Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

ĐỒI VỌNG CẢNH -NÚI NGỌC TRẢN LÀ LONG ĐỊA VIỆT NAM

12/03/201300:00:00(Xem: 7866)
Đồi Vọng Cảnh Huế tọa lạc ngay bên bờ sông Hương, bên cạnh núi Ngự Bình, cách Thành Phố Huế chừng 7, 8 km, không xa lăng Tự Đức và lăng Đồng Khánh, là vị trí tuyệt vời để từ trên đỉnh đồi, chúng ta có thể ngắm bao quát một vùng rộng lớn từ phía Tây dãy Trường Sơn chạy dọc từ Bắc vào Nam, phân ranh địa giới Lào và Việt Nam, đến phía đông Thành Phồ Huế ra tận cửa biển Thuận An.

Dưới chân đồi là dòng Hương Giang lững lờ trôi xuôi qua những lăng tẩm, những kiến trúc cố kính thấp thoáng dưới rừng thông cố thụ xanh rì. Đó là lăng Minh Mạng, lăng Thiệu Trị, Tu Viện Thiên An… vả những vuờn cây ăn trái xanh um.

Thấp thoáng xa xa bên kia bờ sông Hương là điện Hòn Chén nằm dưới chân triền núi Ngọc Trản chếch về hướng Tây Bắc. Núi Ngọc Trản như chén ngọc úp xuống vực sông Hương, nhìn kỹ, sẻ thấy màu nước của dòng sông Hương đến khu vực này như xanh hơn, đây là nơi sâu nhất của sông Hương. Nhìn xa hơn về phía Bắc là những đồi núi mờ mờ từ núi Ngọc Trản nối mãi đến vô tận, tận miền viễn Bắc xa xôi, tận biên giới Việt Trung.

Từ đời nhà Lý, nước Việt Nam, lúc đó là Đại Việt có biên giới cực Nam là bắc tỉnh Quảng Bình bây giờ. Năm 1069, sau cuộc chiến với nhà Lý, Chiêm Thành thua, nên vua Chiêm cắt ba châu Bố Chính, Địa Lý và Ma Linh ở biên giới Chàm Việt cho Đại Việt. Năm 1306, vua Chiêm Thành là Chế Mân dâng Châu Ô và Châu Lý để làm sính lễ cưới Công chúa Huyền Trân của nhà Trần. Sau đó Vua Trần Anh Tông gom cả 5 châu và đổi tên là Châu Thuận và Châu Hóa. Đến thời nội thuộc nhà Minh được gọi chung là Thuận Hóa. Đời nhà Nguyễn, Thuận Hoá bao gồm từ tỉnh Quảng Bình tới đèo Hải Vân ở phía Nam, địa danh Huế có thể từ tên châu Hóa mà thành.

Núi Ngọc Trản thuộc làng Hải Cát, xã Hương Hồ, quận Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên, có thời gọi là Hưong Uyển Sơn, nắm hơi chếch lên phía thượng nguồn so với đồi Vọng Cảnh bên bờ Nam sông Hương.
bao-tam_1
Đồi Vọng Cảnh Huế / Ảnh Khoa Tran
Nói đến núi Ngọc Trản, ai cũng phải biết đến Điện Hòn Chén dưới chân núi, nằm sát bờ sông Hương. Tên Hòn Chén nguyên là do trên đỉnh núi có một chỗ đất trũng xuống, khi trời mưa, nước thường đọng lại đó, nên dân gian gọi là Hòn Chén. Sau này, từ truyền thuyết, một lần vua Minh Mạng lên dự lễ hội ở điện Hòn Chén đã làm rơi chén ngọc xuống dòng sông Hương, tưởng mất, nhưng sau đó có con rùa to nổi lên, miệng ngậm chén ngọc trao lại cho Vua. Vì vậy mới có tên Ngọc Trản và tên Hòn chén đôi khi được gọi là Hoàn Chén. Tuy nhiên đó là truyền thuyết do những vị vua biết cách loan truyền khôn khéo để tăng sự huyền bí được thần linh phù trợ cho ngôi vua của chính mình. Dù là tên gì, nhân gian cứ gọi tên đó là điện Hòn Chén, vừa nôm na, vừa mô tả đúng sư hình thành của địa lý, ngay cả sau này còn có nhiều tên khác như Ngọc Trản Sơn Tử, Huệ Nam Điện đi kèm với những truyền thuyết khác.

Điện Hòn Chén có lẽ là nơi duy nhất ở Việt Nam thờ đa thần, pha trộn chính giữa Phật giáo và Thiên Tiên Thánh Giáo, ban đầu chỉ thờ Thánh Mẫu Thiên Tiên Y Na, biểu tượng "Người Mẹ của Đất" nhưng lần hồi thờ cả Phật, các vi Di lặc….thờ Liễu Hạnh công chúa và người ta còn thấy thờ hằng trăm thần linh khác nữa, kể cả những thần như Quan công…kể cà vua Đồng Khánh và ngay cả … Bạch Hổ

Đã nói tới điện Hòn Chén, chúng ta không thể nói dến những lễ tiết nơi đó, nguyên đó là nơi thờ thần Ponagar của người Chàm, sau này người Việt Nam thờ Thánh Mẫu ThiênY A Na, hai chữ đều có nghĩa là "Người Mẹ của Đất", chữ đất ở đây ý chỉ đất nước, xứ sở.

Cứ vào mỗi năm vào tháng Ba và tháng Bảy, có lễ hội Hòn Chén, lễ hội đầy màu sắc nhất của xứ Huế, đặc biệt, phần lớn được diễn ra trên sông Huơng. Những người tham dự lể hội kết từng hai con thuyền làm một để cung nghinh tượng Thánh Mẫu. Họ treo đèn và kết hoa nhiều màu, cờ phướn, hương án sặc sở, tỏa hương khói nghi ngút trên sông thành một thuyền hoa. Nguời lo tế lễ cũng như người đi dự hội đều mặc áo quần đủ màu chèo thuyền từ hạ nguồn và diễn hành lên tới bờ điện Hòn Chén. Lễ hội điện Hòn Chén có ý nghĩa chính là cung nghinh Thánh Mẫu Thiên Y A Na, với sự cầu xin cho quốc thái dân an, nhưng chen vào đó còn có những lễ tục khác, trong đó phải kể đến Lên Đồng hay Hầu Đồng, Hầu Bóng. Người người đến đó với nhiều ý cầu xin khác nhau.

Lên đồng là hiện tượng một người nào đó thường được gọi là người có cốt đồng, trong một cuộc tế lễ, người đó bỗng nhiên được một hay nhiều hồn nhập vào, họ trở thành chính người có hồn nhập vào để phán truyền việc gì đó quan trọng hay đơn giản trị giúp bịnh tật cho người cầu xin. Đôi khi họ được chính thần linh nhập vào, và lễ hội Hòn Chén là nơi có nhiều cơ hội để những cốt đồng được thần nhập.

Bản thân tôi đã một lần kinh nghiệm sự huyền bí của việc lên đồng này. Mẹ tôi đau ốm đã hơn 5 năm, ba tôi chữa chạy nhiều nơi, nhưng không hết bệnh, nên đưa từ Sài Gòn về Huế, chỉ là để Mẹ tôi sẽ được yên nghỉ nơi chôn nhau cắt rốn. Nhưng về đó, bà con nhờ cốt đồng chữa giúp vì cho rằng Mẹ tôi bị bịnh âm. Nhưng việc đó bị ông ngoại tôi phản đối vì ông không tin chuyện lên đồng.
bao-tam_2
Tháng Ba, tháng Bẩy có lễ hội Điện Hòn Chén
Một lần, chúng tôi cúng cầu xin cho Mẹ tôi ở một cái miễu cách nhà Mẹ tôi đang nằm dưỡng bịnh chừng hơn 100 mét, có cả ông ngoại của tôi, thì bất ngờ một người bỗng lên đồng, chỉ đích mặt và gọi tên tục ông ngoại tôi để chưởi thậm tệ, bắt ông ngoại tôi quỳ xuống tạ lỗi thần linh, nhưng ông Ngoại tôi không làm và tỏ vẻ khinh thường người đó giả bộ. Nhưng bà cốt đồng bảo ông Ngoại tôi nếu không tin thì thử vào xem con ông (tức Mẹ tôi) đang bị hành như thế nào. Chúng tôi chạy vào xem thì thấy mẹ tôi đang hoa tay múa chân, rên rỉ như đau đớn lắm, mặc dù từ hai năm, mẹ tôi hầu như nằm bất động, gần như liệt hẳn trên giường…. Vì vậy ông Ngoại tôi buộc phải lạy để xin chữa bịnh cho mẹ tôi. Nhưng dù được hứa sẽ chữa bịnh cho Mẹ tôi và còn tổ chức lên đồng nhiều lần để chữa bịnh, nhưng mẹ tôi chỉ yếu dần cho đến khi qua đời, không hề thấy dấu hiệu hồi phục…

Lễ hội Điện Hòn Chén được dân chúng Huế và nhiếu nơi về tham dự. Mặc dù vậy rất ít người biết đến truyền thuyết liên quan tới đồi Vọng Cảnh và Núi Ngọc Trản.

Tương truyền sau khi Nguyễn Trãi bị triều thần của Vua Lê Thái Tông tru di tam tộc, một người con ngoại hôn của ngài là Thái tử Anh Tề trốn thoát được. Một trong số những người theo Anh Tề có tên là Nguyễn Dự Ao, sau đó theo lịnh sang Tàu học về Phong Thủy và Địa Lý để sau này về Việt Nam kiếm đất dung thân cho dòng họ Nguyễn.

Sau khi học thành tài, Dự Ao được thầy cho về Việt Nam thăm quê nhà. Ông thầy vốn là một ẩn sư về Phong thủy nên rất thông thạo mọi thế đất từ Trung Hoa tới Việt Nam. Trước khi Dự Ao ra đi, ông dặn Dự Ao khi về Việt Nam, nếu có dịp đến một ngọn đồi phong cảnh như thế…như thế… từ dưới chân đồi, thì hãy che cả hai mắt lại trước khi lên đồi, nếu không sẽ bị mù.

Dự Ao nghe lời, khi đi ngang qua chân đồi Vọng Cảnh, biết đúng là nơi thầy dặn, ông che hai mắt lại để lên đồi. Nhưng ông ngẫm nghĩ, nơi này phải là nơi đặc biệt gì lắm thầy mới dặn mình như thế. Ông bèn che một mắt và mở một mắt ra nhìn, để nếu bị mù thì vẫn còn một mắt.

Bao quát trước mắt ông là núi Ngọc Trản, và cheo leo trên sườn núi, thế đất phô ra một khu rừng rậm rạp chúi xuống vực sâu của sông Hương như đầu một con rồng đang uống nước. Dòng nước nơi đó trong xanh hơn miền thượng lưu rất rõ. Sau khu rừng là thế núi bao la uốn khúc bất tận về phương Bắc, ông đếm theo phong thủy, đúng 10 ngọn núi tạo thành thế con rồng mười khúc oai nghi lẫm liệt, chấn dọc theo hướng Tây, và đuôi rồng là miền viễn Bắc xa xôi. Ông biết đấy chính là Long Địa, nếu biết dung đúng mạch sẽ thành một trung tâm phát triển không những cho dòng họ Nguyễn mà là cho cả trăm họ Việt Nam.

Tuy nhiên thầy của Dự Ao biết trước đó là Long Địa của Việt Nam, biết rõ nếu có ai thông thạo để khai thác phong thủy trong vùng, sẽ đưa Việt Nam đi lên hàng Vương Đế, lấn át cả Trung Hoa. Ông ta dặn Dự Ao như thế vì ông biết Dự Ao là học trò giỏi, có thể làm được điều đó. Nhưng chính ông thầy, không những thông thạo về phong thủy mà còn biết cơ trời, ông biết dù dặn hay không, Dự Ao cũng khám phá ra địa thế nói trên. Khi Dự Ao ra về, ông đã cử một người học trò khác đến núi Ngọc Trản để trấn yểm.

Tất cả không thoát khỏi cơ Trời, khi người học trò bắt đầu trấn yểm thì cũng là lúc Dự Ao có mặt. Dư Ao đang quan sát cảnh núi Ngọc Trản từ đồi Vọng Cảnh, bỗng dưng thấy thế núi chuyển dịch. Dự Ao biết nguy, liền đưa tay bấm độn, đồng thời phản yểm, nhưng không kịp, thế núi sau đó nhìn lại theo phong thủy chỉ còn 9 ngọn, không còn đủ 10 ngọn.

Nếu Dự Ao không phản yểm kịp thời, tất cả long mạch của vùng đất đã bi phá tan hoang, không cơ cứu vãn. Tuy nhiên Dự Ao cũng biết rằng Long Mạch của đất Việt đã bi phá hủy một phần lớn. Sau đó, Dự Ao ngoài việc đưa gia đình Anh Tề vào lập nghiệp, còn thu nhận nhiều đồ đệ để truyền nghề. Mặc dầu khu rừng rậm trên triền núi Ngọc Trản đã được người Chiêm Thành thời đó lập nơi thờ phượng, nhưng Điện Hòn Chén chỉ được thờ phượng một cách cung kính và thường xuyên từ thời Anh Tề đến lập nghiệp. Tuy nhiên về sau, con cháu Anh Tề vì chưa lập được sự nghiệp gì, lại trở về Thanh Hóa.
bao-tam_3
Lễ hội điện Hòn Chén có ý nghĩa chính là cung nghinh Thánh Mẫu Thiên Y A Na (hay bà Chúa Ngọc, người Chiêm Thành (Chăm) gọi là nữ thần Poh Nagar, hay Pô Ino Nogar) để cầu xin cho quốc thái dân an, nhưng chen vào đó còn có những lễ tục khác, trong đó phải kể đến Lên Đồng hay Hầu Đồng, Hầu Bóng. Người người đến đó với nhiều ý cầu xin khác nhau.
Và cũng chính là cơ Trời, vì khi còn 10 ngọn, đuôi Rồng lan tới tận phương Bắc, vào sâu tới tận đất Trung Hoa. Nay còn 9 ngọn, đuôi Rồng trấn ngự ngay biên giới, từ vị trí đó, đuôi Rồng chĩa làm hai, tạo nên một loại cỏ rất kỳ lạ, gọi là cỏ Phân Mao.

Cỏ Phân Mao mọc tự nhiên ở biên giới phía Bắc Việt Nam như một cột mốc do Trời định. Từ vị trí ngọn cỏ ngả về Nam là đất Việt Nam, phần ngọn cỏ ngả về Bắc là đất Trung Hoa. Ngày xưa, dân giang hồ hay thổ phỉ vùng núi Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Tây, Quảng Đông, Vân Nam cứ theo đó mà phân giới địa, không ai dám xâm phạm của ai.

Cũng vì cơ Trời đã định trước, quân Tàu có đôi lần tấn công tới tận Thăng Long rồi cũng thất bại quay về bên kia lằn cỏ Phân Mao, mặc dầu ngay cả khi cỏ Phân Mao chưa xuất hiện.

Cũng từ nơi xuất phát đầu Rồng, Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng, nghe theo lời của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, một trong những học trò truyền thời của Nguyễn Dự Ao, đã một thời xây dựng Vương Đế và từ đó lập đầu cầu xây dựng miền Nam Việt Nam, tạo thành nước Việt Nam hoàn chỉnh như ngày nay

Cũng cần nhắc lại câu nói của Trạng Trình khuyên Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng: "Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân". Có nghĩa là "Núi Hoành một dãi, dung thân muôn đời." Qua câu này, Trạng Trình chỉ cho dòng họ Nguyễn nơi dung thân muôn đời, chứ không hề chỉ cho nơi lập Vương Đế muôn đời. Vì vậy cũng dễ hiểu đế nghiệp của họ Nguyễn chỉ có giới hạn thời gian mấy trăm năm là dứt.

Anh Tề là con của quan Hành Khiển Nguyễn Trãi, người giúp Vua Lê Lợi đuổi quân Minh ra khỏi bờ cởi, vốn là một chi nhánh của con cháu Định Quốc Công Nguyễn Bặc, khai quốc công thần đời vua Đinh Tiên Hoàng. Chúa Nguyễn Hoàng sau này cũng cùng dòng họ với Nguyễn Trãi, nhưng ở chi khác. Từ đời thứ 8, thì hai nhánh bắt dầu tách. Nhánh nào cũng có công thần giúp các triều đại tiếp theo. Nhánh của tổ tiên chúa Nguyễn Hoàng truyền đến đời thân phụ của ngài Nguyễn Kim thì gặp lúc Mặc Đăng Dung đang tiếm quyền vua Lê và lập nên nhà Mạc.

Trong thời kỳ ngài Nguyễn Kim chưa có thể ra mặt chống lại Mặc Đăng Dung, tương truyền có một kế hoạch tinh vi để bảo vệ ngài Nguyễn Kim, vì vậy các gia phả đã được viết lại, tới bây giờ vẫn là một nghi án lịch sử, chưa biết ai là thân phụ của ngài Nguyễn Kim.

Khi Ngài Nguyễn Kim đủ lực lượng và đem quân qua Ai Lao lập căn cứ chống nhau với nhà Mạc, sau đó lập vua Lê Trang Tông lên ngôi. Trong một trận chiến với quân nhà Mạc, Hưng Quốc Công Nguyễn Kim bất ngờ bị người đầu độc và qua đời. Người con rể là Dực Quận Công Trịnh Kiểm được vua Lê chỉ định thay thế. Ngay lúc đó không ai dị nghị, nhưng Trịnh Kiểm biết là việc tấn phong này chỉ tạm thời, khi về triều, chắc chắn vua và triều thần sẽ nghĩ lại vì Hưng Quốc Công Nguyễn Kim còn hai người con là Lãng Quận Công Nguyễn Uông và Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng. Vì vậy Trịnh Kiểm đã tìm cách hại chết Lãng Quận Công Nguyễn Uông. Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng biết thế nguy nên giả điên một thời gian dài, sau nhờ người chị Ngọc Bảo, vợ Trịnh Kiểm xin vào trần thủ Thuận Hóa.

Đây là một tính toán rất tinh vi của chúa Nguyễn Hoàng, mặc dù chúa Nguyễn Hoàng không hề biết đến các việc làm của Thái tử Anh Tề, nhưng những tin tức về long mạch ờ Thuận Hóa, chúa Nguyễn Hoàng đã nắm đủ, nhưng chúa Nguyễn Hoàng không hề đề cập tới mà chỉ vin vào câu nói của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm để đem gia quyến và những người ủng hộ vào Thuận Hóa… Từ đó chúa Nguyễn Hoàng đã xây dựng miền Nam Việt Nam thành vùng trù phú từ Thuận Hóa tới mũi Cà Mâu

Long mạch Việt Nam vốn có từ xa xưa, theo phong thủy, vốn là con rồng trấn yểm phương Tây và phuơng Bắc nuớc Việt Nam. Mặc dù vậy, có Long mạch nhưng khi chưa gặp Long Thần thì chưa có thể khai thác được để mở rộng bờ cõi. Chính sau này, dòng dõi ngài Nguyễn Bặc và con cháu nối tiếp đều là những công thần lập nước và giữ nước và Long Thần Nguyễn Hoàng đã xuất hiện để từ nơi có đầu rồng ở núi Ngọc Trản mở rộng đất nước đến tận mũi Cà Mau như hiện nay. Vì vậy, câu nói của Trạng Trình không phải tình cớ mà đã được ông tổ Dự Ao truyền lời.
bao-tam_4
Bà Thiên Y A Na tuy chỉ là một vị thần theo truyền thuyết, nhưng đã được cư dân Việt và Chăm thờ phụng, và đã được nhà Nguyễn xếp vào bậc thượng đẳng thần.
Nhìn lại lịch sử, chúng ta biết là suốt thời kỳ chúa Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa, mặc dù nước Việt Nam lúc đó phân làm ba, gồm nhà Mạc và hai phe của nhà Lê là Trịnh Nguyễn, nhưng quân Tàu không bao giờ dám tấn công qua Việt Nam. Nhà Mạc lúc đó đã mấy lần cầu khẩn nhà Minh, nhưng không một ông vua Trung Hoa nào dám xâm lăng Việt Nam. Khi vua Quang Trung đánh đuổi các chúa Nguyễn, sau đó, dựa vào truyền thuyết, đã đổi sang họ Nguyễn và tự ý lập làm Hoàng Đế ngay ở Long Địa, nơi ông Dự Ao đã khám phá, nhưng chỉ là một vùng nhỏ đó thôi, không làm hoàng đế toàn cỏi Việt Nam hay toàn miền Nam Việt Nam như các chúa Nguyễn trước. Việc xưng đế đó đã phạm Long Mạch và tạo dịp quân Tàu đánh chiếm đến tận Thanh Hóa. Tuy nhiên, vua Quang Trung, với tài năng quân sự lổi lạc đã đánh đuổi quân tàu ra khỏi bờ cỏi bằng những chiến công oanh liệt. Nhưng sau đó cũng thất bại vì những toan tính muốn đánh chiếm Quảng Đông và Quảng Tây, đã qua đời một cách bí ẩn trong khi đang khỏe mạnh.

Cũng theo lịch sử, dù Chúa Nguyễn Hoàng biết đang ở Long Địa, nhưng cũng biết hạn chế của nó nên chưa bao giờ xưng là Hoàng Đế, ngay cả sau này vua Gia Long lập thành vương triều, cũng chỉ xưng Vương. Tới triều vua Bảo Đại vì xưng Đế và lập Hoàng Hậu trái với di chỉ của tổ tiên mà mất ngai vàng.

Từ những diễn biến lịch sử này chúng ta có thể chiêm nghệm để biết Long Địa cần có Long Thần mới thành công lớn được.

Đồi Vọng Cảnh từ thời các chúa Nguyễn trở thành nơi thiêng liêng trong tâm khảm của người xứ Thuận Hóa, xứ Huế ngày nay. Không một người Huế, người Thừa Thiên, người Thuận Hóa xưa, không một lần đến đồi Vọng Cảnh để chiêm ngắm sông nuớc mênh mông của dòng Hương, núi đồi bao la của rặng Trường Sơn xa xa, nhất là hướng về điện Hòn Chén để tưởng nhớ tới các bậc tiền nhân một thời lập quốc, để bùi ngùi nhớ tiếc thời đất nước thịnh hưng, và nhất là để "Luận cổ suy kim".

Có đến đó vào buổi sáng khi mặt trời lên, chúng ta mơí nhận ra trời đất giao hòa như thế nào để có một ngày tươi vui và ấp áp, có đến đó khi mặt trời đang lặn để chiêm ngắm ánh hoàng hôn đang tắt dần sau triền núi để nghĩ suy về vận nước, vận người, để hiểu một ngày qua đi để rồi một ngày trở lại, tuần hoàn của suy vi và hưng thịnh… Có đến đó vào đêm trăng để thấy sự bao la của vũ trụ… Hãy đến đó vào những chiều mưa lất phất để hưởng thú thanh nhàn của nơi, dù không cao, nhung cao về tư tưởng, về văn hòa để trải lòng mình về với thiên nhiên vốn có của nó… Có đến đó, chúng ta mới biết hết con người chính ta…Và, là người Huế, dù giàu nghèo ai cũng đã đến đó một lần, nơi nhỏ nhoi nhưng là nơi con người vươn tới thiên nhiên, tới vũ trụ.

Năm 2005, nhà cầm quyền cộng sản bất chấp tình tự thiêng liêng sâu lắng của con người, bất chấp tình tự lịch sử của khu vực, đã cấu kết với các tỷ phú Hòa Lan lập một khu du lịch và xây một khách sạn ngay trên đỉnh đồi Vọng Cảnh dành cho những kẻ lắm tiền nhiều của. Nhìn theo khía cạnh kinh tế, dự án xây khách sạn ở một vị trí như đồi Vọng Cảnh sẽ đem lại lợi nhuận tức thời rất cao. Nhưng thực tế, dự án đó xâm phạm sâu xa đến văn hóa của dân tộc Việt Nam, đã biến đồi Vọng Cảnh đang là của chung của dân Huế, không phân biệt sang hèn, thành của riêng cho những kẻ lắm bạc nhiều tiền, nhưng tâm hồn thấp kém.

Trung Hoa, trước nay rất xem trọng phong thủy, và tin vào phong thủy, vì vậy xâm lăng đến đâu, chúng cũng nghiên cứu phong thủy để phá đi, nếu có hại cho họ. Đến tận hiện tại Tàu vẫn làm như thế, và những việc mua rừng đầu nguồn, khai thác bô-xít, phá hoại rừng núi Việt Nam, xây những khu vực riêng của họ, đều nằm trong toan tính phong thủy của họ, Khu buôn bán sầm uất của tàu ở Bỉnh Dương là một trấn yểm quan trọng cho toàn miền Nam, trong phong thủy của Tàu.

Nếu người cầm quyền Việt Nam cứ ngu dốt như hiện tại, tham lam tiền của cho riêng đảng cầm quyền, thì Tàu không đánh, không xâm lăng bằng súng đạn đi nữa, việc nước Việt Nam lại bị làm nô lệ cho Tàu cũng không xa.

Trải qua bao ngàn năm của lịch sử triều đại Việt Nam nào, cũng cố gắng nâng niu trân quý những di tích lịch sử, dù tự thân di tích đó mang dấu ấn nào đi nữa, cũng vốn đã hiện hữu. Tuy nhiên trong hơn 30 năm trở lại đây, các di tích lịch sử, các khu rừng hoang sơ và ngay cả những chùa chiền, đền đài lăng tẩm dần dần bị bỏ hoang phế hay bị khai phá để biến thành những khu du lịch kiểu Tây phương. Những bảo vật trân quí được các triều đại trước bảo vệ như Quốc Bảo, cũng lần lượt biến mất.

Một chính quyền thiển cận, chỉ biết đặt quyền lợi đảng cầm quyền trên quyền lợi của dân tộc, không bao giờ đủ kiến thức và lương tâm để biết rằng, biến đất nước Việt Nam thành một thứ sân khấu tạp nham, sao bản những rác rến của các nước khác chỉ có vẻ hưng thịnh trong đoản kỳ. Một chế độ chỉ biết phá hoại bản sắc văn hóa của chính dân tộc mình thì sớm muộn cũng sẽ bị lịch sử nghiền nát.

Bảo Trâm, Minnesota

Nhấn Vào Đây Để Tải Tập Tin PDF

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Tác giả tên thật David Huỳnh, cư dân Los Angeles, là một "chức sắc" của Hội Đi Câu tại Hoa Kỳ, từng nhận giải Đặc Biệt Viết Về Nước Mỹ 2012 với loạt bài kể chuyện đi câu đủ nơi, đủ loại, từ cá sấu gar Houston tới cá tầm California, câu tới Alaska, sang Mễ, qua tận Thái Lan, và nay thì câu về đến quê cũ.
Trương Ngọc Anh (hình bên) đã nhận giải bán kết Viết Về Nước Mỹ 2002. Bài và hình ảnh được thực hiện theo lời kêu gọi của chương trình Foodbank tại Quận Cam: "Nếu biết ai đó cần sự giúp đỡ, xin vui lòng hướng dẫn vào chương trình trợ giúp của chúng tôi."
Nếu viết về con rồng, thật dễ có văn chương bay bướm, kiến thức bao trùm thiên hạ, ai đọc cũng phục lăn. Vì sao? Vì con rồng chẳng hề có trên thế gian, chẳng ai thấy, nên cứ viết tào lao thiên địa, không ai bắt bẻ được. Giống như chuyện ma. Có hàng triệu chuyện ma mà chẳng ai thấy ma bao giờ.
Alice Springs? Gớm! Cái phố nhỏ như mắt muỗi, có đốt đuốc cháy mười ngày cũng chẳng nom thấy đâu trên bản đồ nước Úc.
"Hơn bốn mươi năm sau khi xuất hiện, Dương Nghiễm Mậu vẫn còn là nhà văn avant-garde đối với văn học Việt Nam bởi những suy tưởng và cách đặt vấn đề của ông vẫn còn nguyên những mấu chốt bí mật, nhiều truyện ngắn với lối cấu trúc rất lạ, chưa ra khỏi vòng trăn trở tìm tòi của người viết hôm nay." (Thụy Khuê viết về Dương Nghiễm Mậu, Con Người Nội Soi)
Nếu bạn có một người yêu, yêu rất yêu, bạn có muốn nói về người ấy không, có muốn giới thiệu người ấy cho cả “thế giới” biết không. Tôi chắc chắn bạn sẽ “lật đật” nói rằng có. Không cần hỏi, tôi đã thấy cả triệu người trên mặt đất này đã và đang làm việc đó.
Tác giả tên thật Vũ Văn Cẩm; Vượt biển năm 1981. Đến Mỹ 1982, hiện là cư dân Oklahoma từ 2003. Nghề Nghiệp: Electrical Engineer. tại Công Ty American Airlines, M&E Center, Tulsa, OK. Bài viết -trích từ Việt Báo Tết QWuý Tỵ - là một chuyện tình đẹp.
Tác giả là một luật gia và nhà hoạt động văn hoá xã hội của miền Nam trước 1975. Ông sinh năm 1934, tại Nam Định. Tốt nghiệp Đại học Luật khoa Saigon 1958. Du học tu nghiệp tại Mỹ 1961-62. Nghề nghiệp tại Saigon: Chuyên gia luật pháp tại Quốc hôi VNCH (1958-62),
Anne Khánh Vân, sinh năm 1974 tại Saigon, tốt nghiệp kinh tế tại Pháp, hiện sống và làm việc tại miền Đông Hoa Kỳ. Năm 2007, cô nhận giải Chung Kết Viết Về Nước Mỹ với tự truyện “Duyên Nợ Với Nước Mỹ.” Mới đây, Khánh Vân đã hoàn tất việc đón ba má, và vợ chồng người em trai sang đoàn tụ. Bài tết năm nay của cô là chuyện vui.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.