Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Lược Thuật Mạn Đàm Về Luận Án Cao Học Của Trần Thị Như Ngọc:Thơ Du Tử Lê Dưới Góc Nhìn Tư Duy Nghệ Thuật

19/07/201300:00:00(Xem: 5030)
(LNĐ: Vào lúc 4 giờ chiều Thứ Bảy ngày 6 tháng 7 vừa qua, kỹ sư Nguyễn Ngọc Bảo, người phụ trách chương trình VHNT đài phát thanh Saigon Houston, đã có cuộc phỏng vấn nhà thơ Du Tử Lê chung quanh luận án tốt nghiệp cao học, chuyên ngành Lý luận Văn học của thạc sĩ Trần Thị Như Ngọc, chủ đề “Thơ Du Tử Lê dưới góc nhìn tư duy nghệ thuật”. (1) Vì cuộc “mạn đàm” dài 1 tiếng, nên chúng tôi xin chỉ lược thuật những câu hỏi đáp cần thiết. Quý bạn đọc muốn nghe toàn bộ cuộc phỏng vấn xin vào trang mạng saigonhouston.com hoặc dutule.com… Trân trọng. Nguyễn Nguyên)

Nguyễn Ngọc Bảo: mở đầu chương trình kỹ sư Nguyễn Ngọc Bảo đã giới thiệu dàn bài chi tiết luận văn của tác giả Trần Thị Như Ngọc, với những chương như “Một số vấn đề lý luận về tư duy nghệ thuật và quan niệm thơ của Du Tử Lê”; “Cái tôi trữ tình và một số biểu tượng đặc sắc trong thơ Du Tử Lê”; “Ngôn ngữ thơ Du Tử Lê” v.v… Sau đó, ông cho phát thanh ca khúc “Tình sầu Du Tử Lê” (thơ Du Tử Lê, Phạm Duy soạn thành ca khúc) trước khi chính thức bước vào cuộc phỏng vấn.

Nguyễn Ngọc Bảo (NNB): Thưa anh, xin anh cho biết giữa anh và tác giả luận án, cô Trần Thị Như Ngọc (TTNN) có sự quen biết nào không?

Du Tử Lê (DTL): Không thưa anh. Luận án của cô được phổ biến trên mạng từ cuối năm 2012, nhưng mãi tới tháng 5-2013, tôi mới được biết do một người quen, tình cờ đọc được.

NNB: Chắc anh phải ngạc nhiên lắm?

DTL: Vâng. Vô cùng ngạc nhiên. Nhiều năm trước, một ứng viên tiến sĩ ở Saigon cũng đã chuẩn bị làm luận án về thơ của tôi, nhưng bị giáo sư hướng dẫn từ chối với lý do “chưa phải lúc”. Gần nhất, hồi tháng 3 năm ngoái, một nữ SV Đại học Sư Phạm Huế, cũng chọn thơ của tôi để làm luận án tốt nghiệp. Cô đã liên lạc nhiều lần với nhà tôi, Phan Thị Hạnh Tuyền, để xin tư liệu. Vị giáo sư hướng dẫn của cô, không chấp nhận tư liệu lấy từ các trang mạng với lý do, độ khả tín kém. Tuy nhiên, khi cô nộp dàn bài chi tiết cho Hội đồng giám khảo thì kết qủa cô cũng bị từ chối! Dù cô chỉ còn 2 tháng để đổi đề tài và chuẩn bị một luận án khác!

NNB: Vậy, với kết quả bất ngờ là luận án của TTNN, hẳn anh hãnh diện?

DTL: Tôi rất vui, rất hạnh phúc khi được biết tác giả luận án sinh năm 1986, nghĩa là cô sinh sau biến cố tháng 4-1975 rất xa. Cô ta lại là người sinh tại Đông Triều, Quảng Ninh, miền Bắc, chứ không phải ở miền Nam.

NNB: Thưa anh, anh có biết cô TTNN kiếm tìm tư liệu về anh, từ những nguồn nào không, khi mà tôi đọc trong phần tài liệu tham khảo, thấy liệt kê tới 81 tư liệu khác nhau?

DTL: Tôi hoàn toàn không biết. Vì ngoài những tư liệu có sẵn trên mạng, tác giả luận án còn có những tư liệu mà chính tôi cũng không có. Nếu so sánh phần tư liệu mà nhà thơ, bác sĩ Nguyễn Đức Tùng ở Canada dùng để viết cuốn sách cũng về thơ của tôi, nhan đề “Với Du Tử lê, đời sống trở nên thơ mộng hơn” (2) thì tư liệu của cô TTNN phong phú hơn nhiều. Tôi nghĩ, tác giả phải bỏ rất nhiều thời gian, để có được chừng đó tư liệu. Trong số 81 tư liệu liệt kê không biết anh Bảo có thấy là có tới 2 bài viết của anh, về thơ của tôi?

NNB: Vâng, thưa anh Du Tử Lê, tôi có thấy. Nhưng, anh Lê, cuộc nghiên cứu của cô TTNH chỉ căn cứ trên 5 thi phẩm anh đã xuất bản tại VN, tính tới tháng 4-1975 mà, không đề cập tới những thi phẩm xuất bản sau đó, ở hải ngoại của anh. Tôi cho mảng thơ sau này, ở hải ngoại của anh cũng rất quan trọng. Anh nghĩ gì về sự kiện này, thưa anh?

DTL: Nếu tôi không lầm thì trong luận án của mình, cô TTNN nhấn mạnh rằng, cô giới hạn đề tài nghiên cứu của cô, trong số thi phẩm đã XB tại Saigon của tôi, trước 1975 mà thôi. Những phần còn lại thuộc về thơ của tôi, cô cho là cần có thời gian để phân tích, đào xới kỹ lưỡng hơn. Dù sao thì với tôi, cánh cửa Trần Thị Như Ngọc cũng đã được mở. Nó sẽ giúp ích rất nhiều cho những tác giả trẻ khác…

NNB: Thưa anh, cá nhân tôi chú ý nhiều tới hai điều đáng quý mà tác giả TTNN đã đề cập tới trong luận án của cô, đó là: Không khí tự do, dân chủ ở miền Nam, giúp cho anh và những tác giả khác, có điều kiện để phát triển tài năng, thực hiện những thử nghiệm của mình. Và, khi đề cập tới QL/VNCH mà anh tham dự, tác giả cũng đã dùng những cụm từ QL/VNCH; chứ không sử dụng hai chữ “Mỹ-ngụy”. Chỉ riêng 2 điểm này thôi, con người của cô cũng đã đáng để chúng ta quý mến rồi phải không anh?

DTL: Vâng, thưa anh bảo. Hai điều đó, cho thấy tư cách, phong cách trí thức của tác giả, và sự trân trọng, đối với dòng văn học miền Nam, 20 năm. Nếu không, thì cô đã không liều lĩnh, bỏ nhiều công sức làm luận án về thơ tôi như vậy.

NNB: Thưa anh, trong luận văn của mình, cô TTNN nhấn mạnh rằng hiện tượng thơ Du Tử Lê phức tạp. Những đặc trưng trong thơ của người làm thơ này vẫn còn nhiều ẩn số cần phải được giải mã. Vậy theo anh tác giả TTNN đã giải mã được bao nhiêu phần trăm thơ của anh?

DTL: Tôi nghĩ khoảng từ 30 tới 40%. Bởi vì bên cạnh những bài thơ dễ hiểu, tôi cũng có những bài thơ… “tối tăm”. Thi ca vốn kiệm lời, ít chữ. Tôi mượn hình ảnh để nói lên những ý tưởng của mình. Nhiều khi hình ảnh tôi chọn, nó quá xa lạ, nên khi đến tay người đọc, nó trở thành tối tăm, khó hiểu chăng? Trong 30 tới 40% đó, tôi hài lòng nhất là khi tác giả luận văn phân tích về cái “tôi”trong thơ của tôi. Tác giả cũng so sánh thơ tình thời tiền chiến đa số mơ hồ, không cụ thể với nhiều hình ảnh trăng, sao, sông nước, hoa tuyết… Trong khi thơ tình của tôi là thành phố, là đô thị. Nó là một không gian khác. Và đời sống của tôi, cũng như của đa số những người sống cùng thời với tôi, ở thành phố nhiều hơn. Nên thơ tình của miền Nam 20 năm, không còn một không gian mơ hồ, trừu tượng nữa.

NNB: Thưa anh, trong tiểu mục nhan đề “Cái tôi hiện sinh của Du Tử Lê”, tác giả viết, bước vào cái tôi hiện sinh của Du Tử lê, người không khỏi bị ám ảnh bởi cái tôi luôn “đau đớn quằn quại, thấm đẫm máu và nước mắt khổ đau (…) Cái tôi trong thơ ông luôn luôn phải bước đi giữa nỗi buồn lặng lẽ bởi cô đơn và cảm thức về cái chết…” Xin anh cho biết nhận xét của anh?

DTL: Tác giả đã nhặt ra một loạt những danh từ, tính từ…mà anh Bảo vừa nhắc lại, đúng là tôi có dùng nhiều thật trong thơ của mình. Nhưng nếu chỉ có chừng đó ghi nhận về tính hiện sinh trong thơ của tôi thì vẫn còn thiếu. Nó còn nhiều mảng tối khác nữa...

NNB: Thưa anh, ngay sau đó, tác giả viết tiếp: “Cái tôi trong thơ bây giờ không còn là cái tôi cảm xúc mà là cái tôi ý thức. Phải đặt thơ ca Du Tử Lê trong vị trí của di cư và chiến tranh để lý giải cho sự giằng xé cái tôi ý thức trong thơ ông. Tình trạng chia cắt đất nước kéo theo sự đặt lại các giá trị, sự chênh vênh trong định hướng tương lai của con người. Chiến tranh đẩy thêm con người vào nỗi đau, sự hoang mang và chết chóc. Khi hiện thực thời đại trở nên bi đát, thân phận con người trở nên mong manh trước biến động của lịch sử và cái chết đang rình rập khắp nơi…hoàn cảnh ấy khiến mỗi cá nhân bị đưa vào trạng thái hoang mang không đích đến…” Thưa anh, anh có công nhận thơ của anh bị nhiều ám ảnh về cuộc di cư từ Bắc vào Nam năm 1954?


DTL: Có thưa anh. Tôi bị ám ảnh mạnh mẽ. Tới mức nó chìm sâu trong tiềm thức. Rồi từ tiềm thức nó trồi lên, ngoài sự kiểm soát của tôi. Đôi khi đọc lại bài thơ, tôi mới thấy mình bị chi phối bởi những biến động lịch sử mà trong đó, mình chỉ là 1 hạt cát, một chiếc lá bị cuốn trôi…

NNB: Thưa anh, cô TTNN đi đến nhận xét, đó là lý do thơ Du Tử Lê có nhiều hình ảnh chết chóc, thép gai, máu đổ, u tối… Anh nghĩ sao về ghi nhận này?

DTL: Tôi cho là đúng. Thực tình, đời sống riêng của tôi, trong 20 năm miền Nam là một đời sống bế tắc nhiều mặt.

NNB: Thưa anh, trong mắt nhìn của tôi thì một trong những điều lý thú nhất của luận văn tốt nghiệp là tác giả đã nhấn mạnh về “Biểu tượng thành phố”. Và đọc trong luận văn, có vẻ như đây là một khám phá mới. Tôi xin đọc cho quý thính giả nghe:

“…Thành phố như một bức tranh lập thể được ghép lại từ muôn ngàn mảnh vỡ, thanh âm. Đó là hiện thân một phần của đô thị, dù có chối bỏ, trốn chạy, nhà thơ vẫn chứng minh mình thuộc về thành phố, cùng giằng xé với thân phận của một thành phố trong chiến tranh, hoang tàn, rách nát. Ám ảnh thành phố hẳn sẽ chẳng bao giờ chấm dứt trong thơ Du Tử Lê…”

Ở một đoạn khác, tác giả viết trong 5 tập thơ của Du Tử Lê xuất bản trước 1975, biểu tượng thành phố tức hình ảnh về thành phố được Du Tử Lê nhắc tới trong 44 bài (chiếm 24%) “… Có thể nói, biểu tượng thành phố là một thức nhận thẩm mỹ mới của Du Tử Lê…” Anh cho đoạn văn này bao nhiêu điểm?

DTL: Đó là một trong những đoạn mà tôi cho rằng cô TTNN đã giải mã được thơ của tôi, tới mức tối đa. Từ thời trong nước cũng như ra ngoài này, tôi có may mắn, được nhiều người viết về thơ cũng như văn của tôi… Nhưng dường như không ai chú ý tới ám ảnh thành phố trong thơ của tôi, đó là ghi nhận thứ nhất. Thứ hai, chắc anh Bảo không để ý là khi cô TTNN nhắc đến ám ảnh thành phố trong thơ của tôi thì, cô đã trích dẫn rất nhiều bài thơ trong tập thơ đầu tiên của tôi, xuất bản năm 1964. Trong khi những tác giả ở hải ngoại hầu như cũng không mấy chú ý tới tập thơ đầu tay đó. Vì thế, phải nói là tôi rất tâm đắc, khâm phục nhận xét tinh tế của cô ấy.

NNB: Thưa quý vị, nhắc đến biểu tượng thành phố trong thơ Du Tử Lê thì không gì hơn ca khúc “Đêm, nhớ trăng Saigon”, thơ Du Tử Lê, nhạc Phạm Đình Chương. Mời quý thính giả thưởng thức ca khúc “Đêm, nhớ trăng Saigon”

(Ca khúc “Đêm, nhớ trăng Saigon”, tiếng hát Thái Thanh)

NNB: Thưa anh, bên cạnh “Biểu tượng thành phố”, “Biểu tượng linh hồn”, tác giả luận văn đặc biệt đề cập tới “Biểu tượng tình yêu” trong thơ Du Tử Lê. Có lẽ đây cũng là điều đáng đề cập nhất. Cô viết:

“Rõ ràng Tình Yêu là đề tài lớn đối với Du Lê. Từ những tập thơ sáng tác trong nước cho đến sau này, khi đã sống lưu vong ở hải ngoại, Du Tử Lê vẫn luôn dành mảnh đất mầu mỡ cho thơ tình (…) Trong thơ Du Tử Lê, tình yêu bắt nguồn từ vẻ đẹp đáng ngưỡng mộ của Em. Trải dài trong năm tập thơ xuất bản trước năm 1975 là những hình ảnh rất đẹp về Em. Đó là vẻ đẹp trong sáng, dung dị nhưng cũng mờ ảo và khó nắm bắt…” Anh có lời phê bình nào cho nhận xét này của tác giả TTNN?

DTL: Thưa anh, thứ nhất, có lẽ tác giả đã không nhận ra rằng tình yêu người nữ ở tôi, bắt nguồn từ lòng tôi yêu mẹ tôi. Mẹ tôi góa bụa rất sớm. Bà ở vậy, nuôi chúng tôi. Tôi là con út, nên được sống rất gần gũi với bà. Từ hình ảnh mẹ tôi, tôi rất trân trọng, kính trọng người phụ nữ. Thứ nhì, tình yêu trong thơ tôi nó cụ thể chứ không mờ ảo đâu. Tuy nhiên, có thể cách diễn tả của tôi trong những bài thơ tình có nhiều gam màu khác nhau, khiến độc giả, và cả cô TTNN thấy nó mờ ảo? Thơ tình của tôi, không hề được viết bằng tưởng tượng. Sự thực hay tính thật trong thơ tình của tôi có phần trăm cao lắm.

NNN: Thưa anh, trong luận văn tốt nghiệp, tác giả TTNN có dành trên 5 trang để nhận xét ngôn ngữ thơ Du Tử Lê. Đại khái, cô cho rằng Du Tử Lê luôn luôn cố gắng đổi mới ngôn ngữ thi ca, để tạo ra những rung động mới mẻ, được nhiều người chấp nhận. Có vẻ như cô TTNN cũng đã nắm vững những cách tân của Du Tử Lê về ngôn ngữ thi ca, anh có đồng ý?

DTL: Vâng, tôi đồng ý. Tôi cũng cám ơn cô TTNN đã ghi nhận như thế. Đó là một trong những nỗ lực chính của tôi.

NNN: Thưa anh, xét toàn bộ luận văn thì theo anh, đâu là điểm đáng chú ý nhất của luận văn này?

DTL: Điều đáng nói nhất theo tôi, là sự can đảm của tác giả. Tôi cũng cảm phục Hội đồng giám khảo đã chấp thuận cho cô TTNN soạn luận án về thơ của một người ở miền Nam, một người trước đây, từng ở phía đối đầu… Đó là tổng thể. Kế tiếp, như anh cũng nhận ra, cô ấy đã phát hiện ảnh hưởng của thành phố trong thơ của tôi. Cùng lúc, cô ấy cũng ghi nhận nỗ lực cách tân ngôn ngữ, làm mới ngôn ngữ mà tôi đeo đuổi đến bây giờ… Đó là những ưu điểm của tác giả luận án, tôi cho là rất đáng trân trọng. Chưa kể sự chịu khó, công phu của tác giả trong việc đi tìm những tư liệu về tôi… Tôi xin được lập lại rằng, có nhiều tư liệu chính tôi cũng không có.

NNB: Thưa anh, một cách vắn tắt, nếu phải chấm điểm luận văn này thì anh có cho tác giả dư điểm tốt nghiệp không?

DTL: Tôi nghĩ trên mức tối thiểu để tốt nghiệp rất xa, anh Bảo à.

NNB: Anh có nghĩ là cô ấy đã được tốt nghiệp?

DTL: Tôi nhớ, trong phần “Tóm tắt các kết quả của luận văn” của cô TTNN, Hội đồng giám khảo đã đánh giá rất cao luận văn ấy. Tôi thấy nên ghi lại rằng, họ đã kết luận:

- Thứ nhất, “…luận văn góp thêm cái nhìn toàn diện, khoa học và khách quan về sáng tác thơ Du Tử Lê (trước 1975) trong nền thơ ca Việt Nam. Qua đó, khẳng định được hướng tiếp cận nghiên cứu từ góc độ tư duy nghệ thuật đối với các hiện tượng văn học thực sự có nhiều ưu thế cần được tiếp tục và phát triển.

“Bên cạnh đó, luận văn còn đóng góp thêm một tiếng nói về việc khẳng định vị trí của Du Tử Lê trong nền thơ ca miền Nam Việt Nam trước 1975 và nền thơ ca Việt Nam nói chung.”

Thứ nhì: “Luận văn có khả năng áp dụng trong thực tiễn: Tài liệu giảng dạy và nghiên cứu.”

NNB: Trước khi chấm dứt, anh có nhắn gì tác giả TTNN?

DTL: Tôi muốn cám ơn sự đồng cảm, chú ý của TTNN dành cho thơ tôi. Và, tôi mong là con đường Trần Thị Như Ngọc mới mở ra, sẽ có nhiều người trẻ đi theo, viết về những tác giả miền Nam khác.

Nguyễn Nguyên (Lược ghi)

Chú thích:

(1) Luận án chủ đề “Thơ Du Tử Lê Dưới Góc Nhìn Tư Duy Nghệ Thuật” của thạc sĩ Trần Thị Như Ngọc, do giáo sư Tiến sĩ Diêu Thị Lan Phương hướng dẫn, mã số 60 22 01 20, lưu trữ tại Thư viện Đại Học Quốc Gia Hà Nội / Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn.

(2) Tập tùy bút / phê bình “Với Du Tử Lê, đời sống trở nên thơ mộng hơn” của nhà thơ, bác sĩ Nguyễn Đức Tùng do Tự Lực Bookstore ấn hành năm 2007.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Sau ngày 30/4/1975, nếu phe chiến thắng đã có những chính sách mang lại sự hoà giải quốc gia, đối xử nhân bản với bên thua trận, thay vì cải tạo học tập, càn quét và thiêu huỷ văn hoá miền Nam, đánh tư sản mại bản, thì đã không có hàng triệu người bỏ nước ra đi và người Việt sẽ chẳng mấy ai còn nhớ đến một đất nước của quá khứ, tuy chưa hoàn toàn tự do dân chủ nhưng so với Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì người dân đã được tự do hơn bây giờ rất nhiều.
Tất nhiên phải “thành công” vì đảng một mình một chợ, không có ai cạnh tranh hay đòi chia phần. Nhưng việc đảng chọn cho dân bầu chỉ để tuyên truyền cho phương châm “ý đảng lòng dân”, trong khi người dân không có lựa chọn nào khác mà buộc phải đi bỏ phiếu để tránh bị làm khó trong cuộc sống.
Âm nhạc dễ đi vào lòng người, với hình bóng mẹ, qua lời ca và dòng nhạc, mỗi khi nghe, thấm vào tận đáy lòng. Trước năm 1975, có nhiều ca khúc viết về mẹ. Ở đây, tôi chỉ đề cập đến những ca khúc tiêu biểu, quen thuộc đã đi vào lòng người từ ngày sống trên quê hương và hơn bốn thập niên qua ở hải ngoại.
Những bà mẹ Việt xưa nay rất chơn chất thật thà, rất đơn sơ giản dị cả đời lo cho chồng con quên cả thân mình. Sử Việt nghìn năm đương đầu với giặc Tàu, trăm năm chống giặc Tây. Những bà mẹ Việt bao lần âm thầm gạt lệ tiễn chồng con ra trận, người đi rất ít quay về. Những bà mẹ âm thầm ôm nỗi đau, nỗi nhớ thương da diết.
Trước công luận, Eisenhower lập luận là cuộc chiến không còn nằm trong khuôn khổ chống thực dân mà mang một hình thức chiến tranh ủy nhiệm để chống phong trào Cộng Sản đang đe doạ khắp thế giới. Dân chúng cần nhận chân ra vấn đề bản chất của Việt Minh là Cộng Sản và chỉ nhân danh đấu tranh giành độc lập cho Việt Nam; quan trọng nhất là phải xem ông Hồ chí Minh là một cánh tay nối dài của Liên Xô. Đó là lý do cộng đồng quốc tế cần phải tiếp tục hỗ trợ cho Pháp chiến đấu.
Dù vẫn còn tại thế e Trúc Phương cũng không có cơ hội để dự buổi toạ đàm (“Sự Trở Lại Của Văn Học Đô Thị Miền Nam”) vào ngày 19 tháng 4 vừa qua. Ban Tổ Chức làm sao gửi thiệp mời đến một kẻ vô gia cư, sống ở đầu đường xó chợ được chớ? Mà lỡ có được ai quen biết nhắn tin về các buổi hội thảo (tọa đàm về văn học nghệ thuật miền Nam trước 1975) chăng nữa, chưa chắc ông Nguyễn Thế Kỷ – Chủ Tịch Hội Đồng Lý Luận, Phê Bình Văn Học, Nghệ Thuật – đã đồng ý cho phép Trúc Phương đến tham dự với đôi dép nhựa dưới chân. Tâm địa thì ác độc, lòng dạ thì hẹp hòi (chắc chỉ nhỏ như sợi chỉ hoặc cỡ cây tăm là hết cỡ) mà tính chuyện hoà hợp hay hoà giải thì hoà được với ai, và huề sao được chớ!
Lời người dịch: Trong bài này, Joseph S. Nye không đưa ra một kịch bản tồi tệ nhất khi Hoa Kỳ và Trung Quốc không còn kiềm chế lý trí trong việc giải quyết các tranh chấp hiện nay: chiến tranh nguyên tử có thể xảy ra cho nhân loại. Với 8000 đầu đạn hạt nhân của Nga, khoảng 270 của Trung Quốc, với 7000 của Mỹ, việc xung đột hai nước, nếu không có giải pháp, sẽ là nghiêm trọng hơn thời Chiến tranh Lạnh.
Kính thưa mẹ, Cứ mỗi tháng 5 về, nước Mỹ dành ngày Chủ Nhật của tuần đầu tiên làm Ngày của Mẹ (Mother's Day), ngày để tôn vinh tất cả những người Mẹ, những người đã mang nặng đẻ đau, suốt đời thầm lặng chịu thương, chịu khó và chịu khổ để nuôi những đứa con lớn khôn thành người.
Khoảng 4.500 người đã được phỏng vấn, trong đó có khoảng 700 người gốc Á. 49% những người được hỏi có nguồn gốc châu Á đã từng trải qua sự phân biệt chủng tộc trong đại dịch. Trong 62 phần trăm các trường hợp, đó là các cuộc tấn công bằng lời nói. Tuy nhiên, 11% cũng bị bạo hành thể xác (koerperliche Gewalt) như khạc nhổ, xô đẩy hoặc xịt (phun) thuốc khử trùng.
Nguyệt Quỳnh: Anh còn điều gì khác muốn chia sẻ thêm? Trịnh Bá Phương: Trong cuộc đấu tranh giữ đất, nhóm chúng tôi đã tham gia các phong trào khác như bảo vệ cây xanh, bảo vệ môi trường, tham gia biểu tình đòi tự do cho các nhà yêu nước, tham gia các phiên toà xét xử người yêu nước bị nhà nước cộng sản bắt giam tuỳ tiện. Và hướng về biển đông, chống sự bành trướng của Bắc Kinh khi đã cướp Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam! Và mới đây là phản đối bè lũ bán nước đã đưa ra dự luật đặc khu và dự luật an ninh mạng.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.