Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Mấy Kỷ Niệm Dễ Thương Tại Geneva, Thụy Sĩ

20/11/200900:00:00(Xem: 5114)

Mấy Kỷ Niệm Dễ Thương Tại  Geneva, Thụy Sĩ

Đoàn Thanh Liêm 
Tôi có hai lần đến thăm viếng và làm việc ở thành phố Geneva, Thụy sĩ vào năm 1970 và 1972. Lần đầu tiên, tôi được anh bạn Đặng Tiến chở xe hơi từ Pháp qua thăm viếng bạn bè ở thành phố này trong một tuần lễ vào cuối năm 1970. Lần thứ hai là vào đầu năm 1972, tôi đi máy bay từ Saigon đến thẳng Geneva để làm việc với World Council of Churches (WCC =Hội đồng Tôn giáo Thế giới) trong khoảng một tháng. Cả hai lần, tôi đều gặp gỡ nhiều bà con, bạn hữu người Việt cũng như người ngoại quốc. Và hai chuyến đi này đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm dễ thương khó mà quên được.
Nay rảnh rỗi mà nhớ lại cái thời trai trẻ còn hăng say với công việc về văn hóa xã hội tại mấy thành phố ở Âu châu vào thập niên 1970, tôi xin ghi lại mấy kỷ niệm ngộ nghĩnh đó để chia sẻ với bà con đọc cho vui vậy nhé. Đầu tiên là tại thành phố Geneva, Thụy sĩ.
1/Vào thời đó tại Geneva có rất ít người Việt, chỉ có một số sinh viên du học và vài ba viên chức ngoại giao làm việc tại văn phòng liên lạc với Liên hiệp quốc. Đặng Tiến và tôi cư ngụ tại nhà anh chị Tôn Thất Duyệt – Hương ngay tại khu downtown. Tôi thật tình cờ được gặp lại anh Nguyễn Hữu Trụ là bạn cùng học tại trường Luật Saigon hồi giữa thập niên 1950. Trụ vừa bảo vệ thành công luận án tiến sĩ luật tại đại học Geneva và đang đợi được bổ nhiệm làm giảng viên tại một trường đại học trong vùng. (Năm 1972, tôi qua lại Geneva, thì gặp đúng lúc Trụ làm đám cưới với một cô y tá người  Thụy sĩ, và tôi là người bạn duy nhất từ Việt nam qua tham dự trong bữa tiệc cưới tại đây). Trụ cũng cho tôi nguyên văn bản luận án được nhà xuất bản đại học trình bày rất gọn gàng đẹp đẽ, nhan đề là : “La succession d’état au Vietnam après la dissolution du régime colonial francais”.
Cũng vào dịp cuối năm 1970 này, các bạn Tiến và Duyệt còn chở tôi tới đại học Fribourg để tôi viếng thăm anh bạn người Balan tôi không còn nhớ rõ tên, mà là phu quân của chị Trần Thị Lài, ái nữ của cụ Trần Văn Lý, nguyên Thủ hiến Trung Việt thời chánh phủ Bảo Đại. Anh bạn này làm Tổng thư ký Pax Romana (Phong trào Quốc tế Trí thức Công giáo MIIC), nhưng rất tiếc là vì sát với dịp lễ Noel, nên anh bạn đã về quê ở Balan. Thành ra tôi đã không được gặp anh, như chị Lài đã dặn tôi khi chị về Saigon dịp đáng tang cuả cụ thân sinh cuả chị vào giưã năm 1970. Fribourg cũng như Lausanne là khu vực nói tiếng Pháp gọi là Suisse Romande, để phân biệt với khu vực nói tiếng Đức gọi là Suisse Allemanique như ở thành phố Zurich.
Tôi cũng đến thăm mục sư Graeme Jackson, người Anh làm việc với WCC. Chúng tôi quen nhau vào năm 1969 khi ông đến thăm Việt nam. Ông bà mời tôi tới nhà dùng cơm, đặc biệt bà đãi tôi cái món “fromage fondu”, tức là trộn mấy thứ pho mát nấu chung với rượu vang cho chảy hết ra trong một cái nồi sôi sục, và dùng chiếc xiên có quấn bánh mì để chấm vào fromage nóng chảy, rồi đợi một chút cho nguội bớt mà ăn. Bà mục sư giải thích cho tôi đây là món ăn lâu đời trong các làng quê ở Thụy sĩ, gặp lúc trời đổ tuyết nhiều không đi lại được, có khi cả tuần lễ liền, thì người ta mới chế ra cái món này để nấu cho gia đình ăn. Dĩ nhiên là tôi cũng đến thăm trụ sở của WCC ở khu ngoại ô Geneva, trên đường nổi danh là Route de Ferney, mà hồi xưa văn hào Voltaire đã tới cư ngụ một thời gian dài. Nhân tiện, cũng xin ghi thêm Geneva là nơi giảng đạo của một trong các nhà sáng lập phong trào cải cách Thiên chúa giáo vào hồi thế kỷ XVI (Reformation), đó là Jean Calvin. Nên thành phố vẫn còn giữ được nguyên vẹn căn nhà xưa của Calvin để làm viện bảo tàng. Còn về văn hào Jean Jacques Rousseau, một công dân nổi danh của Geneva, thì có một bức tượng khá đẹp được đặt trên hòn đảo nhỏ trong hồ Geneva, mệnh danh là “Ile de Rousseau”.
Quả thật Geneva không những là một thành phố quốc tế với cả mấy ngàn tổ chức ngoại quốc, kể cả các tổ chức của Liên hiệp quốc, mà còn chứa đựng rất nhiều di tích văn hóa lịch sử của Âu châu. Nhất là nước Thụy sĩ suốt mấy trăm năm nay đã tránh được cảnh chiến tranh tàn phá, nhờ vào sự khôn khéo giũ được tính cách trung lập trong vùng này. 
Dĩ nhiên là Geneva còn có một địa danh rất nổi tiếng khác, đó là hồ Leman, mà hồi năm 1954, ông Võ Thành Minh đã căng lều thổi sáo não nùng bao nhiêu ngày đêm bên cạnh bờ hồ, để phản đối việc quốc tế ra quyết định chia cắt nước Việt nam thành 2 phần qua “Hiệp định Geneva 1954”. Hồ này rộng lớn như một cái biển, giáp ranh đến cả nước Pháp nữa. Đặc biệt giữa hồ còn có một cột phun nước cao đến cả hàng trăm thước, khách du lịch coi thấy thật là lạ mắt và sinh động; mà gặp bữa trời có gió mạnh, thì nước bị thổi bay tới cả mấy con đường ven hồ nữa. 
2/ Năm 1972, tôi nhận cộng tác với WCC trong cương vị là Giám đốc Văn phòng nghiên cứu và Liên lạc tại Saigon (Saigon WCC Research and Liaison Office). Do vậy mà tôi được mời sang làm việc, trao đổi với các cơ quan thuộc WCC tại Geneva đến cả một tháng trời. Người bạn Việt nam mà làm việc với WCC tại Geneva là anh Nguyễn Tăng Cảnh, vốn là một sinh viên du học tại Thụy sĩ đã từ lâu. Anh Cảnh sắp xếp chương trình làm việc cho tôi ở đây rất chu đáo, cụ thể là giới thiệu cho tôi đến gặp gỡ trao đổi với các viên chức trong ban lãnh đạo các cơ sở chuyên trách thuộc hệ thống WCC. Nhờ vậy mà tôi có dịp thấu hiểu tường tận hơn về đường lối hoạt động của WCC, để từ đó mà đề ra chương trình làm việc riêng của văn phòng ở Saigon sao cho thích hợp với chủ trương đường lối của WCC liên hệ đến Việt nam. Chi tiết về chuyện này khá dài dòng và có tính cách chuyên môn về sinh hoạt tôn giáo, tôi sẽ xin viết vào một dịp khác.


Vì lần này, tôi ở lại Geneva đến cả một tháng, nên có dịp gặp gỡ nhiều bạn hữu một cách rất tình cờ với nhiều câu chuyện ngộ nghĩnh. Trước hết là chị Catherine Schenker người Thuỵ sĩ, mà cũng lại ở Geneva. Tôi gặp và quen biết với chị trong chuyến bay từ Bangkok đến Cairo. Chị đi cùng đoàn ký giả đài truyền hình Âu châu (Eurovision) để làm phóng sự về Thế vận hội muà Đông được tổ chức tại Sapporo Nhật bản, và nay đang trên đường trở lại Âu châu. Sau khi đến Geneva ít lâu, thì Catherine cùng bà mẹ đến đón tôi về nhà chơi ăn cơm vào một buổi tối. Bà cụ nấu ăn rất ngon và cả hai mẹ con đều tiếp đãi tôi rất thân tình, lịch sự. Cụ khen là tổ chức WCC mà tôi cộng tác, thì rất tiến bộ đàng hoàng. Tôi có hỏi thăm về ông cụ, thì bà cho biết là ông đang phải làm việc bên London, Anh quốc. Thật là một gia đình hạnh phúc, ấm cúng.
Vào muà hè năm 1972 đó, ở Saigon tôi lại nhận được một tấm thiệp cuả Catherine gửi đi từ Munich, Đức quốc. Chị mô tả vụ quân cảm tử Palestine vaò giưã đêm đã đột nhập vào khu vực cư ngụ cuả các lực sĩ Do Thái và gây ra cảnh giết chóc kinh hoàng tại làng Thế vận hội ở Munich. Chị viết: Tôi vưà phải chứng kiến cuộc khủng bố. “Quelle horreur!” (Thật là hãi hùng!)
Một chị bạn khác là Eva trong nhóm nữ tu công giáo  “Nữ Trợ tá Quốc tế” (AFI = Auxiliaires Feminines Internationales). Eva dẫn tôi đến ăn trưa với một nhóm thanh niên trẻ cỡ trên dưới 30 tuổi. Có người là linh mục công giáo tại một xứ đạo Pháp sát với biên giới Thuỵ sĩ. Để làm kế sinh nhai, ông làm tài xế xe vận tải cho một hãng chuyên buôn bán nông phẩm. Mỗi buổi sáng, ông lái xe chở hàng rau tươi, thịt v.v... sang Geneva. Rồi buổi chiều mới về lại xứ đạo để làm lễ. Có người là sinh viên từ bên Italia qua học ở đây, nhưng lại tự nguyện dấn thân vào việc bênh đỡ các công nhân ngoại quốc đến làm việc tại Thuỵ sĩ, gọi là “migrant workers”. Họ cùng Eva và một vài bạn khác hơp lại để ăn bưã trưa chung với nhau, và trao đổi về các vấn đề xã hội cấp bách cần phải giải quyết tại điạ phương. Gặp tôi mới từ Việt nam tới, thì họ cũng tò mò hỏi tôi về tình hình cuộc chiến tại Việt nam liệu có triển vọng chấm dứt ra sao. Tôi nói là vào  năm 1972 này, thì viễn ảnh hoà bình đối với dân Việt nam chúng tôi vẫn còn xa vời lắm. Đaị khái nhóm này là một hình thức gặp gỡ cuả những người trẻ có sự quan tâm đến vấn đề xã hội trong môi trường xung quanh mình, mà tôi thấy họ thật tâm muốn đóng góp cụ thể vào vấn đề cải thiện nếp sinh hoạt cuả cộng đồng điạ phương nơi thành phố Geneva này. Là một khách mời, tôi tế nhị để tâm theo dõi quan sát nhiều hơn là tham gia thảo luận với họ.
Có một buổi chiều anh David Gill, người gốc ở New Zealand mà làm việc với WCC, anh lấy xe chở tôi lên núi chơi. Chạy loanh quanh cả một giờ đồng hồ theo đường thoai thoải lên dốc, rồi David ngừng xe bên một bờ hồ gần đỉnh nuí và mời tôi uống bia tại một quán lộ thiên ven hồ. Phong cảnh vào muà xuân nơi đây thật đẹp đẽ và êm ả lạ thường. David chỉ cho tôi coi một khúc tường dài cả trăm mét, cao đến 3 mét dọc theo sườn núi và nói đó là một mảnh còn lại cuả bức trường thành mà quân đội La mã xây dựng dọc theo biên giới khắp Âu châu cách nay cũng đến gần 20 thế kỷ, để bảo vệ cho cái đế quốc cuả họ. Sát liền với bức tường còn có cả một con lộ lát toàn bằng đá đủ rộng cho xe ngưạ có thể di chuyển được. Đó quả là một công trình vĩ đại, nó làm tốn phí không biết bao nhiêu là tiền bạc và công sức cuả người La mã, cũng như cuả người dân trong các xứ bị họ xâm lăng chiếm giũ. Nhưng rút cục, bức trường thành này cũng đã chẳng bảo vệ được cho đế quốc La mã khỏi sụp đổ vào thế kỷ thứ tư sau công nguyên! Tôi bèn nảy ra ý nghĩ riêng, mà không nói với David : “ So với bức trường thành này, thì bức tường Berlin mà người cộng sản xây lên bên nước Đức vào năm 1961, nào có thấm vào đâu " “
Ngoài ra còn một chuyện tức cười khác, nó chứng tỏ sự quê kệch cuả tôi. Đó là anh Nguyễn Tăng Cảnh và tôi được ông bà mục sư Mottu ở Geneva mời đến nhà dùng cơm tối. Chẳng là ông bà sắp sưả qua Saigon để coi sóc nhà thờ tin lành cuả người nói tiếng Pháp toạ lạc trên đường Thống nhất (Eglise Reformee de langue francaise). Cảnh lấy xe chở tôi đi. Dọc đường tôi đề nghị anh cho tôi mua một ít hoa tặng bà mục sư. Đến nhà ga xe lưả, Cảnh ngừng xe để cho tôi vào đó mua hoa. Tôi chọn mua một lẵng hoa đẹp nhất, và người bán hoa lại khen rằng bó hoa này sẽ làm đẹp lòng người yêu cuả bạn đó (votre bien aimée). Khi tới nhà gia chủ, tôi đã đem tặng cho bà Mottu. Bà vui vẻ cảm ơn. Và chúng tôi được mời vào trong nhà dùng cơm và chuyện trò thật vui vẻ, thân tình với hai ông bà đã vào tuổi trên 50.
Sau vài giờ, chủ nhà tiễn chúng tôi ra về. Trên đường về nhà, Cảnh nói với tôi : “Ông có để ý không, lúc ông tặng hoa cho bà Mottu, thì mặt bà ấy đỏ hẳn lên. Vì hoa ông tặng là loại hoa hồng, mà theo phong tục người phương Tây, thì loại hoa đó chỉ để tặng cho người yêu mà thôi!“ Tôi thật chưng hửng, nhất là khi nhớ lại lời khen cuả người bán hoa tôi vưà mua tại nhà ga khi nãy. Rõ ràng tôi là một thằng nhà quê hết chỗ nói. Ở Saigon, chẳng gì mình đã là một vị luật sư đã từng đi ngoại quốc nhiều lần. Ấy thế mà lần này vô ý để mắc phải cái chuyện đáng chê trách như thế đó! Âu cũng là một bài học để đời cho mình vậy./
California, Tháng 11 Năm 2009
Đoàn Thanh Liêm

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Trước công luận, Eisenhower lập luận là cuộc chiến không còn nằm trong khuôn khổ chống thực dân mà mang một hình thức chiến tranh ủy nhiệm để chống phong trào Cộng Sản đang đe doạ khắp thế giới. Dân chúng cần nhận chân ra vấn đề bản chất của Việt Minh là Cộng Sản và chỉ nhân danh đấu tranh giành độc lập cho Việt Nam; quan trọng nhất là phải xem ông Hồ chí Minh là một cánh tay nối dài của Liên Xô. Đó là lý do cộng đồng quốc tế cần phải tiếp tục hỗ trợ cho Pháp chiến đấu.
Dù vẫn còn tại thế e Trúc Phương cũng không có cơ hội để dự buổi toạ đàm (“Sự Trở Lại Của Văn Học Đô Thị Miền Nam”) vào ngày 19 tháng 4 vừa qua. Ban Tổ Chức làm sao gửi thiệp mời đến một kẻ vô gia cư, sống ở đầu đường xó chợ được chớ? Mà lỡ có được ai quen biết nhắn tin về các buổi hội thảo (tọa đàm về văn học nghệ thuật miền Nam trước 1975) chăng nữa, chưa chắc ông Nguyễn Thế Kỷ – Chủ Tịch Hội Đồng Lý Luận, Phê Bình Văn Học, Nghệ Thuật – đã đồng ý cho phép Trúc Phương đến tham dự với đôi dép nhựa dưới chân. Tâm địa thì ác độc, lòng dạ thì hẹp hòi (chắc chỉ nhỏ như sợi chỉ hoặc cỡ cây tăm là hết cỡ) mà tính chuyện hoà hợp hay hoà giải thì hoà được với ai, và huề sao được chớ!
Lời người dịch: Trong bài này, Joseph S. Nye không đưa ra một kịch bản tồi tệ nhất khi Hoa Kỳ và Trung Quốc không còn kiềm chế lý trí trong việc giải quyết các tranh chấp hiện nay: chiến tranh nguyên tử có thể xảy ra cho nhân loại. Với 8000 đầu đạn hạt nhân của Nga, khoảng 270 của Trung Quốc, với 7000 của Mỹ, việc xung đột hai nước, nếu không có giải pháp, sẽ là nghiêm trọng hơn thời Chiến tranh Lạnh.
Kính thưa mẹ, Cứ mỗi tháng 5 về, nước Mỹ dành ngày Chủ Nhật của tuần đầu tiên làm Ngày của Mẹ (Mother's Day), ngày để tôn vinh tất cả những người Mẹ, những người đã mang nặng đẻ đau, suốt đời thầm lặng chịu thương, chịu khó và chịu khổ để nuôi những đứa con lớn khôn thành người.
Khoảng 4.500 người đã được phỏng vấn, trong đó có khoảng 700 người gốc Á. 49% những người được hỏi có nguồn gốc châu Á đã từng trải qua sự phân biệt chủng tộc trong đại dịch. Trong 62 phần trăm các trường hợp, đó là các cuộc tấn công bằng lời nói. Tuy nhiên, 11% cũng bị bạo hành thể xác (koerperliche Gewalt) như khạc nhổ, xô đẩy hoặc xịt (phun) thuốc khử trùng.
Nguyệt Quỳnh: Anh còn điều gì khác muốn chia sẻ thêm? Trịnh Bá Phương: Trong cuộc đấu tranh giữ đất, nhóm chúng tôi đã tham gia các phong trào khác như bảo vệ cây xanh, bảo vệ môi trường, tham gia biểu tình đòi tự do cho các nhà yêu nước, tham gia các phiên toà xét xử người yêu nước bị nhà nước cộng sản bắt giam tuỳ tiện. Và hướng về biển đông, chống sự bành trướng của Bắc Kinh khi đã cướp Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam! Và mới đây là phản đối bè lũ bán nước đã đưa ra dự luật đặc khu và dự luật an ninh mạng.
Có một câu thần chú mới mà các nhân viên FBI đã khuyên tất cả chúng ta phải học thuộc và nên áp dụng trong thời đại này. Thời đại của cao trào xả súng đang diễn ra khắp nơi ở Hoa Kỳ. Xin giới thiệu cùng bạn đọc một bài viết hữu ích của nữ ký giả Alaa Elassar của đài CNN đang được đăng tải trên liên mạng. Cô đã nêu ra những lời khuyên rất cần thiết cho chúng ta, căn bản dựa trên những video clips huấn luyện và đào tạo nhân viên của FBI.
Since I arrived in the United States in “Black April” of 1975 (the Fall of Saigon) and had been resettled in Oklahoma City to date, I have had two opportunities to go back to schools. The first one I studied at Oklahoma City University (OCU) for 5 years and received my degree in 1981. Having to work during day time, I could only go to school in the evening.
Như vậy, từ hiện tượng đảng viên “quay lưng” lại với đảng đến chuyện dân bỏ mặc mọi việc cho nhà nước lo cho tới chuyện thanh niên, rường cột của Tổ quốc, cũng “khô đoàn” và “nhạt đảng” thì điều được gọi là “nền tảng Tư tưởng đảng” có còn gốc rễ gì không, hay trốc hết rồi?
Niềm vui trong Ngày Hội Ngộ, với đặc san được quý nương “khen” còn mấy ông già chồng chỉ gật gù “mầy giữ gìn sức khỏe để tiếp tục”. Tháng 5 năm 2020 và tháng 5 năm nay vì cái dịch Covod-19, không có cơ hội gặp nhau. Dù “ghét cay ghét đắng” mấy ông già chồng hành hạ “con dâu” nầy nhưng không được dịp hội ngộ với nhau, nhớ nhiều.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.