Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Giải Hòa Bình Nobel 2010 & Wikileaks

04/01/201100:00:00(Xem: 5003)

Giải Hòa Bình Nobel 2010 & Wikileaks

Trần Bình Nam
Cuối năm 2010 có hai sự việc đáng quan tâm xẩy ra trên thế giới. Thứ nhất là chuyện giải hòa bình Nobel. Thứ hai là sự tiết lộ những thông tin “không tiền khoáng hậu” do mạng toàn cầu Wikileaks.
Giải hòa bình Nobel:
Giải hòa bình Nobel năm 2010 được trao cho ông Lưu Hiểu Ba (Liu Xiaobo), một nhà tranh đấu nhân quyền của Trung quốc đang bị án tù 11 năm ở trong nước. Trung quốc đã phản đối một cách quyết liệt và dùng trọng lượng kinh tế của mình thuyết phục và áp lực các nước trên thế giới không đến tham dự buổi lễ trao giải ngày 10/12/2010 tại Oslo, thủ đô Na Uy. Có tất cả 19 nước không đến tham dự trong đó có Việt Nam. Ban tổ chức đã dành một chiếc ghế trống cho ông Lưu Hiểu Ba để làm nổi bật sự vắng mặt của người được giải. Trong lịch sử 109 năm của giải đây là lần thứ 5, người được trao giải vắng mặt.
Truyền thông Tây phương đã chỉ trích thái độ của Trung quốc bằng những lời lẽ nặng nề cho rằng một nước văn minh tiến bộ đang góp phần vào việc bảo vệ trật tự thế giới như Trung quốc mà hành xử như thảo khấu vậy thì thật là một điều đáng lo (The Australian  by Rowan Callick).
Động thái của Trung quốc thật đáng bị phỉ nhổ. Nhưng một câu hỏi cần đặt ra. Tại sao Trung quốc hành động như vậy. Và trong 19 nước không gởi đại diện đến tham dự buỗi lễ phát giải có phải đều vì nể sợ Trung quốc không, hay còn vì một lý do nào khác"
Na Uy có thiện chí muốn dùng chút uy tín của giải Nobel để xây đắp hòa bình thế giới. Trao giải cho Lê Đức Thọ năm 1973 với hy vọng đảng Cộng sản Việt Nam thi hành nghiêm chỉnh Hiệp Định Paris. Trao giải cho Yasser Arafat và thủ tướng Do Thái năm 1994 với hy vọng giải quyết được mối tranh chấp sinh tử giữa hai cựu thù. Trao giải cho tổng thống Barack Obama năm 2009 theo lối “hoàng tử tốt áo” khi ông ta chưa đóng góp gì cho hòa bình thế giới với hy vọng ông sẽ giải quyết cuộc tranh chấp giữa thế giới Tây phương và thế giới Hồi giáo một cách ôn hoà.
Như vậy sự chọn lựa của Ủy Ban Hòa Bình Nobel nhuốm màu sắc chính trị và do đó đánh mất uy tín và giá trị của giải hòa bình Nobel. Và Trung quốc có lý do để coi thường. 
Với thành tích đấu tranh cho nhân quyền, ông Lưu Hiếu Ba xứng đáng được giải (mặc dù so thành tích đấu tranh bất bạo động Hòa Thượng Thích  Quảng Độ xứng đáng hơn nhiều), nhưng Trung quốc không thể không thấy Ủy ban Hòa bình Nobel dùng đòn chính trị khi chọn ông Lưu Hiểu Ba để làm bỉ mặt mình.
Trong số những nước không gởi đại diện đến tham dự lễ trao giải có nhiều nước không phải sợ Trung quốc mà là một cách gián tiếp coi thường cái giải Nobel đã mất giá trị (như Liên bang Nga, Saudi Arabia, Pakistan, Ai Cập, Philippines …).
Cuộc tranh luận về giải hòa bình Nobel năm 2010 làm mất uy tín của Trung quốc đến mức độ nào chưa biết, nhưng hẳn là một bước ngoặc của gỉải Hòa bình Nobel.
Wikileaks:
Cuộc tranh luận về giải hòa bình Nobel chưa chấm dứt thì xẩy ra vụ Wikileaks. Wikileaks là một tổ chức bất vụ lợi quốc tế (International Non-Profit Organization) do một công dân Úc, ông Julian Assange làm giám đốc. Web wikileaks  thường chuyển tải các tin tức mật hay không mật trên thế giới của nhiều quốc gia và quan hệ liên quốc gia. Ông Assange hành động với mục đích trong sáng hóa sinh hoạt trong một quốc gia, quan hệ quốc tế và đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế tài chánh, nói cách khác là hoạt động của các ngân hàng. 
“Trong sáng” là mục đích căn bản của tự do ngôn luận giúp dư luận tiếp cận với thông tin chính xác để trọng tài sinh hoạt quốc gia, quốc tế, và các đại cơ sở tài chánh. Tuy nhiên trên thực tế quan hệ quốc tế (chính tri, ngoại giao, tài chánh) không thể vận hành nếu mọi thông tin đều được “trong sáng hóa” quá sớm.  Cho nên giữ kín một số thông tin “tế nhị” để bảo đảm trật tự quốc gia và rộng hơn là trật tự thế giới là một điều cần thiết. Vấn đề là thông tin tế nhị nào cần giữ kín và giữ kín trong bao lâu"
Câu hỏi này được các quốc gia dân chủ trả lời bằng luật và bằng định chế chính trị. Tại Hoa Kỳ  bộ luật “Freedom of Information Act” (ban hành năm 1966, tu chính năm 1996 và năm 2005) cho phép công dân Mỹ yêu cầu chính quyền liên bang cung cấp cho họ những thông tin được giữ kín sau một thời gian luật định. Và Quốc hội trong những buổi điều trần kín có thể yêu cầu hành pháp tiết lộ những điều họ muốn biết trong nhiệm vụ kiểm soát.


Nếu sự việc diễn ra trong trật tự đó thì không có vấn đề gì. Vấn đề là đảng phái và tư lợi. Đảng cầm quyền và cá nhân cầm quyền thường lạm dụng sự ém tin để làm lợi cho đảng phái hay cá nhân mình. Trong khi đó các cơ sở tài chánh, nhất là các đại Ngân hàng dùng sự ém tin để sinh lợi phi pháp.
Nếu các thông tin đã được chính quyền Bill Clinton và George W. Bush khai thác một cách đứng đắn và chuyên nghiệp có thể các cơ quan an ninh Hoa Kỳ đã ngăn chận được cuộc khủng bố 911 năm 2001. Nếu các thông tin về khả năng chế tạo vũ khí giết người tập thể của Saddam Hussein đã được công khai hóa nhiều hơn thì có thể Hoa Kỳ đã tránh được cuộc chiến tranh tốn kém tại Iraq. Và nếu thông tin về điều hành nội bộ của các cơ sở kinh tế tài chánh Hoa Kỳ đã được báo chí biết nhiều hơn có thể đã tránh được cuộc khủng hoảng địa ốc, tín dụng và tình trạng suy thoái kinh tế cuối năm 2008 kéo dài đến hôm nay.
Điều làm người ta lo ngại đối với vụ Wikileaks là cá nhân với phương tiện kỹ thuật điện toán trong tay có thể trở thành những “cá nhân khổng lồ” (dịch chữ super-empowered individuals của nhà kinh tế Thomas L. Friedman trong bài viết “We’ve only got one America” , International Herals Tribune 16/12/2010) sánh ngang quyền lực của một chính quyền hay của các đại Ngân hàng và –qua đó- làm thay đổi trật tự thế giới.
Ngoài những chuyện “trà dư tửu hậu” của các nhà chính trị hay các viên chức ngoại giao, các tiết lộ chính trị của Wikileaks không làm ai ngạc nhiên vì ai cũng đoán biết là như vậy, nhưng sự việc được tiết lộ công khai  trên giấy trắng mực đen lại là một vấn đề khác.
Trong những chuyện trà dư tửu hậu có chuyện bà Ngoại trưởng Hoa Kỳ  Hillary Clinton hỏi các viên chức ngoại giao Hoa Kỳ ở Argentina thử dò xem bà tổng thống Cristina Fernandez  có uống thuốc gì không mà sao quá nhạy cảm trong các quyết  định quan trọng. Chuyện  trà dư tửu hậu khác là viên chức bộ Hoa Kỳ  bề ngoài miêu tả Liên bang Nga bằng những lời hoa mỹ ngoại giao, vẫn thường “kháo” với nhau rằng Liên bang Nga thực chất là một nước Mafia (“virtual mafia state”) công an trị trong đó tổng thống Dmitry Medvedev chỉ là anh chàng “Robin” tay sai của “Batman” Valdimir Putin. Các nhà ngọai giao Mỹ còn đi xa hơn khi thì thầm khen ngợi các cô y tá gốc Ukraine săn sóc đại tá Muanmar Qaddafi  “ngon quá” với sự thèm thuồng.
Tiết lộ chính trị của Wikileaks làm mất uy tín của Hoa Kỳ là bộ ngoại giao yêu cầu viên chức Hoa Kỳ  moi hồ sơ sinh học (như dấu chỉ tay, DNA …) của các viên chức ngoại giao các nước khác làm việc tại trụ sở Liên hiệp quốc, kể cả ông Tổng thư ký Ban Ki-moon. Tiết lộ khác cho biết Hoa Kỳ hiện tồn trữ vũ khí nguyên tử tại Bĩ, Hòa Lan, Đức và Thổ Nhĩ Kỳ làm ảnh hưởng đến chính sách chống sự lan tràn vũ khí nguyên tử của Hoa Kỳ. Và Hoa Kỳ ngầm nói với Slovenia rằng nếu chịu nhận một tù nhân tại nhà tù Guantanamo thì tổng thống Slovenia có thể hội kiến tổng thống Obama.
Các tiết lộ khác có tính tình báo nhạy cảm. Như Trung quốc gọi Bắc Hàn là “thằng bé hư” (spolied child)  và cho biết họ không “care” nếu Bắc Hàn sụp đổ và Nam Bắc Hàn thống nhất dưới chế độ chính trị của Nam Hàn. Giật gân hơn là tiết lộ Saudi Arabia chính thức ủng hộ Iran, nhưng đã ngầm yêu cầu Hoa Kỳ  dùng sức mạnh quân sự để chận đứng chương trình chế tạo bom nguyên tử của Iran. Vua Addullah của Saudi Arabia qua một điện văn mật gởi chính phủ Hoa Kỳ viết nguyên văn, hãy “chặt đầu con rắn” (cut the head off the snake).
Cuộc tranh luận về lợi và hại của Wikileaks đang còn sôi nổi. Người khen Julian Assange đã hành động ngoạn mục giúp ổn định một số điểm nóng trên thế giới như làm cho Bắc Hàn bớt hung hăng, Do Thái bớt bị thế giới chê là quá khích về thái độ cứng rắn đối với chương trình nguyên tử của Iran. Kẻ chê cho rằng Julian Assange hành động một cách vô trách nhiệm làm giảm uy tín của các đại cường trên thế giới như Hoa Kỳ, Trung quốc, Liên bang Nga, tạo sự bất ổn định trên thế giới.
Đúng hay sai còn để hạ hồi phân giải. Nhưng một điều dễ thấy là thế giới trong sáng thì không ai cần Wkileaks. Nhưng một thế giới không trong sáng, hành động của Wikileaks có thể là một cần thiết .
Thượng bất chính thì hạ tất loạn.
Trần Bình Nam
Jan  2, 2011
binhnam@sbcglobal.net
www.tranbinhnam.com
Tài liệu tham khảo:
1. We’ve only got one America by Thomas L. Friedman, International Herald Tribune 16 Dec. 2010
2. What Wikileaks revealed: from soporific to sizzling, The Economist Dec. 4 -10th, 2001

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Những bà mẹ Việt xưa nay rất chơn chất thật thà, rất đơn sơ giản dị cả đời lo cho chồng con quên cả thân mình. Sử Việt nghìn năm đương đầu với giặc Tàu, trăm năm chống giặc Tây. Những bà mẹ Việt bao lần âm thầm gạt lệ tiễn chồng con ra trận, người đi rất ít quay về. Những bà mẹ âm thầm ôm nỗi đau, nỗi nhớ thương da diết.
Trước công luận, Eisenhower lập luận là cuộc chiến không còn nằm trong khuôn khổ chống thực dân mà mang một hình thức chiến tranh ủy nhiệm để chống phong trào Cộng Sản đang đe doạ khắp thế giới. Dân chúng cần nhận chân ra vấn đề bản chất của Việt Minh là Cộng Sản và chỉ nhân danh đấu tranh giành độc lập cho Việt Nam; quan trọng nhất là phải xem ông Hồ chí Minh là một cánh tay nối dài của Liên Xô. Đó là lý do cộng đồng quốc tế cần phải tiếp tục hỗ trợ cho Pháp chiến đấu.
Dù vẫn còn tại thế e Trúc Phương cũng không có cơ hội để dự buổi toạ đàm (“Sự Trở Lại Của Văn Học Đô Thị Miền Nam”) vào ngày 19 tháng 4 vừa qua. Ban Tổ Chức làm sao gửi thiệp mời đến một kẻ vô gia cư, sống ở đầu đường xó chợ được chớ? Mà lỡ có được ai quen biết nhắn tin về các buổi hội thảo (tọa đàm về văn học nghệ thuật miền Nam trước 1975) chăng nữa, chưa chắc ông Nguyễn Thế Kỷ – Chủ Tịch Hội Đồng Lý Luận, Phê Bình Văn Học, Nghệ Thuật – đã đồng ý cho phép Trúc Phương đến tham dự với đôi dép nhựa dưới chân. Tâm địa thì ác độc, lòng dạ thì hẹp hòi (chắc chỉ nhỏ như sợi chỉ hoặc cỡ cây tăm là hết cỡ) mà tính chuyện hoà hợp hay hoà giải thì hoà được với ai, và huề sao được chớ!
Lời người dịch: Trong bài này, Joseph S. Nye không đưa ra một kịch bản tồi tệ nhất khi Hoa Kỳ và Trung Quốc không còn kiềm chế lý trí trong việc giải quyết các tranh chấp hiện nay: chiến tranh nguyên tử có thể xảy ra cho nhân loại. Với 8000 đầu đạn hạt nhân của Nga, khoảng 270 của Trung Quốc, với 7000 của Mỹ, việc xung đột hai nước, nếu không có giải pháp, sẽ là nghiêm trọng hơn thời Chiến tranh Lạnh.
Kính thưa mẹ, Cứ mỗi tháng 5 về, nước Mỹ dành ngày Chủ Nhật của tuần đầu tiên làm Ngày của Mẹ (Mother's Day), ngày để tôn vinh tất cả những người Mẹ, những người đã mang nặng đẻ đau, suốt đời thầm lặng chịu thương, chịu khó và chịu khổ để nuôi những đứa con lớn khôn thành người.
Khoảng 4.500 người đã được phỏng vấn, trong đó có khoảng 700 người gốc Á. 49% những người được hỏi có nguồn gốc châu Á đã từng trải qua sự phân biệt chủng tộc trong đại dịch. Trong 62 phần trăm các trường hợp, đó là các cuộc tấn công bằng lời nói. Tuy nhiên, 11% cũng bị bạo hành thể xác (koerperliche Gewalt) như khạc nhổ, xô đẩy hoặc xịt (phun) thuốc khử trùng.
Nguyệt Quỳnh: Anh còn điều gì khác muốn chia sẻ thêm? Trịnh Bá Phương: Trong cuộc đấu tranh giữ đất, nhóm chúng tôi đã tham gia các phong trào khác như bảo vệ cây xanh, bảo vệ môi trường, tham gia biểu tình đòi tự do cho các nhà yêu nước, tham gia các phiên toà xét xử người yêu nước bị nhà nước cộng sản bắt giam tuỳ tiện. Và hướng về biển đông, chống sự bành trướng của Bắc Kinh khi đã cướp Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam! Và mới đây là phản đối bè lũ bán nước đã đưa ra dự luật đặc khu và dự luật an ninh mạng.
Có một câu thần chú mới mà các nhân viên FBI đã khuyên tất cả chúng ta phải học thuộc và nên áp dụng trong thời đại này. Thời đại của cao trào xả súng đang diễn ra khắp nơi ở Hoa Kỳ. Xin giới thiệu cùng bạn đọc một bài viết hữu ích của nữ ký giả Alaa Elassar của đài CNN đang được đăng tải trên liên mạng. Cô đã nêu ra những lời khuyên rất cần thiết cho chúng ta, căn bản dựa trên những video clips huấn luyện và đào tạo nhân viên của FBI.
Since I arrived in the United States in “Black April” of 1975 (the Fall of Saigon) and had been resettled in Oklahoma City to date, I have had two opportunities to go back to schools. The first one I studied at Oklahoma City University (OCU) for 5 years and received my degree in 1981. Having to work during day time, I could only go to school in the evening.
Như vậy, từ hiện tượng đảng viên “quay lưng” lại với đảng đến chuyện dân bỏ mặc mọi việc cho nhà nước lo cho tới chuyện thanh niên, rường cột của Tổ quốc, cũng “khô đoàn” và “nhạt đảng” thì điều được gọi là “nền tảng Tư tưởng đảng” có còn gốc rễ gì không, hay trốc hết rồi?
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.