Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
EagleBrand-Vietbao-1230x152-12042022-viet

Nghiên Cứu Bệnh Sốt Rét: 90% Tử Vong Là Trẻ Em

12/11/200500:00:00(Xem: 6010)
Khám Phá Phân Tử Bạch Đản Nguy Hiểm Nhất Trong Ký Sinh Trùng Sốt Rét.

Gs Stanly Fields chuyên môn khoa học di thể tại Đại Học Washington thay đổi kỹ thuật nghiên cứu bạch đản trong môi trường cấy. Mục đích chính là muốn tìm hiểu bạch đản phản ứng tương tác vơí nhau như thế nào. Đặc biệt nghiên cứu bạch đản ký sinh trùng sốt rét phản ứng tương tác vơí bạch đản trong hồng huyết cầu của bệnh nhân bị sốt rét.

Ký sinh trùng sốt rét có 4 giai đoạn trong một chu kỳ, nhưng các khoa học gia chú ý chu kỳ bạch đản sốt rét phản ứng khi nhiễm tế bào máu đỏ bệnh nhân gây: sốt nóng, run lạnh, nhức đầu, bắp thịt đau đớn, và một vài triệu chứng khác. Phân tử bạch đản ký sinh trùng sốt rét chỉ hoạt hóa trong thơì điểm tấn công hồng huyết cầu.

Trong giai đoạn ký sinh trùng sốt rét không sinh sản, nhiều bạch đản tìm thấy trong ký sinh trùng sốt rét nhưng thấy trong những sinh vật khác. Phân tử ngoài màng tế bào ký sinh trùng sốt rét chỉ phản ứng tương tác với màng tế bào khi nhiễm hồng huyết cầu hay sinh sản.

Phân tử bạch đản đặc biệt gây phản ứng tương tác khi nhiễm hồng huyết cầu không thấy trong những sinh vật khác, như dun, ruồi, nấm mốc hay ngay cả vi trùng H. Pylori gây bệnh lở loét bao tử của bệnh nhân. Khám phá phân tử bạch đản đặc biệt trong ký sinh gây bệnh sốt rét khi nhiễm hồng huyết cầu bệnh nhân, rồi sinh sản, khuyến cáo nguyên tắc mơí sáng chế thuốc trị sốt rét. (Nature, 3 November 2005).

- Ký Sinh Trùng Sốt Rét Thay Đổi Di Thể (Gene) Trong Lúc Xâm Nhập Cơ Thể Con Người

Khoa học gia Alan F. Cowman cùng các đồng nghiệp thuộc Trung Tâm Khảo Cứu Y Khoa Howard Hughes chứng minh một di thể mới trong ký sinh trùng sốt rét Malaria Falciparum thay đổi trong lúc xâm nhập cơ thể con người.

Ký sinh trùng M. Falciparum xâm nhập hồng huyết cầu qua một thụ thể bạch đản nằm ngoài mặt hồng huyết cầu. Thụ thể chứa một chất đường gọi là Sialic acid. Nếu loại bỏ Sialic acid thì ký sinh trùng sốt rét không thể nào lọt vào trong hồng huyết cầu.

Các khoa học gia khám phá 2 di thể hoạt động khác nhau trong 2 trường hợp ký sinh trùng sốt rét:

1) Trường hợp dùng sialic acid.

2) Trường hợp không dùng sialic acid. Khi ký sinh trùng sốt rét P. Falciparum dùng di thể thứ nhất (PfRh4) thì ký sinh trùng có thể chui được vào hồng huyết cầu. Khi ký sinh trùng sốt rét có di thể thứ 2 là EBA165, tự mình không sinh sản đươc bạch đản, nhưng khi dính vơí PFRH4, thì có thể hoạt động được.

Kết quả nghiên cứu khuyến cáo một phương thức sáng chế thuốc chủng mới ngừa sốt rét hay thuốc trị sốt rét căn cứ theo khám phá ký sinh trùng sốt rét dùng di thể PfRh4 thay đổi khác nhau khi tìm cách xâm nhập vào hồng huyết cầu, theo những phương cách khác nhau. (Science, August 26, 2005).

(Bàn thêm: Bệnh sốt rét do 4 ký sinh trùng gây ra:

1)Sốt rét do Malaria Falciparum thường thấy ở những nước vùng nhiệt đới. Bệnh nguy hiểm, có thể gây tử vong trong vài ngày. Ký sinh trùng sốt rét M. Falciparium kháng nhiều thứ thuốc (chloroquine).

2) Ký sinh trùng P. Vivax và P. Malariae gây sốt rét tại những nước vùng nhiệt đới, đặc biệt P. Ovale thấy nhiều nhất ở miền Tây Phi Châu. Nhiễm những ký sinh sốt rét này tương đối không nguy hiểm lắm vì trong vài trường hợp chỉ cần thời gian là có thể khỏi bệnh.

Bệnh sốt rét do P. Vivax, P. Malariae và P.Ovale thường không kháng sinh mạnh bằng P. Falciparum. Tuy nhiên riêng đối vơí 2 ký sinh trùng sốt rét P. Vivax và P. Ovale, vì có thể xâm nhập vào gan, nên cần thuốc trị ký sinh trùng trong gan để tránh bệnh tái phát. Bệnh sốt rét truyền vào người qua muỗi Anopheles. Khi muỗi cắn người đang bị sốt rét sẽ truyền bệnh từ người này sang người khác.

Phần lớn những người bị bệnh sốt rét ở Mỹ sau khi họ du lịch từ nước ngoài trở về Mỹ. Người Việt hải ngoại khi du lịch tại những nước có bệnh sốt rét nên uống thuốc ngừa sốt rét, nhưng phải hỏi ý kiến bác sĩ gia đình, vì nhiều thuốc ngừa sốt rét gây phản ứng phụ, đôi khi nguy hiểm).

Thuốc mới chủng ngừa Sốt Rét Malaria

Sốt rét Malaria là thứ bệnh nguy hiểm bậc nhất của loài người hiện nay. Từ 5-10% dân số trên thế giới bị bệnh sốt rét, nhiều nhất ở Phi Châu, Á châu và đặc biệt ở Đông Nam Á Châu, kể cả tại Việt Nam.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Tuấn, khảo cứu gia tại Đại Học UNSW (Sydney) và Viện Nghiên cứu Garvan, Úc Châu, thì hiện nay số người trên thế bị sốt rét rất cao, chắc cũng phải ¼ dân số trên thế giới, tức là hàng tỷ người.

Theo Cơ Quan Y Tế Quốc Tế thì mỗi năm, hơn một triệu người trên thế giới bị chết vì sốt rét. Cũng theo Tiến sĩ Tuấn thì hiện nay tỉ số dân bị sốt rét ở Việt Nam là 16 phần ngàn (16/1000). Mặc dù bây giờ, thuốc chống sốt rét đang thịnh hành như chloroquine, nhưng thuốc càng ngày càng bị kháng sinh, tức là bị ký sinh trùng sốt rét càng ngày càng quen thuốc. Khảo cứu phương cách trừ sốt rét là việc làm rất quan trọng cho nhân loại. Trước đây đã có vài thứ thuốc chủng ngừa sốt rét, nhưng chưa được thành công. Hiện giờ nguyên tác thuốc chủng ngừa sốt rét đang thử nghiệm cho chuột tìm cách giảm độc tố phát sinh từ ký sinh trùng sốt rét.

Thực vậy, chìa khóa của thử nghiệm mới này là tìm một phân tử ly' tưởng để có thể kích thích hệ thống miễn nhiễm sinh ra chất chống lại mầm bệnh sốt rét.

Năm 1986, Camillo Golgi đã giả thuyết ký sinh trùng sốt rét sinh sản độc tố gây từng cơn nóng. Năm 1993, Louis Schofield tường trình độc tố glycoylphosphatidyllinositol (GPI) gây bệnh sốt rét cho chuột đồng dạng với độc tố số rét trong người. GPI là glycolipid, một phân tử bao gồm đường và mỡ, tương tự như cấu tạo màng tế bào. Schofield khám phá chuỗi glycan, một phân tử nồng cốt trong GIP, là phân tử có chức năng như một độc tố.

Do đó, glycan được coi là yếu tố căn bản để điều chế thuốc chủng ngừa sốt rét. Chuyên gia tìm cách móc nối Glycan với những phân tử lớn hơn để hệ thống miễn nhiễm dễ nhận ra và có phản ứng.

Trong loạt thử nghiệm tế bào sơ khởi, thuốc chủng chống GPI đã kích thích được hệ thống miễn nhiễm sản xuất kháng thể trong chuô.t. Hơn nữa đại thực bào (macrophages) từ chuột sau khi chích thuốc chủng GPI có hiệu lực giảm phản ứng miễn nhiễm chống ký sinh trùng sốt rét. Thuốc chủng có khả năng giảm 3 biến chứng bệnh sốt rét:

1) Giảm độ axít trong máu.

2) Giảm phổi thũng nước.

3) Giảm hội chứng não do ký sinh trùng sốt rét làm tắc nghẽn động mạch máu não.

Trong vòng vài năm nữa, các chuyên gia hy vọng sẽ dùng thuốc chủng chống GPI thử nghiệm trong súc vật bị sốt rét, và hy vọng sau đó sẽ dùng cho người. Thuốc chủng cũng sẽ áp dụng được cho trẻ em bởi vì kháng thể rất đặc hiệu (specific) chống GPI ký sinh trùng sốt rét, và không ảnh hưởng tới GPI của loài người.

Đây là điểm quan trọng, vì lẽ trẻ em sẽ có kháng thể chống được sốt rét. Chín chục phần trăm (90%) bệnh nhân trên thế giới chết vì sốt rét là trẻ em.

Trần Mạnh Ngô, M.D., Ph.D., F.A.A.F.P., Điện Thoại: (714) 547-3915; E-mail: nmtran@hotmail.com; Diễn Đàn Y Khoa: http://groups.yahoo.com/group/DienDanYKhoa/; www.KhoaHoc.Net

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Theo nghiên cứu “The neurons that restore walking after paralysis” (Tế bào thần kinh phục hồi khả năng đi lại sau khi bị liệt) được công bố trên tạp chí Nature trong tháng 11 năm 2022, chín người bị liệt do chấn thương tủy sống nghiêm trọng đã lấy lại được khả năng đi lại nhờ sự kết hợp của kích thích điện từ cột sống dưới và vật lý trị liệu.
Cặp song sinh một trai một gái, tên là Lydia và Timothy Ridgeway, có thể đã phá vỡ kỷ lục phôi thai đông lạnh lâu nhất từng sinh ra. Người giữ kỷ lục trước đó là Molly Everette Gibson, sinh ra từ một phôi thai đã được đông lạnh trong khoảng 27 năm. Mẹ của cô, Tina Gibson, người cấy phôi thai vào cơ thể mình và sinh ra cô mới được 1 tuổi khi phôi thai đó được đông lạnh.
Vì Vi-rút Hợp Bào Đường Hô Hấp (RSV), bệnh cúm, và COVID-19 tiếp tục ảnh hưởng đến người dân California sớm hơn thường lệ trong năm nay, nên Nhà Dịch Tễ Học của tiểu bang, cũng chính là bác sĩ Erica Pan, kêu gọi mọi người trên toàn tiểu bang bảo vệ bản thân và gia đình của họ trước nhiều loại vi-rút đang hoành hoành.
Cơ Quan Kiểm Soát Thực Dược Phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã chuẩn thuận loại thuốc điều trị đầu tiên có khả năng trì hoãn – có thể trong nhiều năm – sự khởi phát của bệnh tiểu đường Loại 1, một căn bệnh thường xuất hiện ở thanh thiếu niên.
Nước Mỹ có vấn đề về uống rượu. Theo nghiên cứu mới của Trung tâm Kiểm soát và Phòng Ngừa Dịch Bệnh (CDC), việc tiêu thụ rượu quá mức đã góp phần gây ra ước tính một phần tám số ca tử vong, hay12.9 phần trăm trên tổng số người Mỹ từ 20 đến 64 tuổi. Uống quá nhiều rượu cũng là nguyên nhân gây ra 1/5 số ca tử vong - 20,3% - ở người Mỹ từ 20 đến 49 tuổi, theo nghiên cứu được công bố vào tuần trước trên tạp chí JAMA Network Open.
Vắn tắt, người càng lớn tuổi, số lượng tế bào thần kinh giảm và khả năng về tâm trí sẽ giảm đi. Một số triệu chứng nhẹ như hay quên, hay lẫn lộn có thể chấp nhận như là sự lão hoá bình thường. Khi các triệu chứng này gia tăng, tiến triển đến mức ảnh hưởng đến cuộc sống thường nhật, lúc đó người ta dùng từ "dementia" hay "mất trí" theo nghĩa đen, hay bịnh lẫn. Có nhiều nguyên nhân cho dementia. Bịnh Alzheimer là nguyên nhân của phần lớn người mắc dementia. Một số nguyên nhân dementia chữa được, chưa có thuốc thay đổi được bịnh Alzheimer (disease-modifying drugs), chỉ có những thuốc giúp giảm triệu chứng thôi (symptomatic treatment).
Các Telomere* đóng một vai trò thiết yếu trong việc xác định số lần một tế bào có thể phân chia. Telomere là 1 đoạn DNA có trình tự (TTAGGG) lặp lại nhiều lần ở đầu mỗi nhiễm sắc thể, có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ phân tử DNA khỏi các tác động gây hại và sự mất ổn định của hệ genome. Trong chu trình của một tế bào bình thường, quá trình phân bào sẽ khiến cho một phần của telomere bị mất đi. Khi độ dài của telomere đạt tới mức giới hạn thì tế bào sẽ tự chết theo chương trình (apotosis**). Do vậy, độ dài của telomere có thể coi như chiếc đồng hồ sinh học để xác định “tuổi thọ” của tế bào và các cơ quan.
Mùa đông đang đến rất nhanh và thời tiết lạnh hơn, điều quan trọng hơn bao giờ hết là quý vị phải tiêm vắc-xin và liều tăng cường chống lại COVID-19 cho bản thân và gia đình. Đối với những người từ 65 tuổi trở lên, việc tiêm liều tăng cường COVID-19 loại cập nhật là cực kỳ quan trọng vì nguy cơ mắc bệnh nặng do COVID-19 tăng lên theo tuổi tác.
Việc các bác sĩ có thể nhìn xuyên thấu bên trong cơ thể bệnh nhân mà không cần phải rạch một đường nào từng là một khái niệm thần kỳ. Cho đến nay, hình ảnh y tế (medical imaging) trong khoa quang tuyến đã trải qua một chặng đường dài, và các kỹ thuật mới nhất dựa vào trí tuệ nhân tạo (AI) sẽ còn tiến xa hơn nữa: chúng khai thác khả năng tính toán khổng lồ của AI và khả năng học hỏi vô giới hạn để tận dụng triệt để các phương pháp dò chụp trên cơ thể, tìm ra những điều khác thường mà mắt người có thể bỏ sót.
Hội đồng Nobel tại Viện Karolinska ngày 3/10/22 đã quyết định trao Giải Nobel Sinh lý học hoặc Y học năm 2022 cho Svante Pääbo vì những khám phá của ông liên quan đến bộ gen của những hominin (cũng thuộc giống người, tương tự như “người khôn” [homo sapiens] chúng ta hiện nay) đã tuyệt chủng và sự tiến hóa của loài người. Svante Pääbo sinh ngày 20 tháng 4 năm 1955 tại Stockholm, Thụy Điển. Mẹ của ông là nhà hóa học người Estonia Karin Pääbo (1925–2013), từng trốn thoát khỏi Estonia bị Liên Xô xâm lược vào năm 1944 và đến Thụy Điển tị nạn trong Thế chiến thứ hai. Ông là con ngoại hôn của nhà hóa sinh người Thụy Điển Sune Bergström (1916-2004), và cha ông cũng từng được giải Nobel về Sinh lý học hoặc Y học (năm 1982).
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.