thượng viện phê chuẩn.

Quyết định của bà Rice dường như cũng phản ánh tình trạng bà là người chưa bao giờ có kinh nghiệm gì về các vấn đề an ninh, tình báo, quốc phòng hết. Trước những tin tình báo về sự đe dọa của Al Qaeda, không biết phải làm gì, thế là đóng cửa luôn hơn hai chục cơ sở và ra khuyến cáo cảnh giác tất cả mọi người cho chắc ăn. Mai này nếu xẩy ra chuyện gì thì cũng có thể nói là “chúng tôi biết trước và đã có cảnh giác thiên hạ rồi”. Vấn đề là một cách cụ thể, các cảnh giác chung chung này chắc sẽ chẳng giúp ai được gì nhiều.

Quyết định của bà Rice cũng quan trọng ở điểm quốc hội vẫn còn chưa điều tra xong vụ Benghazi. Hành động mạnh của bà Rice sẽ chứng minh bà là người rất quan tâm về vấn đề các đe dọa của khủng bố, chứ không phải là người lơ mơ như vụ Benghazi cho thấy.

Một yếu tố quan trọng khác cũng cần phải được nêu lên. Trong bối cảnh chính quyền Obama qua cơ quan NSA đang bị chỉ trích nặng về tội nghe lén và theo dõi cả thế giới, bạn thù, và cả dân Mỹ, việc tung ra con ngáo ộp vĩ đại Al Qaeda hiển nhiên có mục đích nhấn mạnh yếu tố khủng bố vẫn đe dọa mạnh nước Mỹ, do đó nhu cầu nghe lén của NSA để chống khủng bố là một nhu cầu có thật.

Rất có thể đe dọa của Al Qaeda lần này có thật và tổ chức này thật sự đang có kế hoạch tấn công Mỹ rất quy mô, nhưng khó ai có thể không liên kết câu chuyện NSA nghe lén với các biện pháp cảnh giác lớn lao hiện nay. Và kế hoạch tấn công của Al Qaeda nếu có thật, quả là một món quà trời cho –hay Al Qaeda cho- để chính quyền Obama biện minh cho việc nghe lén thiên hạ, giảm bớt lo ngại và chống đối của dân chúng, cũng như vô hiệu hoá phần nào những chống đối của phe đối lập Cộng Hòa.


So với các vấn đề nêu trên, thì có một việc còn đáng lưu ý hơn nhiều. Đó là vấn đề sức mạnh thực sự của Al Qaeda hiện giờ.

Suốt trong năm 2008, khi còn tranh cử tổng thống, TT Obama đã làm và nói đủ cách để chứng minh chính quyền Obama đã giải quyết xong phần lớn vấn đề khủng bố Al Qaeda, nhất là sau khi thành công giết được Bin Laden.

Trong Đại Hội đảng Dân Chủ, cả chục bài diễn văn đã nhấn mạnh sự thoi thóp của tổ chức khủng bố này. Ngay chính TT Obama cũng nhắc đi nhắc lại, Al Qaeda bây giờ chỉ là một cái bóng mờ của Al Qaeda thời 9/11, và đang vắt chân lên cổ chạy trốn sự truy đuổi của Mỹ (“on the run”). Một trong những khẩu hiệu tranh cử được nhai đi nhai lại nhiều nhất là “GM alive, Osama dead”, ý muốn nhấn mạnh hai thành quả lớn: cứu hãng xe General Motors và giết Bin Laden.

Trong tình trạng thành quả ít oi và yếu kếm, khẩu hiệu trên đã là một trong những yếu tố quan trọng nhất dùng để đánh giá thành quả của chính quyền Obama trong nhiệm kỳ đầu, đưa đến thắng lợi lần thứ hai của TT Obama.

Theo ông Aaron Zelin, một chuyên gia của Viện Chính Sách Cận Đông Washington -Washington Institute for Near East Policy-, sự thật là Al Qaeda đã không ngừng lớn mạnh trong suốt mấy năm qua. Cái chết của Bin Laden thực ra đã đóng vai trò biểu tượng lớn để kích động sự lớn mạnh hơn nữa của phong trào khủng bố của Hồi Giáo quá khích.

Thành quả tiêu diệt Al Qaeda mà TT Obama quảng bá gần đây đã bị đặt lên bàn cân thảo luận lại khi NSA bị lộ ra là đã có những chương trình theo dõi dân Mỹ một cách cực kỳ quy mô. Sau cả năm trời quảng bá Al Qaeda đang hấp hối, các tên đầu xỏ Al Qaeda bị giết điều chi bằng máy bay không người lái, bất thình lình con quái vật Al Qaeda lại trở thành một đe dọa cực kỳ lớn lao, đòi hỏi việc chính quyền Mỹ cần phải đề cao cảnh giác, theo dõi sát nút cả triệu dân Mỹ, cũng như dân và chính quyền các nước đồng minh luôn.

Từ đó, khó có thể tránh được tình trạng nhiều người thắc mắc không hiểu đâu là sự thật? Al Qaeda đã thoi thóp từ nhiều năm nay như TT Obama xác định khi ra tranh cử, rồi bất thình lình hồi sinh lại? Hay là Al Qaeda chưa khi nào yếu thế và tất cả những xác định trước đây của TT Obama chỉ là khoác lác vì nhu cầu tranh cử?

Ký giả da đen Eugene Robinson viết trên Washington Post diễn giải giùm TT Obama. Theo ông này, TT Bush khi đánh Iraq đã lơ là chuyện tiêu diệt Al Qaeda khiến tổ chức này có dịp phát triển và đẻ ra hàng chục Al Qaeda con rải rác khắp thế giới, đưa đến tình trạng dù Bin Laden và hàng chục lãnh tụ Al Qaeda bị TT Obama giết, Al Qaeda chính đã chết, nhưng các Al Qaeda con đã ra đời hàng loạt. Ông Robinson có lẽ đã đọc Tây Du Ký nên mới nghĩ đến chuyện Tôn Ngộ Không, nhổ lông tung ra biến thành cả trăm Tôn Ngộ Không con. Đổ thừa cho TT Bush từ 5 năm qua đã trở thành lời giải thích cho tất cả mọi khó khăn hay thất bại của TT Obama, từ kinh tế đến chính trị, xã hội, khủng bố, ngoại giao,... TT Obama được bầu vào Tòa Bạch Ốc chỉ để có dịp đánh gôn hay đưa vợ con đi du lịch thế giới thôi, thành ra không thể trách ông ta được chuyện gì.

Thực tế cho thấy chính sách chống khủng bố của TT Obama rất mù mờ, đầy mâu thuẫn, không có gì trong sáng cho mọi người biết rõ đâu là đâu.

Điển hình là một mặt TT Obama đi lòng vòng xin lỗi Hồi giáo và các xứ Ả Rập, hứa hẹn một chính sách thân thiện, cảm thông, và tương kính nhiều hơn, nhưng lại tung ra hàng loạt các cuộc đột kích giết quân khủng bố bằng máy bay không người lái trên lãnh thổ các nước Hồi giáo, bất kể các nước này chấp nhận hay không, không cần biết chủ quyền quốc gia của họ.

Một thí dụ khác là thái độ đối với các cuộc cách mạng tại Trung Đông, từ Tunisia, Ai Cập, Jordan đến Libya. Đặc biệt là tại Ai Cập, trước đây là đồng minh quan trọng nhất trong vùng, sau Do Thái. Đồng minh với TT Mubarak, rồi phản lại, nhắm mắt để ông này bị lật đổ, bắt tay với tổ chức Hồi Giáo quá khích Huynh Đệ Hồi Giáo –Muslim Brotherhood-, rồi lại quay qua ôm các tướng lãnh lật đổ TT Morsi của nhóm Huynh Đệ. Một chính sách không có chính sách nhất định, chỉ là một loạt phản ứng nhất thời, nhẩy qua nhẩy lại. Có thể gọi là thời cơ chủ nghĩa, lăng ba vi bộ, hay không biết phải làm gì.

Chưa kể thái độ đối với Al Qaeda. Trong nội bộ xứ Mỹ thì đây đúng là kẻ thù không đội trời chung, phải truy sát đến tận cùng. Nhưng tại Trung Đông thì Al Qaeda tuy vẫn là kẻ thù tại một vài nơi như Yemen, Ả rập Saudi, lại trở thành... đồng minh tại vài nơi khác như Libya và Syria, nơi mà Al Qaeda nằm trong các tổ chức chống các chính quyền đương nhiệm. Mỹ trực tiếp can thiệp, chiến đấu bên cạnh Al Qaeda đề lật đổ Khaddafi, trong khi viện trợ vũ khí cho Al Qaeda để lật đổ TT Assad tại Libya. Thế thì Al Qaeda tóm lại là kẻ thù hay đồng minh? TT Obama, cựu ngoại trưởng Hillary Clinton và đương kim ngoại trưởng John Kerry, chẳng ai có câu trả lời rõ rệt hết. Lời giải thích của TT Obama: “vấn đề khó lắm” (very difficult!). Không thấy ký giả Robinson bàn về việc Al Qaeda lớn mạnh có phải nhờ viện trợ quân sự của chính quyền Obama tại Libya và Syria hay không.

Ngay cả chính sách chống khủng bố trong nước cũng chẳng có gì rõ rệt.

Chuyện anh thiếu tá quân y Nidal Hasan rút súng bắn chết một tá quân nhân chiến hữu tại Fort Hood không bị coi là khủng bố, mà chỉ là “bạo động tại sở làm” –workplace violence-, bất kể những lời tuyên bố của anh khẳng định anh là người đã nổ súng để giết bớt những kẻ thù của Taliban. Quan toà trong vụ xử này cũng đã cấm bên công tố viện không được mang những emails trao đổi giữa anh Hasan với trùm khủng bố Al Awlaki trước khi tên này bị giết chết bằng máy bay không người lái cách đây hơn một năm tại Yemen.

Tức là tìm cách xử một tên khủng bố nhưng bằng mọi giá tránh liên hệ hắn đến vấn đề khủng bố. Đến độ những nạn nhân của tên Hasan đã không được coi như chiến binh bị chết hay bị thương vì chiến tranh chống khủng bố, không được những quyền lợi như vậy. Một quân nhân bị Hasan bắn đã phải dùng tiền túi để trả tiền mổ gắp đạn ra và thuốc men chữa trị, vì không phải là nạn nhân chiến cuộc nên không được bộ Quốc Phòng lo, trong khi Hasan thì được chữa trị đầy đủ miễn phí những vết thương do cảnh sát bắn.

Al Qaeda đang vắt chân lên cổ chạy trước sự truy đuổi của chính quyền Obama như TT Obama đã khẳng định từ lâu nay? Hay chính quyền Obama đang vắt chân lên cổ chạy trốn trước đe dọa tấn công của Al Qaeda như các biện pháp an ninh mới đây cho thấy? Hay chính quyền Obama đang mang ngáo ộp ra hù dọa thiên hạ vì mục tiêu chính trị?

Al Qaeda là một nguy cơ thực sự cho sự an toàn của chúng ta, và mọi biện pháp phòng ngừa đều đáng cân nhắc và hoan nghênh khi chính đáng. Nhưng những tuyên cáo và quyết định tréo cẳng ngỗng của chính quyền Obama chỉ khiến thiên hạ mù mờ không biết được khi nào là nguy cơ thật khi nào là hù dọa vì mục tiêu chính trị nội bộ. (11-08-13)

Vũ Linh

Quý độc giả có thể liên lạc với tác giả để góp ý qua email: Vulinh11@gmail.com. Bài của tác giả được đăng trên Việt Báo mỗi thứ Ba.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Sự tăm tối và độ hoang tưởng của các chú – xem ra – cũng ngang ngửa với các bác, chứ chả kém cạnh gì. Cỡ Lê Duẩn, Đỗ Mười, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Xuân Phúc… e cũng chỉ “ngoan cố” và “ngu dốt” đến cỡ đó là cùng. Tuổi trẻ và những năm du học, ngó bộ, không giúp cho các chú đỡ “gù” hơn các bác bao nhiêu. Vậy mà các chú vẫn được coi như những ngôi sao đang lên (rising stars) trên chính trường nước Việt, một đất nước là vô phúc. Thiệt là họa vô đơn chí!
Trump có tâm tính độc tài nhưng nhiều cử tri vẫn ủng hộ tin rằng nền dân chủ Mỹ sẽ tiếp tục đứng vững cho dù có phải chao đảo thêm bốn năm nửa do những quyết định độc đoán của Trump. Cho nên bỏ phiếu cho Trump là cái giá cần phải trả vì Trump chống Tàu và sẽ ngăn chận khuynh hướng xã hội chủ nghĩa của phe cấp tiến trong đảng Dân Chủ. Điều này chẳng khác gì bán linh hồn cho ác quỷ vì không kẻ nào thương lượng với quỷ dữ trước đó nghĩ rằng mình sẽ suốt đời trở thành nô lệ cho cái ác.
(Lời người dịch: Là một trong những nhân vật cuối cùng còn sót lại của nhóm Big Six, sáu lãnh tụ chính yếu của phong trào dân quyền Hoa Kỳ vào thập niên 60, Dân Biểu John Lewis vừa qua đời vào ngày 17/07/2020 vừa qua, hưởng thọ 80 tuổi. Tốt nghiệp Thần Học và trở thành Mục sư, Dân Biểu John Lewis đã sát cánh cùng Mục Sư Luther King Jr. để trở thành một biểu tượng của phong trào dân quyền và nhân quyền Hoa Kỳ, cũng như là một dân biểu Quốc Hội có tầm ảnh hưởng lớn lao trong suốt hơn 30 năm qua. Tang lễ của ông được tổ chức trang trọng với sự tham dự và phát biểu của các tổng thống tiền nhiệm như Bill Clinton, George W. Bush và Barack Obama. Chúng tôi xin lược dịch bài điếu văn của Tổng Thống Obama đọc trong tang lễ của ông vừa được tổ chức tại thành phố Atlanta, Georgia hồi cuối tuần qua).
Ngày 24/6/2020, Cố vấn an ninh quốc gia Robert O’Brien nêu lên một sự thật phũ phàng là gần nửa thế kỷ qua các chính trị gia cả hai đảng, các nhà khoa bảng, nhà giáo dục, nhà báo, nhà kinh doanh Mỹ đều thụ động và ngây thơ (passivity and naivety) trước Trung cộng. Người Mỹ không biết sự khác biệt giữa người dân Trung Hoa và đảng Cộng sản, một tổ chức theo chủ nghĩa Marxist-Leninist, mà Tập Cận Bình là hiện thân của Joseph Stalin.
Giống như hầu hết các nước trên thế giới, Hoa Kỳ đang cố gắng vượt qua trận đại dịch COVID-19 và cuộc suy thoái kinh tế trầm trọng do lệnh đóng cửa của chính phủ. Tính theo tỷ lệ thường niên, nền kinh tế Mỹ đã giảm 5% trong quý đầu năm 2020 và trong quý hai vừa kết thúc, có thể giảm đến 40%, mức suy sụp mạnh nhất kể từ thời Đại Suy thoái năm 1930. Hơn nữa, hàng chục triệu công nhân đã mất việc, khiến tỷ lệ thất nghiệp trong tháng Tư tăng vọt lên mức cao sau Đại Khủng hoảng là 14,7%. Dù 70% những người bị sa thải hy vọng sẽ được gọi làm việc lại, nhưng không phải tất cả sẽ có việc, vì nhiều doanh nghiệp sẽ sát nhập, di dời hoặc tổ chức lại. Đúng vậy, lúc đầu, sự mở cửa lại của nền kinh tế đã dẫn đến tình trạng phục hồi mạnh mẽ, nó được dự kiến là sẽ tiếp tục trong quý ba. Việc làm đã tăng 2,5 triệu trong tháng Năm, trong khi dữ liệu từ các thẻ tín dụng và theo dõi di động cho tháng Năm và tháng Sáu cho thấy, mức phục hồi khá lớn từ lúc thấp trong tháng Tư, với hoạt động trong
Bộ Ngoại giao Cộng sản Việt Nam đã kín đáo bắn tiếng muốn Mỹ nhảy vào giải quyết xung đột ở Biển Đông, nhưng Bộ trưởng Ngoại giao Vương Nghị của Trung Cộng đã cảnh giác Việt Nam “không dành bất cứ cơ hội nào cho sự quấy rối và phá hoại của thế lực bên ngoài”. Đề nghị bán chính thức của Việt Nam đưa ra ngày 17/7/2020, bốn ngày sau khi Bộ trưởnng Ngoại giao Mỹ, Mike Pompeo gọi hành động đe dọa các nước nhỏ để chiếm đoạt và mưu toan cướp chủ quyền nguồn tài nguyên ở phần lớn Biển Đông của Trung Quốc là “phi pháp”.
Tôi tình cờ “nhặt” trên FB một tác phẩm khá độc đáo của Marc Riboud. Ông “chớp” được cảnh một anh bộ đội (với con búp bê nằm dưới nắp ba lô, và cái sắc cầm tay) đang trên đường trở về quê cũ. Cùng với bức ảnh là lời bình, cũng độc đáo không kém, của face booker Nguyễn Hoàng : “Thằng này coi vậy mà hiền, chỉ lấy con búp bê cho con và cái bóp đầm cho vợ mà thôi.”
Tất cả họ đều nói cùng một giọng, và làm chung một điệu – theo nhận xét của Huỳnh Ngọc Chênh: Ông Đinh Thế Huynh bị bệnh nặng phải qua Nhật chữa. Trước đó ông Phùng Quang Thanh thì đi Pháp, ông Nguyễn Bá Thanh thì bỏ cả tiền triệu đô la qua tận nước Mỹ để nhờ họ cứu mạng. Nghe nói hai ông Chung và Thưởng vừa rồi lâm bệnh cũng đi Nhật và Pháp điều trị.
Vào thời Ronald Reagan làm tổng thống gần 40 năm trước, hầu hết người Mỹ lấy tin tức từ tờ báo và các đài truyền hình địa phương. Những tổ chức này có tính chuyên nghiệp, dồi dào tài chính, và cố gắng đăng tải quan điểm của cả đảng Cộng hòa lẫn Dân chủ. Người dân đồng thuận về sự thật nói chung, và bất đồng về phương cách giải quyết. Những công ty này cũng đưa ra sự thật, vì họ sẽ mất quảng cáo, mất độc giả dài hạn và có thể bị tòa án phạt nếu họ loan tải tin giả, nhất là nếu tin giả đó gây ra tai hại cho người khác.
Chiều Thứ Ba 21 Tháng 7 Năm 2020, hoàn toàn bất ngờ, Lãnh Sự Quán Trung Cộng tại Houston, Texas nhận được quyết định của chính phủ Hoa Kỳ đóng cửa lãnh sự quán của họ, và toàn thể nhân viên trong lãnh sự này có 72 giờ đồng hồ để thu xếp ra khỏi trụ sở này và trở về Hoa Lục. Đồng hương người Việt tại Houston, tiểu bang Texas, Hoa Kỳ, đã đổ xuống đường biểu tình ăn mừng, và cộng đồng người Việt khắp nơi trên thế giới đón nhận tin vui này như nắng hạn gặp cơn mưa rào.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
Người Việt Phone
Không còn nghi ngờ gì nữa, khẩu trang đã đóng một vai trò trung tâm trong các chiến lược đối đầu với dịch bệnh COVID-19 của chúng ta. Nó không chỉ giúp ngăn ngừa SARS-CoV-2 mà còn nhiều loại virus và vi khuẩn khác.
Hôm thứ Hai (06/07/2020), chính quyền Mỹ thông báo sinh viên quốc tế sẽ không được phép ở lại nếu trường chỉ tổ chức học online vào học kỳ mùa thu.
Đeo khẩu trang đã trở thành một vấn đề đặc biệt nóng bỏng ở Mỹ, nơi mà cuộc khủng hoảng Covid-19 dường như đã vượt khỏi tầm kiểm soát.
Trong khi thế giới đang đổ dồn tập trung vào những căng thẳng giữa Mỹ với Trung Quốc, thì căng thẳng tại khu vực biên giới Himalaya giữa Trung Quốc và Ấn Độ vào tháng 05/2020 đã gây ra nhiều thương vong nhất trong hơn 50 năm.
Ủy ban Tư pháp Hạ viện Mỹ cho biết các CEO của 4 tập đoàn công nghệ lớn Amazon, Apple, Facebook và Google đã đồng ý trả lời chất vấn từ các nghị sĩ Quốc hội về vấn đề cạnh tranh trong ngành công nghệ.