Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

KHU PHỐ TÔI ĐANG SỐNG ĐƯỢC XÂY TRÊN BÃI RÁC

25/02/201300:00:00(Xem: 2624)
Với “Hồi Ức Tháng Tư Của Long Mỹ,” cùng viết với người cháu là Hải Quân Trung Tá Paul LongMy Choate, Trương Kim Hoàng Thư đã nhận giải Vinh Danh Viết Về Nước Mỹ 2011. Là một kỹ sư điện, cô hiện làm việc tại DPW-LACO.

Không có gì thú vị bằng mỗi sáng dậy thật sớm ra ngồi ngoài sân sau với ly cà phê, nhìn cây cối xanh xanh, tâm hồn mình cảm thấy thật thoải mái. Mảnh vườn nhỏ này cũng là nơi riêng tư của tôi để thư giãn và tĩnh tâm sau một ngày làm việc căng thẳng.

Tôi có thói quen, khi ăn trái gì ngon là đào lỗ bỏ hột xuống, đụng đâu trồng đó, vậy mà vài tuần là thấy có mầm xanh trồi lên. Suy nghĩ, mình đâu có phân bón gì, cũng chả thèm săn sóc, sao gieo hột nào cũng lên tốt tươi. Nhìn vườn cây xanh tươi, tôi nhớ mảnh vườn sau ngôi nhà mình từng ở.

Thời đó, hơn hai chục năm về trước, vừa đi học vừa đi làm, đám sinh viên nghèo tụi tôi hùn nhau mướn một căn nhà cũ kỹ và giá cả rất hạp với túi tiền quá sức hạn chế. Sáng sớm hôm ấy cả đám đi coi nhà. Ông chủ cho tụi tôi biết trước căn nhà này gần đường rầy xe lửa, tiếng xe lửa mỗi khi chạy ngang thì rất ồn, nhưng nó chỉ chạy lúc sáng sớm và buổi trưa thôi, chỉ thỉnh thoảng mới thêm buổi tối. Ông kể luôn tiểu sử căn nhà, nói đây là nhà của ông bà cố xây từ thời mới dựng thành phố. Nghe ông nói một hơi, tụi tôi bàn nhau, người ta ở mấy chục năm, chịu đựng tiếng ồn xe lửa chạy ngang qua mỗi sáng trưa không sao thì tụi mình ở chắc không đến nỗi nào. Tụi tôi coi xong, ưng ý ngay vì nhà không có sân trước, nhưng sân sau rộng thênh thang, ông trả tiền nước nên mặc sức mà trồng rau cải, đỡ tốn tiền mua. Thấy ông chủ nhà cũng dễ chịu, nhưng quan trọng là tiền nhà rất nhẹ nhàng, cho nên, xe lửa mặc xe lửa, đâu có sao.

Dọn nhà xong, ngủ ngon lành thẳng cẳng được hai đêm, sang đêm thứ ba đang say mê không mộng mị trên giường tới khoảng 1 giờ sáng, cả đám giật mình bởi tiếng động ầm ầm, tưởng như có phản lực cơ đang đáp cánh ngoài sân, cây đèn trên trần lung lây đưa qua đưa lại, nguyên căn nhà rung chuyển. Cả bọn túa ra khỏi phòng nháo nhào. Dũng, thân hình vạm vỡ nhưng tánh nhát hơn thỏ đế, anh chàng nhanh chân vừa kéo Thanh vừa la: ĐỘNG ĐẤT!

Hai đứa kéo nhau chui xuống gầm bàn. Mấy đứa tôi bắt chước chui theo sau. Cả căn nhà rung càng mạnh hơn cùng tiếng rầm rầm càng lúc càng to càng gần, những âm thanh nghe đến rợn người, phát sợ … Anh chàng Dũng vừa ôm nhỏ Thanh vừa nói rung rung:

- Động đất kỳ này chắc phải mmạnh hơn kỳ động đất ở San Fransciso, chắc phải hơn 10 chấm.

Con Mai kêu thảng thốt:

- Má ơi má, con hổng muốn chết! Cả đám ôm cứng chân bàn, tim như ngưng đập.

Nhỏ Thanh dỗ con Mai:

- Đừng có sợ, cứ ôm chặt tụi tao nnnè. Bỗng dưng âm thanh từ từ nhỏ dần, căn nhà bớt rung chuyển, cây đèn hết lung lay … “toot toot toot” in như tiếng xe lửa… xa dần.

Thì ra, chỉ là do chuyến xe lửa chạy qua. Đấy là một kỷ niệm tụi tôi không bao giờ quên về ngôi nhà kế bên đường rầy xe lửa.

Sau trận động đất tưởng tượng ấy, tụi tôi có thói quen, giống như một đám con nít, mỗi thứ sáu dậy thiệt sớm để kịp giờ ra sân trước đợi xe lửa chạy ngang để vẫy tay chào ông lái tàu hỏa. Hôm nào bận hay dậy trễ là tuần đó buồn thiu như thiếu sót chuyện gì đó.

Tụi tôi ở căn nhà ấy cũng đươc vài năm. Tiếng xe lửa ngang nhà nửa đêm không còn làm chúng tôi hết hồn, đứng tim, hay khó chịu nữa, chỉ riêng anh chàng Dũng hơi bực mình vì anh ta thích nói chuyện, lúc đó bắt buộc anh phải im miệng, chờ đoàn xe chạy qua anh mới nói tiếp. Mà cũng hay, có lẽ nhờ cái đêm chàng Dũng kéo nàng Thanh xuống gầm bàn trốn nên trong lòng hai cô cậu có nụ tình thơm ngát nở hoa.

Đám bạn ra trường. Dũng và Thanh dung dăng nắm tay nhau lên xe hoa và nhận việc làm bên Texas. Đám còn lại, túa ra mỗi đứa đi một nơi. Đứa thì lên tuốt New Jersey, vài đứa có việc làm tại Cali nắng ấm.. Tôi muốn tránh nơi ồn ào như căn nhà bên đường rầy xe lửa nên dọn tới thành phố Duarte, sát bên Bradbury, nằm giữa Monrovia và Azusa. Phố nhỏ, gần núi nên có lẽ ít ai biết tới.

Đám bạn nói rất thích lại thăm tôi vì mỗi lần tới đây giống như được đi chơi xa. Ý tụi nó là nơi này khỉ ho cò gáy, không phố xá, không đèn sáng rực ban đêm, đa số dân ở đây là những ông bà đã về hưu, trừ những tiếng còi hú của xe cứu thương thỉnh thoảng hay chạy ra vô khu này, nơi đây thật yên tĩnh. Từ sân sau nhìn bên kia tường là sân đánh gôn. Tôi không thích môn này nên không để ý, thậm chí tránh không ra sân sau vào buổi sáng cuối tuần vì tiếng người ồn ào bên kia tường, nhưng từ chiều đến tối khi họ về hết, trả lại tôi không khí yên lặng bình yên.

Hôm tiển Dũng Thanh đi Texas, cả đám tụ họp ở nhà tôi. Từ lúc ra trường ít có dịp gặp lại nhau nên lần đó tụi tôi vui lắm, cùng nhau kể chuyện xưa. Anh chàng Dũng sau khi lấy vợ tự dưng trở nên người ít nói, đăm chiêu, có vẻ lớn ra, tụi tôi ai cũng mừng khen nhỏ Thanh quá hay.
hoang-thu_1
hoang-thu_2
Cả khu phố êm ả, cả trăm ngôi nhà với sân gôn, đường nhỏ chạy xe đạp cây cối xanh tươi được xây trên một bãi rác khổng lồ từ 40 năm trước
Cả đám đang nói chuyện vui vẻ, Dũng từ ngoài sân đi vô nói một hơi:

- Tui nhớ có đánh gôn ở sân bên kia một lần hồi năm ngoái, ông thầy dẫn đi, ông thầy nói ngày xưa chỗ này là nơi đổ rác, vậy là Thư ở trên đống rác!

Cả đám chưng hửng!

Nhỏ Thanh vừa lườm vừa lên tiếng:

- Ăn nói tầm bậy tầm bạ.

Tôi cũng thừa dịp ăn hiếp:

- Ông nói bậy bạ tui bóp cổ ông đó nha!

Hồi đó mỗi lần Dũng nói chuyện trên mây trên trời là có đứa đòi bóp cổ. Bị cả đám la một mách, anh chàng im không nói nữa.

Hôm sau tôi dậy thật sớm, ra sân ngồi, ngắm cây cỏ xanh tươi. Tôi bắt thang nhìn qua hàng xóm, nhìn sang bên kia tường, vẫn còn sớm nên sân gôn chưa có người. Đâu đâu cũng toàn màu xanh của cây cỏ, rất đẹp rất mát, rác đâu mà rác! Ấm ức rồi thắc mắc, tôi chạy ra thư viện, nhất định điều tra tiểu sử đống rác mà Dũng nói, trong lòng vẫn hy vọng anh chàng nói chuyện trời ơi đất hỡi giống như mấy lần anh hay kể cho tụi tôi nghe. Tôi kiên nhẫn tìm, sau mấy tiếng đồng hồ, đầu nhức như búa bổ, cặp mắt thì đỏ hoe.

May quá tìm được hai bài của báo LA Times, một bài đăng ngày 12 tháng 7 và bài kia đăng ngày 16 tháng 8 năm 1987.

Cả hai bài viết về khu nhà tôi ở, về hố rác ngày xưa có tên là Canyon Park Dump, nằm ở hướng đông bắc của thành phố Duarte, diện tích khoảng 32 mẫu, chiều sâu hơn 12 mét. Thời gian hoạt động là 20 năm, bắt đầu từ 1959 cho tới 1979, nhưng chỉ tới năm 1971, nơi này phải đóng cửa vì dung tích của rác đã vượt qua mức tối đa.

Năm 1978, thành phố mua lại bãi rác từ một tư nhân, ông chủ tên R.T., ông mất năm 1979.

Ban kế hoạch thành phố cho rằng đây là một nơi lý tưởng để xây sân đánh gôn và một số nhà hầu thu hút thêm dân chúng. Ngay sau đó họ cho lấp nguyên vùng và bắt đầu dự án tái phát triển, gồm sân đánh gôn và 122 nhà xung quanh. Sân đánh gôn khai trương năm 1982. Trong khoảng thời gian đó nhà thầu cũng vừa hoàn tất khu nhà cuối cùng. Dãy nhà bao quanh sân gôn, phía nam dọc theo đường Rancho và phía đông dọc theo đường Hacienda.

Năm 1980 một số nhà mới đã được bán. Nhưng không bao lâu con đường Rancho bắt đầu cong oằn, mặt đất trơn trượt, tường của mấy căn nhà mới xây bắt đầu có vết nứt. Một số chủ nhà trong khu đâm đơn kiện thành phố, nhà thầu, và những công ty liên quan đến vụ phát triển khu này.

Theo đơn kiện của ông G.A., lúc mới dọn vô nhà, ông có thể đậu xe bên lề đường và đi bộ vào sân trước. Chỉ thời gian ngắn, mặt đường bị lồi lên, ông phải bước lên dốc và đi thật cẩn thận vì sân trước có nhiều vết nứt sâu và kẽ hỡ thật to. Trước đấy, ông định xây một lò nướng BBQ và spa ở sân sau nhưng không thực hiện được vì sân sau nhà ông đã bị sụt lún cho nên bây giờ ông hầu như không dám bước ra sân. Không cắt cỏ, sân ông mọc đầy cỏ dại. Ông nói thêm, nền của căn nhà bốn phòng ngủ, hai phòng tắm rưởi mà ông đã mua với giá $115,000 bắt đầu trượt khỏi móng.

Các chủ nhà khác đều cho rằng sự thúi rửa và phân hủy của rác làm hư hại cả nhà lẫn đất, gây ra những đường nứt sâu trong sân, trên các bức tường và thiệt hại đến sườn nhà, có nơi làm bể cả ống tưới nước ngoài sân. Quan trọng nhất là khí methane. Năm 1980 thành phố cài đặt một hệ thống thu và tẩy tống khí methane, nhưng khí methane từ dưới bãi rác cũ, vẫn rỉ ra từ phía dưới những ngôi nhà, gây nguy hiểm cho sức khỏe của dân chúng. Từ lúc đó khu nhà mới trở thành khu địa ngục.

Trong đơn thưa năm 1985, các chủ nhà đòi bồi thường hơn $800,000 cho mỗi căn về những thiệt hại vật chất và tinh thần.

Luật sư J.L. đại diện cho các chủ nhà đã dùng chính những bản báo cáo của công ty xây cất K & B đã nghiên cứu vào năm 1983, rằng “có sự phân hủy rác rưởi ngay dưới đường Rancho và bên cạnh sân gôn, chỗ những vết nứt đã phát triển,” để ra toà đòi quyền lợi và bồi thường.

Trong những tháng sau, hàng trăm người dân đã hợp lại để buộc thành phố tìm giải pháp sửa chữa những hư hại đã gây ra từ bãi rác được lấp đất. Tiểu bang cũng ra lệnh cho thành phố phải trả chi phí cho các xét nghiệm để xác định nguồn nước ngầm có bị ô nhiễm hay không.

Con đường Rancho đã sụt nghiêng về phía sân gôn, lún xuống gần cả mét và làm gián đoạn giao thông. Thành phố phải bỏ ra tám tháng vào năm 1984 và 1985 để xây lại.

Rời thư viện, tôi chạy bay về nhà nhấc điện thoại gọi ngay cho Dũng và Thanh bên Houston. Chắc xứ bên đó buồn lắm hay sao mà như mọi lần tôi gọi, hai đứa bạn nói miết không chịu cúp. Tán dóc với Thanh một hồi, nó đưa điện thoại cho Dũng. Tôi nói ngay:

- Anh Dũng ơi …

Chưa nói hết câu, Dũng cắt ngang:

- Trời ơi, lâu lắm mới nghe Thư gọi mình bằng anh, muốn gì đây?

Lúc khác nghe câu này có lẽ tôi la làng, nhưng hôm nay tôi thành thật nói:

- Anh Dũng cho tui xin lỗi nha.

Dũng hỏi:

- Chuyện gì?

Tôi nói:

- Thì … vụ … đòi bóp cổ anh đó.

- Tại sao phải xin lỗi? Mấy cô bóp cổ tui bao nhiêu lần rồi.

- Hì … hì … Em thiệt đang ở trên đống rác.

Bên kia có tiếng cười … kha kha kha ….

Sau tràng cười, Dũng nói ông thầy kể chuyện khu phố xây trên bãi rác, chính ông ta là ông chủ một trong những ngôi nhà bao quanh sân gôn. Kể cho vui thôi vì chính ông ta nói ông ta hài lòng với ngôi nhà và cái sân gôn này. Yên ổn lâu rồi.

Sáng nay, ra sân thấy hoa sen trắng mà tôi yêu thích đã hé nở. Nhìn lại mảnh vườn, thấy cây cối tươi tốt ngoài sân, tôi bắt chước ông chủ nhà bên sân gôn, hài lòng với ngôi nhà của mình. Cây cao rễ sâu, có phải đã hút những chất phân hủy tốt như phân bón từ bãi rác. Căn nhà nằm trên hố rác, nhờ rác mà cây tốt tươi?

Năm nay, 2012, Mỹ đã cắm cờ trên ngôi sao Hỏa rồi. Lấy từng cục đá, từng mẫu đất, họ đang cặm cụi nghiên cứu. Đó là một hành tinh còn nguyên thủy, chưa có rác. Chắc chắn, khi phi thuyền rời khỏi trái đất, nhìn quả địa cầu tròn càng ngày càng xa càng nhỏ, ta có thể tưởng tượng và suy luận rằng, qua bao nhiêu thế kỷ và trong thế kỷ tiếp theo, lớp nầy chồng lên lớp kia, trái đất cũng chỉ là mảnh rác cỏn con của vũ trụ. Cả nhân loại thật ra cũng đang sống trên đống rác lớn. Quá trình tiến hóa của thiên nhiên và con người đã làm cho nó trở thành tươi đẹp hơn.

Mảnh vườn nho nhỏ được chăm nom mỗi buổi sáng nay rất xinh tươi. Quang cảnh của buổi sớm mai sao yên tĩnh đáng yêu. Giàn mướp hương phủ đầy khoảnh tường trong sân, một chút gió nhè nhẹ thổi qua, lay động những bông mướp vàng rực rỡ. Ôi những trái mướp xanh, luống rau thơm, sà lách, và cải xanh luôn luôn có sẵn nên lúc nào cũng có trong mỗi bữa cơm hằng ngày.

Tôi đang sửa soạn ăn tết tại khu phố xây trên đống rác.

Trương Kim Hoàng Thư

Nhấn Vào Đây Để Tải Tập Tin PDF
THẦN THOẠI RẮN

HUỲNH KIM QUANG

Hàng ngàn năm trước tây lịch, khi thổ dân Dravidian còn ngự trị khắp lãnh thổ Ấn Độ cổ thời, vùng phía tây Hy Mã Lạp Sơn là lãnh địa của rắn.

Vốn là vùng rừng núi bạt ngàn nằm trên nóc nhà thế giới, Hy Mã Lạp Sơn là nơi thâm u bí hiểm với sơn lam chướng khí trùng trùng và vô số loài thú dữ cư ngụ sẵn sàng lấy mạng người để làm thức ăn. Thời đó, thổ dân Dravidian không có đủ vũ khí hùng mạnh để chống cự với các loài mãnh thú và tự bảo vệ mình. Từng người vào rừng săn tìm thức ăn đã không thấy trở về. Độc địa nhất không phải chỉ là những hổ, cọp, gấu, beo nằm lồ lộ chờ mồi bên bờ suối, dưới gốc cây hay trong khe đá, mà ngay bên dưới lớp lá khô mục của đường rừng mà là những loài rắn nguy hiểm chực chờ bước chân người.

Trong số rắn độc lấy mạng nhiều thổ dân Dravidian nhất là loài mãng xà hung bạo. Chúng không những ở trên mặt đất mà còn ở dưới nước của sông, suối, khe, lạch, ao, mương. Người Dravidian còn cho rằng loài mãng xà có khả năng gọi mưa, thổi gió để trừng phạt con người. Thổ dân sợ loài rắn đó lắm. Họ không biết làm sao để đối phó hay trốn tránh chúng. Họ chỉ biết cầu nguyện. Và rồi họ nghĩ rằng cách hữu hiệu nhất là lập đền thờ rắn để cầu khẩn thần rắn tha mạng cho họ. Thần Nàga xuất hiện từ đó. Nàga không đơn giản là tên gọi một loài rắn bình thường mà còn biểu đạt sức mạnh siêu nhiên của thần linh có khả năng tàn hại hay cứu mạng con người. Huyền thoại Ấn Độ cổ thời cho rằng Thần Brahma rất sủng ái và tin tưởng hoàng tử rắn là Sesha nên giao nhiệm vụ cưu mang và bảo hộ thế giới cho hắn.

Không những thế, huyền sử cổ thời của các dân tộc khác cũng có tục thờ thần rắn, như tại vùng sông Nile của Ai Cập, vùng lưỡng hà của Ba Tư, hay tại lãnh địa của dân tộc Cam Bốt, v.v… Đặc biệt tại Trung Quốc nàga đã hóa thân thành rồng với sắc thái đặc dị và linh thiêng mà các vị vua Trung Quốc đều lấy đó làm biểu tượng cho vương triều của họ. Rồng Trung Quốc về hình thức thì có khác với thần rắn Nàga của Ấn Độ nhưng về đặc tính siêu nhiên và thần thoại thì không khác mấy.

Sử thi Mahabharata (xuất hiện vào thế kỷ thứ 9 trước tây lịch) của Ấn Độ kể chuyện làm sao rắn và diều hâu trở thành kẻ thù truyền kiếp để từ đó xảy ra các cuộc thiêu sống loài rắn. Chuyện kể rằng, ngày xưa vua diều hâu Garuda và rắn Nàga vốn là anh em họ. Nhưng đến đời thánh Kasyapa thì chuyện lục đục giữa hai nhà bắt đầu phát sinh. Lý do là vì ông thánh Kasyapa này có tới 13 bà vợ. Một trong 13 bà vợ đó có 2 bà tên là Kadru và Vinata. Kadru muốn có nhiều con, ngược lại Vinata thì chỉ muốn có ít con nhưng đứa nào cũng phải đầy quyền lực. Rồi thì cuối cùng cả hai bà đều được toại nguyện. Kadru đẻ ra một ngàn con rắn, và Vinata đẻ hai người con mà một người là Surya, thần mặt trời và người con kia là Garuda, con chim diều hâu mang nửa cốt người nửa cốt chim mà thần Vishnu thường cỡi trên lưng bay đi. Trong một cuộc đánh cá mà cổ thi gọi là ngu xuẩn, Vinata bị bắt làm nô lệ cho chị mình là Kadru. Nhưng oái ăm thay, nợ mẹ mà con phải gánh. Do đó, Garuda là con của Vinata đã bị buộc làm theo mệnh lệnh của rắn. Garuda bực tức và đã thề rằng không bao giờ buông tha. Khi Garuda hỏi con rằn làm sao để cứu được mẹ, Vinata bảo Garuda phải mang linh đơn, thần dược bất tử tới. Garuda bèn ăn cắp thần dược từ vị thần và mang tới cho các con rắn để hoàn thành yêu cầu của chúng, nhưng những con rắn đã không thực hiện lời hứa. Từ đó về sau, Garuda xem những con rắn là kẻ thù và bắt để ăn.

Trong cuộc cá độ, để giành phần thắng, Kadru, thủy tổ của rắn, yêu cầu con cháu bà phải tìm mọi cách để cho bà thắng. Nhưng con cháu rắn của bà đã không chịu làm thế, cho nên Kadru nổi giận và thề bắt chúng phải bị chết thiêu trong lễ tế rắn của Vua Janamejaya. Vua Janamejaya sinh ra mang theo mối hận vua cha bị rắn giết nên thề không đội trời chung với loài rắn. Do vậy ông thực hiện lễ thiêu sống rắn gọi là Sarpa Satra. Các cuộc tế lễ thiêu sống rắn được thực hiện bên bờ sông Arind tại Bardan, ngày nay là Parham. Và ngôi đền do Vua Janamejaya xây lên để tế sống rắn ngày nay vẫn còn tại vùng Mainpuri, ở Ấn Độ. Sau đó vị vua rắn Vasuki tỉnh thức trước lời thề và biết rằng những anh em của ông phải cần đến một vị anh hùng để giải cứu. Vasuki bèn đến vị đạo sĩ Jaratkaru với đề nghị kết hôn với nữ thần rắn là Manasa, chính là em gái của Vasuki. Cặp vợ chồng đạo sĩ Jaratkaru và nữ thần rắn Manasa sinh ra người con trai Astika chính là cứu tinh của rắn. Astika đến khuyên can Vua Janamejaya để chấm dứt cuộc tàn sát loài rắn và Vua Janamejaya làm theo.

Khi văn hóa Ấn Độ lan truyền sang vùng Đông Nam Á vào thế kỷ thứ 3 trước tây lịch đi theo đó là làn sóng truyền bá của Bà La Môn Giáo hay Ấn Độ Giáo. Trong số những quốc gia vùng Đông Nam Á hấp thụ nền văn hóa Bà La Môn của Ấn Độ sâu đậm và lâu dài nhất là Cam Bốt.

Rắn Nàga của Ấn Độ khi đến Cam Bốt đã hóa thân thành người. Huyền thoại này kể rằng, người con gái của Vua Rắn Nàga trong một tình cờ đã gặp được chàng thanh niên giòng dõi Bà La Môn của Ấn Độ có tên là Kaundinya. Hai người yêu nhau và lấy nhau, rồi sau đó sinh ra những người con để tạo thành dân tộc Cam Bốt tồn tại cho đến ngày nay. Trong nền văn hóa Cam Bốt, Rắn Nàga được tạc thành tượng 7 đầu để thờ trong các đền thờ như Đền Đế Thiên Đế Thích. Theo văn hóa Cam Bốt, 7 đầu tượng trưng cho 7 màu của cầu vòng. Người Cam Bốt còn giải thích Rắn Nàga có số đầu lẻ tượng trưng cho phái nam với năng lực, vô hạn, vô biên, và bất tử. Rắn Nàga có số đầu chẵn tượng trưng cho nữ giới với thể lực, hữu hạn, tạm bợ và trái đất.

Dân tộc Thái Lan và Lào cũng tôn thờ thần rắn nàga vì họ cho rằng thần rắn nàga là chúa tể cai quản dòng sông Mekong. Hàng năm người dân Thái Lan và Lào đều tổ chức lễ cúng tế thần rắn nàga. Người dân Thái và Lào sống dọc theo sông Mekong tin rằng cúng tế thần rắn nàga sẽ được thần rắn bảo hộ tai qua nạn khỏi lúc làm ăn trên sông, trên nước. Mỗi năm vào ngày 15 tháng 11 theo lịch Lào, một buổi lễ cúng tế thần rắn nàga được tổ chức trọng thể tại quận Phonephisai thuộc tỉnh Nong Khai của Thái Lan với pháp bông rực rỡ vào ban đêm.

Rắn nàga hóa thành người ở Cam Bốt và được tôn làm thần linh ở Ấn Độ, Thái Lan, Lào là huyền thoại đầy bí nhiệm, nhưng vẫn chưa bằng huyền thoại rắn nàga thành Phật trong kinh Phật. Tuy nhiên, trước khi kể chuyện rắn nàga thành Phật, xin kể về chuyện rắn nàga giữ kinh Phật ở thủy cung hay long cung.

Chuyện là thế này, lịch sử Phật Giáo Ấn Độ có một nhân vật mà sau này được tôn xưng là đệ nhị Thích Ca, tức là chỉ đứng sau đức Phật Thích Ca mà thôi. Nhân vật đó là Bồ Tát Nàgarjuna (xuất hiện vào thế kỷ 2 sau tây lịch tại miền nam Ấn Độ) mà các nhà Phật học Trung Quốc dịch là Long Thọ. Bản thân của ngài Long Thọ chứa đầy những huyền thoại ly kỳ mà cho đến nay các nhà sử học cũng không có cách lý giải. Ngài Long Thọ là người truyền bá tư tưởng Phật Giáo Đại Thừa mạnh mẽ và hữu hiệu nhất tại Ấn Độ đặc biệt là hệ thống giáo nghĩa về Bát Nhã Tánh Không. Chuyện kể rằng khi chưa xuất gia đầu Phật, ngài Long Thọ là người bác học tinh thông mọi thứ từ triết lý tư tưởng, tôn giáo đến y học, thuật số và phép tắc thần thông. Ngài đã từng chữa lành bệnh nan y cho nhiều người. Sau khi xuất gia ngài thông suốt khắp các kinh luận của những bộ phái Tiểu Thừa và biện tài vô ngại. Tiếng đồn thấu tới tận long cung của vua rắn Nàga. Vua rắn Nàga mới cho người thỉnh ngài Long Thọ xuống long cung để trao kinh Phật. Nguyên là khi đức Phật còn tại thế đã giao cho vua rắn cất giữ bộ Kinh Bát Nhã ở long cung chờ đến khi có đủ duyên và người xứng đáng để trao lại. Ngài Long Thọ xuống long cung và được vua rắn Nàga dẫn vào thư phòng chứa bộ Kinh Bát Nhã để giới thiệu. Ngài Long Thọ ở lại mấy tháng để đọc bộ Kinh Bát Nhã này và nằm lòng trong bụng. Sau khi trở về nhân gian, ngài Long Thọ chép lại Kinh bằng tiếng Phạn và viết nhiều bộ luận để xiển dương giáo lý Bát Nhã Tánh Không của Đại Thừa. Trong số các bộ luận do ngài Long Thọ sáng tác có nhiều bộ rất phổ biến và còn lưu truyền đến ngày nay như Trung Luận, Thập Nhị Môn Luận, Đại Trí Độ Luận, v.v…

Bây giờ xin kể chuyện con gái của vua rắn nàga thành Phật. Chuyện này được kể trong Kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa - Mahayana Saddharma Pundarika Sutra, phẩm Đề Bà Đạt Đa (Devadatta) thứ 12 theo bản dịch Hán ngữ của ngài Cưu Ma La Thập - Kumàrajìva -- từ bản tiếng Phạn vào năm 406 sau tây lịch tại Trung Quốc. Bộ Kinh này cũng đã được dịch sang tiếng Việt bởi Hòa Thượng Thích Trí Quang và Hòa Thượng Thích Trí Tịnh. Bản dịch sau được phổ biến rộng rãi trong các Chùa Việt. Kinh kể rằng trong Hội Pháp Hoa, Bồ Tát Trí Tích hỏi Bồ Tát Văn Thù (Manjusri) lâu nay ở trong thủy cung của vua rắn đã độ được bao nhiêu con rắn. Bồ Tát Văn Thù nói rằng ngài đã thuyết Kinh Pháp Hoa và độ vô số chúng sinh trong loài rắn. Khi ngài Văn Thù nói như vậy thì có vô số bồ tát từ dưới biển vọt lên và đến núi Linh Thứu nơi đức Phật đang nói Kinh Pháp Hoa. Bồ Tát Trí Tích hỏi lại Bồ Tát Văn Thù rằng Kinh Pháp Hoa là vua trong các Kinh nội dung cao sâu vi diệu không phải ai cũng có căn cơ đủ để tu hành mà thành Phật mau được. Ngài Văn Thù liền kể rằng có người con gái của vua rắn ở long cung mới có 8 tuổi mà "căn tính lanh lẹ, có trí tuệ, khéo biết các căn tính hành nghiệp của chúng sinh, được pháp tổng trì, các tạng pháp kín rất sâu của các Phật nói đều có thể thụ trì, sâu vào thiền định, rõ thấu các pháp. Trong khoảnh sát na phát tâm Bồ Đề được bậc bất thối chuyển, biện tài vô ngại, thương nhớ chúng sinh như con đỏ, công đức đầy đủ, lòng nghĩ miệng nói pháp nhiệm mầu rộng lớn, từ bi nhân đức khiêm nhường, ý chí hòa nhã, nàng ấy có thể đến bồ đề."

Khi ngài Văn Thù kể đến đó thì Bồ Tát Trí Tích không tin, vì ông phát biểu cảm nghĩ rằng đức Phật Thích Ca cũng đã trải qua vô lượng vô số kiếp tu hành khổ hạnh thì mới thành Phật được, lẽ nào một con rắn con mới có 8 tuổi lại có thể mau thành Phật như thế. Trong lúc Bồ Tát Trí Tích còn đang giải thích suy nghĩ của mình cho ngài Văn Thù nghe thì con gái của vua rắn hiện ra trước pháp hội đến đảnh lễ đức Phật và đứng qua một bên. Lúc bấy giờ ngài Xá Lợi Phất là đệ tử có trí tuệ đệ nhất của đức Phật Thích Ca còn nghi ngờ chuyện con gái vua rắn thành Phật nên hỏi người con gái của vua rắn rằng, việc đó có đúng như vậy chăng. Con gái vua rắn không nói gì mà đem hột minh châu đắt giá tặng cho đức Phật Thích Ca. Đức Phật tức thì hoan hỷ nhận hạt minh châu của cô bé con vua rắn. Cô bé rắn quay qua ngài Xá Lợi Phất và Trí Tích Bồ Tát hỏi rằng việc cô tặng hạt minh châu và Phật nhận có mau không? Cả hai vị đều nói là rất mau. Cô bé rắn giải thích với 2 vị này rằng việc cô thành Phật còn mau hơn nhiều. Và rồi cô bé con vua rắn tức thì biến thành thân con trai và bay qua cõi nước Vô Cấu ở phương nam, ngồi lên tòa sen và thành Phật với ba mươi hai tướng tốt không khác gì các đức Phật. Bồ Tát Trí Tích và ngài Xá Lợi Phất chỉ còn biết im lặng và tin là thật mà không nói được lời nào.

Truyền thuyết về con rồng cháu tiên của dân tộc Việt có phải cũng từ huyền thoại rắn nàga mà ra và người Việt Nam phải chăng cũng là con cháu của nhà rắn thần linh này? Dẫu sao thì dòng dõi Lạc Hồng cũng hơn các dân tộc khác ở chỗ có một nửa cốt cách là tiên.

Huỳnh Kim Quang

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Tác giả tên thật David Huỳnh, cư dân Los Angeles, là một "chức sắc" của Hội Đi Câu tại Hoa Kỳ, từng nhận giải Đặc Biệt Viết Về Nước Mỹ 2012 với loạt bài kể chuyện đi câu đủ nơi, đủ loại, từ cá sấu gar Houston tới cá tầm California, câu tới Alaska, sang Mễ, qua tận Thái Lan, và nay thì câu về đến quê cũ.
Trương Ngọc Anh (hình bên) đã nhận giải bán kết Viết Về Nước Mỹ 2002. Bài và hình ảnh được thực hiện theo lời kêu gọi của chương trình Foodbank tại Quận Cam: "Nếu biết ai đó cần sự giúp đỡ, xin vui lòng hướng dẫn vào chương trình trợ giúp của chúng tôi."
Nếu viết về con rồng, thật dễ có văn chương bay bướm, kiến thức bao trùm thiên hạ, ai đọc cũng phục lăn. Vì sao? Vì con rồng chẳng hề có trên thế gian, chẳng ai thấy, nên cứ viết tào lao thiên địa, không ai bắt bẻ được. Giống như chuyện ma. Có hàng triệu chuyện ma mà chẳng ai thấy ma bao giờ.
Alice Springs? Gớm! Cái phố nhỏ như mắt muỗi, có đốt đuốc cháy mười ngày cũng chẳng nom thấy đâu trên bản đồ nước Úc.
"Hơn bốn mươi năm sau khi xuất hiện, Dương Nghiễm Mậu vẫn còn là nhà văn avant-garde đối với văn học Việt Nam bởi những suy tưởng và cách đặt vấn đề của ông vẫn còn nguyên những mấu chốt bí mật, nhiều truyện ngắn với lối cấu trúc rất lạ, chưa ra khỏi vòng trăn trở tìm tòi của người viết hôm nay." (Thụy Khuê viết về Dương Nghiễm Mậu, Con Người Nội Soi)
Nếu bạn có một người yêu, yêu rất yêu, bạn có muốn nói về người ấy không, có muốn giới thiệu người ấy cho cả “thế giới” biết không. Tôi chắc chắn bạn sẽ “lật đật” nói rằng có. Không cần hỏi, tôi đã thấy cả triệu người trên mặt đất này đã và đang làm việc đó.
Tác giả tên thật Vũ Văn Cẩm; Vượt biển năm 1981. Đến Mỹ 1982, hiện là cư dân Oklahoma từ 2003. Nghề Nghiệp: Electrical Engineer. tại Công Ty American Airlines, M&E Center, Tulsa, OK. Bài viết -trích từ Việt Báo Tết QWuý Tỵ - là một chuyện tình đẹp.
Tác giả là một luật gia và nhà hoạt động văn hoá xã hội của miền Nam trước 1975. Ông sinh năm 1934, tại Nam Định. Tốt nghiệp Đại học Luật khoa Saigon 1958. Du học tu nghiệp tại Mỹ 1961-62. Nghề nghiệp tại Saigon: Chuyên gia luật pháp tại Quốc hôi VNCH (1958-62),
Anne Khánh Vân, sinh năm 1974 tại Saigon, tốt nghiệp kinh tế tại Pháp, hiện sống và làm việc tại miền Đông Hoa Kỳ. Năm 2007, cô nhận giải Chung Kết Viết Về Nước Mỹ với tự truyện “Duyên Nợ Với Nước Mỹ.” Mới đây, Khánh Vân đã hoàn tất việc đón ba má, và vợ chồng người em trai sang đoàn tụ. Bài tết năm nay của cô là chuyện vui.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
Người Việt Phone
Hôm thứ Hai (18/01/2021), một ủy ban độc lập về chuẩn bị và ứng phó đại dịch, do cựu thủ tướng New Zealand Helen Clark và cựu tổng thống Liberia Ellen Johnson Sirleaf dẫn đầu, đã công bố đánh giá về sự khởi đầu khủng hoảng ở Trung Quốc
Hôm thứ Hai (18/01/2021), ông Trump đã duyệt gỡ bỏ lệnh cấm đi lại từ Anh, Châu Âu và Brazil vào Mỹ, quyết định dự kiến có hiệu lực từ ngày 26/01/2021.
Các đồng minh và cộng sự thân thiết của Tổng thống Mỹ Donald Trump bị cáo buộc đã thu hàng chục nghìn USD từ những người xin ông ân xá.
Khảo sát từ trang CNN cho thấy, tổng thống Donald Trump sẽ kết thúc nhiệm kỳ với tỷ lệ ủng hộ thấp nhất trong 4 năm qua
Trung tâm thủ đô Washington bị phong tỏa sau vụ bạo loạn ở Quốc hội và nguy cơ bạo lực gia tăng tại lễ nhậm chức của ông Biden.