Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Tình Yêu Nước Chỉ Có Trong Những Người Có Trái Tim

01/06/201300:00:00(Xem: 13189)
Năm 1958, cuốn phim “Một thời để yêu và một thời để chết” (A Time to Love and a time to die) dựa theo cuốn tiểu thuyết cùng tên của Văn Hào Erich Maria Remarque, đã làm cho hàng chục triệu trái tim trên thế giới xúc động. Những cá nhân trong truyện, thoạt đến, thoạt đi, như chuyện Liêu Trai, mới xuất hiện phút trước thì phút sau đã ra người thiên cổ. Chuyện tình của người chiến binh trong phim đó cũng chỉ là một giai đoạn ngắn ngủi trong một đời người.

Những phim chiến tranh khác, “Giã từ vũ khí” (Farewell to Arms), “Ngày D” (The D day), và gần đây nhất, phim “Giải cứu Binh Nhì Ryan” (Saving Private Ryan) thực hiện năm 1998, đã cho khán giả một khía cạnh khác của chiến tranh, không phải khía cạnh dã man, tàn bạo chỉ có súng, đạn và sự tiêu diệt, nhưng trên hết tất cả là lòng yêu Tổ Quốc nồng nàn, yêu dân tộc đến chấp nhận hy sinh thân mình một cách bình thản, trong khi chẳng biết là sau khi mình chết đi rồi, quê hương mình có được giải phóng không.

Trở lại lịch sử Việt, từ hơn 4000 năm trước, đã bao lần giải đất nhỏ bé này phải chứng kiến máu đổ, xương tan, đầu một nơi, thân một nẻo. Đã biết bao thế kỷ, dân tộc hiếu hòa này đã phải vùng lên, đuổi quân xâm lăng ra khỏi bờ cõi, cho dù núi phải lở, sông phải cạn, nhà cửa ruộng vườn phải tiêu tan, gia đình phải ly tán. Nếu có thể đếm được những thân xác anh hùng Nam, Nữ, các bậc Trưởng Thượng, các thiếu niên đã vùi thây trong lòng đất vì cuộc chiến bảo vệ giang sơn, từ khi lập quốc đến nay thì có lẽ phải đến con số hàng trăm triệu. Rồi đến trận chiến Nam Bắc Phân Tranh, Trịnh Nguyễn, số binh sĩ, quan tướng tử trận cũng không nhỏ. Và, trong cuộc giao tranh, miền Nam Cộng Hòa, và miền Bắc Cộng Sản từ năm 1954 đến nay, do miền Bắc khởi xướng, cũng đã làm dân số Việt Nam mất đi hơn 2 triệu người, miền Bắc hy sinh hơn 1 triệu rưỡi Bộ Đội, chưa kể vài trăm ngàn du kích và thanh niên xung phong đã bỏ mạng âm thầm trong rừng sâu núi thẳm, không chỉ do bom đạn mà còn vì bệnh tật, thiếu ăn, hoặc do nhiều nguyên nhân khác. Trong khi đó, miền Nam hy sinh gần 600 ngàn quân nhân và cảnh sát, không kể số Nghĩa Quân, Nhân Dân Tự Vệ, Xây Dựng Nông Thôn, và các nhân viên hành chính xã ấp bị Việt Cộng thủ tiêu.

Sau 1975, với con số hơn 100 ngàn Sĩ Quan và viên chức cao cấp bị bỏ tù trong các trại trừng giới dưới cái tên mới là Trại Cải Tạo, thì lại thêm hàng chục ngàn người tù lương tâm này hy sinh vì bị bắn bỏ, bị bệnh mà không được điều trị, bị chết đói, hay vị bị nhốt cùm trong hầm sâu, ngục tối chỉ có dán, kiến, mục nát, ẩm ướt, giòi bọ và vi trùng.

Nhưng, tác hại của những cuộc chiến bảo vệ đất nước, nếu chỉ nói đến con số tử vong, thương tật như trên, thì chưa đủ vì những vết đau tinh thần mới là khủng khiếp, đè nặng trên tâm trí, tinh thần những nạn nhân của cuộc chiến mãi mãi không thể phai nhạt. Những người vợ góa, những đứa con thơ, những bà mẹ, những ông bố, anh chị em của các quân nhân ra mặt trận.. là những người đau đớn nhất, vì người chết thì đã chết rồi, còn lại người thân mang theo nỗi nhức nhối khôn nguôi. Đã là con người, ai cũng sợ chiến tranh, sợ tranh đấu, sợ chết, sợ ở tù. Vậy, tới đây, một câu hỏi đặt ra: Tại sao từ năm 1975 đến nay, trên giải đất từng được mệnh danh là “đất Rồng Tiên” này, vẫn có những chiến sĩ dũng cảm tiến lên, già, trẻ, thanh niên nam nữ, học sinh, sinh viên, tu sĩ, nông dân… mặc dù tay không còn cầm vũ khí nữa, mà chỉ ngẩng cao đầu, hiên ngang tiến về phía lực lượng khổng lồ của những kẻ đằng đằng sát khí, có súng, đạn, còng số 8 và nhà giam, để rồi chấp nhận những bản án cực kỳ bất công và vô lý dành cho những người can đảm ấy, tệ hơn nữa là sự tra tấn, hành hạ cho đến chết trong tù?

Tại sao vậy?

Chỉ có một câu trả lời duy nhất: TÌNH YÊU ĐẤT NƯỚC! Trong trái tim của những con người dũng cảm ấy, dù chỉ là một học sinh 18 tuổi, hay một cô sinh viên mới vào ngưỡng cửa đại học, tu sĩ Phật Giáo, Công Giáo, Mục Sư, Cư sĩ Cao Đài, một tín đồ Hòa Hảo hiền lành, một nông dân, suốt đời cầy sâu cuốc bẫm, đặc biệt hơn nữa là cả những người đã từng là Đảng Viên Cộng Sản, Sĩ quan cao cấp Quân Đội Nhân Dân, Giám Đốc Trường Đảng, Huyện Ủy, Bí Thư, Giáo Sư, Nhà Văn Nhân Dân, Nghệ Sĩ Nhân Dân… luôn có Tình Yêu Nước nồng nàn, cao vời, vượt hơn cả giá trị sinh mạng mình. Tình yêu nước, trong tim họ, lúc nào cũng cháy đỏ khiến họ quên tình yêu cá nhân, trai gái và cha mẹ; quên hạnh phúc lứa đôi, niềm vui tốt nghiệp, hạnh phúc giảng đạo, hay xum vầy bên luống rau, vườn cải. Họ chấp nhận từ bỏ những đặc quyền, đặc lợi của một đảng viên, của Sĩ Quan Quân Đội Nhân Dân, Giám Đốc, Bí thư, Đại úy Y Sĩ Công An, Nhà Báo Nhân Dân huy hoàng quyền lợi, vung tay một cái là mọi người chung quanh răm rắp cúi đầu…chỉ vì trong tim họ, vẫn còn Tình Yêu Nước chân chính.

So sánh với các cuộc chiến cách mạng của các dân tộc Âu Châu dưới quyền thống trị của Đức Quốc Xã, thì cuộc đấu tranh để bảo vệ sự vẹn toàn Tổ Quốc Việt Nam, còn cam go hơn nhiều. Vì, khi Đức Quốc thống trị một phần lớn Châu Âu, các chính quyền bù nhìn sở tại cũng còn chút đỉnh lương tâm, không đàn áp mạnh mẽ những người cách mạng, mà vẫn lén lút tìm cách giúp đỡ các anh hùng, cho nên mới có sự vùng lên của Châu Âu phối hợp với Đồng Minh mà làm tan chế độ Đức Quốc Xã. Còn ở Việt Nam hiện tại, “chính phủ bù nhìn” do Đảng Cộng Sản cầm đầu đã ngang nhiên hiện thân là nhóm nô lệ Tầu, nên cho dù “ông Chủ Lớn” từ Bắc Kinh chưa ra lệnh, đã vội vàng bắt nhốt các anh hùng dám nói lên lời Yêu Nước. Chỉ một lời “Tầu Khựa cút khỏi biển Đông” và “Đảng Cộng Sản Việt Nam bán nước”, viết bằng máu từ trái tim của Phương Uyên, người nữ sinh viên nhỏ bé, xinh xắn như thiên thần, đã làm cho cả chế độ hoảng sợ, vội vã nhốt em với bản án gần chục năm tù. Chỉ một lời “Tôi yêu nước, tôi chỉ chống Đảng Cộng Sản” của Nguyên Kha cũng làm em chung số phận với Phương Uyên, với Phạm Thanh Nghiên, với Việt Khang, với Lê Thị Công Nhân, với nhóm các thanh niên Công Giáo khác… Ngoài ra còn biết bao tâm hồn nhiệt huyết khác như Huỳnh Thục Vy, như Nguyễn Hoàng Vi, Mẹ Nấm, Bùi Thị Minh Hằng, Điếu Cầy, Tạ Phong Tần, Đoàn Văn Diên, Lê Trần Luật, Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, Lê Thị Kim Thu, Mai Thị Dung… đã bị bắt nhốt, bị hành hạ, làm nhục, bị lột quần áo, bị xâm phạm thân thể một cách cực kỳ vô giáo dục, bị bỏ đói, bệnh không chữa…chỉ vì hai chữ “Yêu Nước!”

Ôi! Những trái tim ấy mới vĩ đại làm sao? Cao quý làm sao? Những trái tim Việt Nam chân chính!

Còn, những kẻ có mắt như mù, có óc như ngu, có miệng như câm.. của cái gọi là “chính phủ bù nhìn” kia thì dứt khoát là những kẻ không tim. Vì nếu có một quả thịt gọi là trái tim, thì nhất định phải biết điều đơn giản rằng: Tổ Quốc Việt Nam do Tổ Tiên hy sinh biết bao xương máu, thây chất như núi, máu chẩy đầy sông, không thể, vì vinh quang, phú quý, lên xe xuống ngựa, vì vài triệu đô la, vì gái đẹp, rượu ngon, vì các căn biệt thự mênh mông, vì sự quỳ gối cúi đầu của những tên hầu cận cũng là những tên không tim, óc.. mà sẵn sàng bán cả giang sơn cho giặc! Nhìn lại bản đồ hiện tại, chúng phải biết rằng tình hình đất nước đã thành một tỉnh của Tầu Khựa rồi.

Miền Bắc: sau khi bị Tầu Khựa lấn chiếm sâu vào cả vài ngàn cây số, thì 15 tỉnh đầu nguồn tiếp nối cũng được công khai bán luôn. Miền Trung: ruột gan của đất nước cũng bị Tầu Khựa chiếm vài ngàn cây số làm giang sơn riêng dưới danh nghĩa là khai thác Bô xít. Lộ trình chạy dọc Bắc Nam: được tặng cho Tầu Khựa làm đường, khống chế hai bên lộ. Còn biển Đông: Tầu Khựa vẽ đường lưỡi bò, ngang nhiên bắn, giết, bắt tầu thuyền của ngư dân. Kinh Tế: Tầu Khựa cho hàng dỏm, hàng độc sang tràn ngập đất nước, vừa phá kinh tế vừa giết dần dân chúng bằng độc dược. Nhục nhã hơn hết là về chính trị: TẤT CẢ NHỮNG AI NÓI LỜI YÊU NƯỚC, CHỐNG TẦU KHỰA ĐỀU BỊ BẮT NHỐT VỘI VÃ VỚI BẢN ÁN TỐI THIẾU 5 NĂM TÙ ĐẾN 16 NĂM TÙ KHỔ SAI.

Như thế, làm sao mà nói cái “chính phủ bù nhìn” này gồm những “con người” có “tim” được?

Không, chúng chỉ là một lũ nô lệ khổng lồ không tim, không phải con dân Việt Nam, chưa từng học lịch sử Viêt Nam, và nếu có hình dạng bên ngoài giống người Viêt Nam, chúng chỉ là những đứa con hoang của Tầu Khựa mà thôi.

Chu Tất Tiến. Ngày cuối tháng 5/2013.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Liên quan đến cuộc bầu cử Quốc Hội Đức 2021 trước đây tôi đã giới thiệu lần lượt ba ứng cử viên: Scholz của SPD, Laschet (CDU) và Baerbock (Xanh). Nhưng trong những tháng qua có khá nhiều tin giật gân nên để rộng đường dư luận tôi lại mạn phép ghi ra vài điểm chính bằng Việt ngữ từ vài tin tức liên quan đến cuộc bầu cử 2021 được truyền thông và báo chí Đức loan tải.
Năm 17 tuổi, đang khi học thi tú tài, tôi bỗng nhiên bị suyễn. Căn bệnh này – vào cuối thế kỷ trước, ở miền Nam – vẫn bị coi là loại nan y, vô phương chữa trị. Từ đó, thỉnh thoảng, tôi lại phải trải qua vài ba cơn suyễn thập tử nhất sinh. Những lúc ngồi (hay nằm) thoi thóp tôi mới ý thức được rằng sinh mệnh của chúng ta mong manh lắm, và chỉ cần được hít thở bình thường thôi cũng đã là một điều hạnh phúc lắm rồi. If you can't breathe, nothing else matters!
Một người không có trí nhớ, hoặc mất trí nhớ, cuộc đời người ấy sẽ ra sao? Giả thiết người ấy là ta, cuộc đời ta sẽ như thế nào? Ai cũng có thể tự đặt câu hỏi như vậy và tự cảm nghiệm về ý nghĩa của câu hỏi ấy. Sinh hoạt của một người, trong từng giây phút, không thể không có trí nhớ. Cho đến một sinh vật hạ đẳng mà chúng ta có thể biết, cũng không thể tồn tại nếu nó không có trí nhớ. Trí nhớ, Sanskrit nói là smṛti, Pāli nói là sati, và từ Hán tương đương là niệm, cũng gọi là ức niệm, tùy niệm. Nói theo ngôn ngữ thường dùng hiện đại, niệm là ký ức. Đó là khả năng ghi nhớ những gì đã xảy ra, thậm chí trong thời gian ngắn nhất, một sát-na, mà ý thức thô phù của ta không thể đo được.
Ba mươi năm trước tôi là thành viên hội đồng quản trị của một cơ quan xã hội giúp người tị nạn trong khu vực phía đông Vịnh San Francisco (East Bay) nên khi đó đã có dịp tiếp xúc với người tị nạn Afghan. Nhiều người Afghan đã đến Mỹ theo diện tị nạn cộng sản sau khi Hồng quân Liên Xô xâm chiếm đất nước của họ và cũng có người tị nạn vì bị chính quyền Taliban đàn áp. Người Afghan là nạn nhân của hai chế độ khác nhau trên quê hương, chế độ cộng sản và chế độ Hồi giáo cực đoan.
Bà Merkel là một người đàn bà giản dị và khiêm tốn, nhưng nhiều đối thủ chính trị lại rất nể trọng bà, họ đã truyền cho nhau một kinh nghiệm quý báu là “Không bao giờ được đánh giá thấp bà Merkel”.
Hai cụm từ trọng cung (supply-side) và trọng cầu (demand-side) thường dùng cho chính sách kinh tế trong nước Mỹ (đảng Cộng Hòa trọng cung, Dân Chủ trọng cầu) nhưng đồng thời cũng thể hiện hai mô hình phát triển của Hoa Kỳ (trọng cầu) và Trung Quốc (trọng cung). Bài viết này sẽ tìm hiểu cả hai trường hợp. Trọng cung là chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hoà từ thời Tổng Thống Ronald Reagan nhằm cắt giảm thuế má để khuyến khích người có tiền tăng gia đầu tư sản xuất. Mức cung tăng (sản xuất tăng) vừa hạ thấp giá cả hàng hóa và dịch vụ lại tạo thêm công ăn việc làm mới. Nhờ vậy mức cầu theo đó cũng tăng giúp cho kinh tế phát triển để mang lại lợi ích cho mọi thành phần trong xã hội. Giảm thuế lại thêm đồng nghĩa với hạn chế vai trò của nhà nước, tức là thu nhỏ khu vực công mà phát huy khu vực tư.
Gần đây, chỉ một tấm ảnh của nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ – Nicole Gee – ôm em bé người Afghan với thái độ đầy thương cảm thì nhiều cơ quan truyền thông quốc tế đều phổ biến và ca ngợi! Nhân loại chỉ tôn trọng sự thật, trân quý những tâm hồn cao thượng và những trái tim biết rung động vì tình người – như nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ, Nicole Gee – chứ nhân loại không bao giờ thán phục hoặc ca ngợi sự tàn ác, dã man, như những gì người csVN đã và đang áp đặt lên thân phận người Việt Nam!
Tôi vừa mới nghe ông Trần Văn Chánh phàn nàn: “Cũng như các hội nghề nghiệp khác, chưa từng thấy Hội nhà giáo Việt Nam, giới giáo chức đại học có một lời tuyên bố hay kiến nghị tập thể gì liên quan những vấn đề quốc kế dân sinh hệ trọng; thậm chí nhiều lần Trung Quốc lấn hiếp Việt Nam ở Biển Đông trong khoảng chục năm gần đây cũng thấy họ im phăng phắc, thủ khẩu như bình…”
Thế giới chưa an toàn và sẽ không an toàn chừng nào các lực lượng khủng bố trên thế giới vẫn còn tồn tại, một nhà báo, cựu phóng viên đài VOA từ Washington D.C. nói với BBC News Tiếng Việt hôm thứ Năm. Sự kiện nước Mỹ bị tấn công vào ngày 11 tháng 09 năm 2001 đã thức tỉnh thế giới về một chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan đang tồn tại trong lòng các nước Trung Đông. Giờ đây, sau 20 năm, liệu người Mỹ có cảm thấy an toàn hơn hay họ vẫn lo sợ về một cuộc tấn công khủng bố khác trên đất nước Hoa Kỳ hay nhằm vào công dân Mỹ ở nước ngoài.
Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, những kẻ khủng bố Hồi giáo thuộc tổ chức mạng lưới Al-Qaida đã dùng bốn phi cơ dân sự làm thành một loại vũ khí quân sự để tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới ở New York và Lầu Năm Góc ở Washington D.C. Các sự kiện không tặc loại này là lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh của nhân loại và đã có hậu quả nghiêm trọng nhất trong lịch sử cận đại.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.