Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Chuyện Tưởng Nhỏ Mà To Ở Việt Nam

19/07/201300:00:00(Xem: 5783)
Ở Việt Nam thời Cộng sản năm 2013 nhiều chuyện xẩy ra cho đất nước được người Việt trong và ngòai nước quan tâm lo lắng nhưng chưa hẳn đã là chuyện “mất ăn, mất ngủ” đối với nhiều viên chức lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quốc hội.

Sau đây là một chuyện đáng nói ấy:

Chuyện này thuộc về Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang, người đã “gật đầu” hay “phải đồng ý” với 10 văn kiện được gọi là “hợp tác chiến lược tòan diện” với Trung Cộng trong chuyến ông thăm Bắc Kinh và Qủang Đông từ 19 đến 21/06/2013.

Nội dung các Thỏa hiệp này được viết gọn trong Tuyên bố chung 8 điểm ai đọc cũng thấy rất bất lợi và có thể dẫn đến nguy cơ mất tòan vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Việt Nam.

Tiêu biểu nhất là sự hợp tác ở biên giới, kinh tế, quốc phòng, ngọai giao, giữa 2 đảng, 2 Bộ Công an, ở Vịnh Bắc Bộ và trên tòan cõi Biển Đông được lồng vào chiêu bài 16 chữ vàng và tinh thần 4 tốt do người Trung Quốc đặt ra cho đảng Cộng sản Việt Nam làm theo, đó là: “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”.

Nhưng hành động dành đất, chiếm biển Việt Nam của Trung Cộng đã bắt đầu từ thời Đặng Tiểu Bình, người đã xua trên 600,000 quân qua biên giới tấn công 6 Tỉnh của Việt Nam tháng 2/1979, và sau đó chiếm núi Lão Sơn (điểm cao 1509), thuộc tỉnh Hà Tuyên (nay là Hà Giang) trong cuộc chiến tranh biên giới thứ 2 từ 1984 đến năm 1989 đem chiến thắng về cho Trung Cộng.

Đặng Tiểu Bình cũng là người đưa ra chủ trương “Biển Đông của ta, hãy gác tranh chấp để cùng khai thác”, nhưng các lãnh đạo Trung Cộng thừa kế sau này đã “giấu đi” mấy chữ “Biển Đông của ta” để đánh lừa Việt Nam và các nước láng giềng mỗi khi Bắc Kinh phải nói chuyện tranh chấp chủ quyền với các nước trong khu vực.

Sau đó đến phiên hai Chủ tịch Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào và bây giờ là Tập Cận Bình cũng đều miệng nói hòa bình “vừa là đồng chí, vừa là anh em” nhưng trong bụng chứa đầy dao găm, hành động ngược lại, nhưng trắng trợn và hung hãn hơn người đi trước.

THỜI TẬP CẬN BÌNH

Đối với Chủ tịch Tập Cận Bình, sau khi nhận chức Tổng Bí thư đảng Cộng sản Trung Quốc tháng 11/2012 thì ông đã làm những việc như sau:

- Triệt để thi hành chính sách bảo vệ chủ quyền biển của Trung Cộng ở Biển Đông, coi Biển Đông là “quyền lợi cốt lõi” không thể thay đổi như đối với Tây Tạng và Đài Loan.

- Ra lệnh cho Hải quân, Thủy Quân Lục Chiến tập trận ở Biển Đông, quanh khu vực Hòang Sa và Trường Sa; tập đổ bộ lên các đảo ở Hòang Sa của Việt Nam mà Trung Cộng đã chiếm từ tay Quân lực Việt Nam Cộng Hòa tháng 1/1974.

- Tăng cường lực lượng Hải quân đến bãi cạn Scarborough/Hoàng Nham tranh chấp với Phi Luật Tân.

- Tăng cường cơ cấu chính quyền và di dân đến Hòang Sa của Việt Nam. Sau đó vào ngày 17/7 (2013), Trung Cộng đã chính thức cấp giấy Chứng Minh Cư trú cho dân Thành phố Tam Sa có Tòa Thị Chính đặt tại đảo Phú Lâm (Hòang Sa).

- Tiếp tục thi hành lệnh cấm ngư dân đánh bắt ở Biển Đông từ tháng 5 đến tháng 8, nhưng lại cho các tầu Hải quân Trung Cộng trá hình Hải Giám có võ trang đi hộ tống các thuyền đánh cá của ngư dân Trung Quốc xuất phát từ đảo Hải Nam đi đánh bắt tại các ngư trường của ngư dân Việt Nam.

- Chuẩn bị đào dầu ở Biển Đông, kể cả trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, bất chấp phản đối của Việt Nam, Phi Luật Tân và Mã Lai Á có tranh chấp chủ quyền với Trung Cộng.

- Cho xây dựng các đồn Quân sự và nghiên cứu trong khu vực 8 đảo đá ngầm, kể cả bãi Gạc Ma trong cụm Sinh Tồn mà Trung Cộng đã đánh chiếm của Việt Nam năm 1988.

- Tiếp tục ngăn cản, bắn phá, đánh đập và cấm các thuyền đánh cá của Việt Nam đến đánh bắt ở vùng Hòang Sa.

- Tiếp tục để tầu Trung Cộng xâm nhập sâu vào quấy phá và đánh bắt ở vùng biển Việt Nam, kể cả khu vực biển Đà Nẵng và Hải Phòng.

- Cho tầu Hải giám đe dọa, phá rồi và cắt cáp các tầu khảo sát của Tổng Công ty dầu khí Việt Nam họat động trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Vậy mà ông Trương Tấn Sang vẫn có thể quên đi những việc của ông Tập Cận Bình và quên luôn cả chuyện “hình Lưỡi Bò” tự vẽ của Trung Cộng chiếm từ 80 đến 85% diện tích Biển Đông để cùng với Chủ tịch Trung Cộng “nhất trí cho rằng tình hữu nghị Việt - Trung là tài sản chung quý báu của nhân dân hai nước, khẳng định sẽ tuân theo các nhận thức chung quan trọng mà Lãnh đạo hai nước đã đạt được trong những năm qua về phát triển quan hệ hữu nghị Việt – Trung” !

Hai nước Việt-Trung, trong chuyến đi của ông Trương Tấn Sang còn cam kết: “Trước khi tranh chấp trên biển được giải quyết dứt điểm, hai bên nhất trí giữ bình tĩnh và kiềm chế, không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp, đồng thời sử dụng tốt đường dây nóng quản lý, kiểm soát khủng hoảng trên biển giữa Bộ Ngoại giao hai nước, xử lý thỏa đáng các vấn đề nảy sinh với thái độ xây dựng, không để các vấn đề này ảnh hưởng đến đại cục quan hệ Việt - Trung cũng như hòa bình, ổn định tại Biển Đông. Hai bên nhất trí thực hiện toàn diện, có hiệu quả “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC, Declaration of Conduct), cùng nhau duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Đông.”

Nhưng khi chữ ký của phái đòan Trương Tấn Sang chưa ráo mực thì vào ngày 7/7 (2013) 2 tàu cá của hai ông Võ Minh Vương và Mai Văn Cường (huyện đảo Lý Sơn) đã bị lính Trung Cộng tấn công, đánh đập dã man, bẻ cờ Việt Nam vứt xuống biển và tịch thu lưới cụ, nhiên liệu và cướp hải sản khi họ đang đánh bắt ở Hoàng Sa.

Hai thuyền trưởng báo cáo bị thiệt hại 400 triệu đồng nhưng mãi cho đến ngày 17/7, người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Lương Thanh Nghị mới cho biết: “Đại diện Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gặp đại diện Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội trao công hàm phản đối hành động trên của phía Trung Quốc, yêu cầu phía Trung Quốc nghiêm túc điều tra, xử lý nghiêm khắc việc làm sai trái nói trên, bồi thường thỏa đáng cho ngư dân Việt Nam và không để tái diễn các vụ việc tương tự.”

Liệu phía Trung Cộng có điều tra và bồi thường cho ngư dân Việt Nam hay không thì chưa biết, nhưng Tuyên bố chung giữa hai nước trong chuyến thăm của ông Sang đã xác định: “Hai bên sẽ tiếp tục thực hiện tốt “Hiệp định hợp tác nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ”; tích cực nghiên cứu phương thức kiểm tra liên hợp mới tại khu vực đánh cá chung ở Vịnh Bắc Bộ.”

Như vậy là sau khi Việt Nam đồng ý tìm kiếm dầu chung trên ranh giới phân chia Vịnh Bắc Bộ với Trung Cộng, nhưng thực tế nằm sâu trong phần biển của Việt Nam từ 3 đến 12 Hải lý (mỗi Hải lý dài 1,852 mét), bây giờ hai nước lại tính chuyện “đánh cá chung” thì có phải Việt Nam đã nhượng bộ Trung Cộng, như đã viết trong 6 Điểm được gọi là “Nguyên tắc giải quyết vấn đề trên biển Việt-Trung” được ký giữa Tổng Bí thư đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch Nhà nước Trung Cộng Hồ Cẩm Đào ngày 11/10/2011 ?

Ngòai ra, ông Sang còn bằng lòng để cho 4 tỉnh và vùng tự trị của Trung Cộng ở dọc biên giới gồm Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam và Vân Nam được quyền hợp tác kinh tế, giao dịch thương mại và nhiều lĩnh vực khác với 7 tỉnh của Việt Nam gồm Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh.

Hai nước, theo Tuyên bố chung, còn: “Nhất trí thực hiện nghiêm túc Kế hoạch công tác năm 2013 của Ủy ban Liên hợp biên giới trên đất liền hai nước; đánh giá tích cực việc hai nước thành lập Ủy ban hợp tác quản lý cửa khẩu biên giới trong chuyến thăm lần này; đồng ý thúc đẩy việc mở và nâng cấp các cửa khẩu biên giới giữa hai nước; tăng cường xây dựng và quản lý cơ sở hạ tầng của các cửa khẩu biên giới, cải thiện điều kiện và nâng cao hiệu quả thông hành cho người, hàng hóa, phương tiện qua cửa khẩu nhằm phục vụ việc qua lại và phát triển kinh tế - thương mại giữa hai nước.”

Nhưng nếu 7 tỉnh của Việt Nam mà chỉ đánh đổi thương mại với 4 Tỉnh của Trung Cộng thì phần thiệt rõ ràng đã nằm trong tay Việt Nam !

Ngòai ra Trung Cộng còn thúc hối Việt Nam: “Sớm khởi động việc xây dựng cầu Bắc Luân II Việt - Trung. Hai bên nhất trí tổ chức vòng đàm phán mới “Hiệp định về quy chế tàu thuyền đi lại tự do tại khu vực cửa sông Bắc Luân” và “Hiệp định về hợp tác và khai thác phát triển du lịch khu vực thác Bản Giốc” vào nửa cuối năm nay, cố gắng sớm đạt được tiến triển thực chất. Hai bên sẽ tăng cường trao đổi và hợp tác kỹ thuật trong các lĩnh vực quản lý sông suối biên giới, phòng chống thiên tai lũ lụt, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước trên sông suối xuyên biên giới.”

Mọi người đều biết “Hiệp ước về Biên giới đất liền” giửa Việt Nam và Trung Cộng, ký dưới thời Tổng Bí thư đảng Lê Khả Phiêu, đã để mất Ải Nam Quan và 2/3 thác Bản Giốc và nhiều ngàn mẫu đất ở biên giới, nhưng không hiểu nổi tại sao Quốc hội và số người được chế độ gọi là “các nhà Khoa học” đã không dám mở cuộc điều tra hay chất vấn chính phủ xem đã mất bao nhiều đất vào tay Trung Cộng ?

Giờ đây, cũng không thấy ai trong số 500 Đại biểu Quốc hội và hàng hà sa số “các nhà khoa học” chỉ biết ngửa tay nhận lương dám hỏi ông Trương Tấn Sang đã nhân danh ai mà dám ký 10 Thỏa hiệp “hợp tác chiến lược tòan diện” với Trung Cộng ?

Cũng chả thấy ai thắc mắc hỏi tại sao Chủ tịch Sang đã không đả động gì đến lập trường giải quyết tranh chấp chủ quyền ở Biển Đảo của Việt Nam đòi phải căn cứ vào Luật pháp Quốc tế và Luật biển 1982 của Liên Hiệp Quốc, cũng như những chứng cứ của Lịch sử chứng minh Hòang Sa và Trường Sa là của Việt Nam ?

Về phần mình, chỉ thấy ông Sang nói với cử tri Sài Gòn hôm 24/6 (2013) rằng: “Tranh chấp Biển Đông là vấn đề hệ trọng, để đi đến giải quyết triệt để, dứt điểm không phải một sớm một chiều vì lập trường hai bên hoàn toàn khác biệt nhau. Cho nên phải bình tĩnh, xem xét kỹ vấn đề trên cơ sở giữ vững độc lập chủ quyền, đường lối của chúng ta, chúng ta không làm phương hại đến bất cứ quốc gia nào khác”.

“Một cuộc thăm và làm việc, một cuộc gặp gỡ đối ngoại không thể giải quyết một cách triệt để hết được. Vùng chúng ta tuyên bố chủ quyền trên biển khoảng 3 triệu km2, mà không phải chỉ ta với Trung Quốc mà còn Philippines, Indonesia, Malaysia... Cho nên phải giải quyết từng bước. Phương châm là phải làm dần dần”.

Tuy nhiên “làm dần dần” đối với Việt Nam, như đã chứng minh trong nhiều năm gần đây là “cứ ì ra đấy”, hay “chẳng làm được gì cà”, ngoài việc phản đối cho đỡ ngượng như Bộ Ngọai giao vẫn làm mỗi khi có các vụ tầu cá ngư dân bị lính Tầu tấn công. -/-

Phạm Trần
(07/013)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Trước đây, các cuộc đụng độ giữa Israel và Palestine đã thường diễn ra tại Jerusalem và Dải Gaza. Các yếu tố tác động khẩn thiết cho mối xung đột là tình trạng đe dọa cưỡng chế trục xuất các gia đình Palestine hoặc các buổi lễ kỷ niệm của Do Thái giáo tại Tempelberg. Thực ra, chiến cuộc còn bắt nguồn từ các sự kiện lịch sử khác mà các xung đột về thành phố Jerusalem và điện thờ Tempelberg đóng một vai trò chính cho sự leo thang.
Đọng trên hoa, trên lá, giọt sương năm xưa gợi ra cõi trong vắt, bình an, đẩy hồn ta vào chốn không bến không bờ, mênh mông, tịch mịch. Những đêm không trăng sao, ta cũng thấy trong cõi mịt mùng sự an hòa, tĩnh mịch ấy. Nhưng cõi tịch mịch của thăm thẳm trời đêm thì lạnh lẽo, vô hồn. Cõi mênh mông cảm từ giọt sương có phơn phớt nắng mai, thấp thoáng màu lá, màu hoa, bao giờ cũng ấm áp, man mác niềm vui nhẹ nhàng, thanh thoát như sương khói, như tơ. Giọt sương quen thuộc, thân yêu ấy đã biến mất, đã trôi vào quá khứ cùng lịch sử của vũ trụ mất rồi. Dù vẫn giữ hình thái, dung nhan của muôn triệu năm trước, giọt sương hôm nay đang mang trong lòng một sự ồn ào khủng khiếp. Vô lượng vi phân tử, sóng radio của điện thoại di động mang theo những lời thủ thỉ thân yêu, gay gắt tranh luận, ầm ầm giận dữ, đắng cay nhiếc móc, nỉ non than thở, tiếng khóc, tiếng cười, nỗi bi thương, cơn cuồng nộ – đủ món hỉ nộ ái ố – … điệp điệp, trùng trùng lướt qua giọt sương liên miên từ lúc nó chào đời
Các cuộc xung đột giữa Do Thái với Palestine cùng khối Ả Rập là vấn đề nan giải cho Hoa Kỳ lẫn thế giới bởi Do Thái không hề nhượng bộ, luôn có những hành động cứng rắn và trả đũa tàn bạo. Cuộc xung đột hiện nay xảy ra khi Do Thái trục xuất sáu gia đình Palestine tại Đông Jerusalem, là điều mà Do Thái từng bước thực hiện với người dân Palestine từ nhiều năm qua.
Tôi yêu những nông dân thôn Hoành, tôi yêu những nông dân Dương Nội. Yêu cái hồn của đất – nơi con người đang phải đối mặt với phong ba bão táp; nơi con người bước trên nghịch cảnh bằng sự cao quý và khí phách của riêng mình. Tôi có một niềm tin vững chắc rằng lòng tử tế và sự dũng cảm của họ sẽ lan toả và lan rộng.
Từ Văn phòng Viện Tăng Thống, tuy chỉ tồn tại trên danh nghĩa, trong phận sự bảo trì ấn tín của Viện Tăng Thống, kế thừa tâm nguyện của Đức Đệ Ngũ Tăng Thống qua phú chúc di ngôn của Ngài trước ngày thị tịch; chúng tôi trên nương tựa uy đức Tăng già và đạo lực gia trì của Chư tôn Trưởng lão, kính gởi đến Chư tôn Hòa Thượng, Chư Thượng tọa, Đại đức Tăng-già nhị bộ, cùng tất cả bốn chúng đệ tử, tâm nguyện Bồ-đề được thể hiện qua các kỳ họp đã nêu, ước mong tất cả bằng Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành, bằng đức lực, trí lực, và tài lực, với hằng tâm và hằng sản, đồng tâm nhất trí góp phần công đức vào sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh mà Chư Thánh Đệ tử, Lịch đại Tổ sư, bằng hùng lực và trí tuệ, bằng từ bi và nhẫn nhục, khoan dung, trải qua vô vàn gian nan chướng duyên trở ngại, đã mang ngọn đèn chánh pháp đến những nơi tăm tối, cho những ai có mắt để thấy, dựng dậy những gì đã sụp đổ, dựng đứng những gì đang nghiêng ngả.
Ngày Phật đản sanh là ngày vui, ngày thiêng liêng và trọng đại của nhân loại. Dù là với truyền thống nào, tông môn pháp phái nào, dù ở quốc độ nào… Người con Phật cũng đều hoan hỷ và thanh tịnh thân tâm để tưởng niệm đức Phật.
Thì tôi cũng nói cho hết lẽ như thế. Chớ bao nhiêu lương dân ở Văn Giang, Dương Nội, Thủ Thiêm, Lộc Hưng… đang sống yên lành mà Đảng & Nhà Nước còn có thể nhẫn tâm biến họ thành những đám dân oan (vật vã khắp nơi) thì cái chính phủ hiện hành có xá chi đến những khúc ruột thừa ở Cambodia.
Bàn về kinh tế không thể không nhắc đến tiền. Tiền không mua được hạnh phúc nhưng không có tiền thì…đói. Tiền mang lại tự do (có tiền mua tiên) hay biến con người thành nô lệ đồng tiền. Con nít lên 3 đã biết tiền dùng để mua bánh kẹo, vậy mà các kinh tế gia giờ này vẫn không đồng ý chuyện tiền để làm chi!
Sau ngày 30/4/1975, nếu phe chiến thắng đã có những chính sách mang lại sự hoà giải quốc gia, đối xử nhân bản với bên thua trận, thay vì cải tạo học tập, càn quét và thiêu huỷ văn hoá miền Nam, đánh tư sản mại bản, thì đã không có hàng triệu người bỏ nước ra đi và người Việt sẽ chẳng mấy ai còn nhớ đến một đất nước của quá khứ, tuy chưa hoàn toàn tự do dân chủ nhưng so với Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì người dân đã được tự do hơn bây giờ rất nhiều.
Tất nhiên phải “thành công” vì đảng một mình một chợ, không có ai cạnh tranh hay đòi chia phần. Nhưng việc đảng chọn cho dân bầu chỉ để tuyên truyền cho phương châm “ý đảng lòng dân”, trong khi người dân không có lựa chọn nào khác mà buộc phải đi bỏ phiếu để tránh bị làm khó trong cuộc sống.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.