Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
EagleBrand-Vietbao-1230x152-12042022-viet

Giáo Sư Huỳnh Sanh Thông Vừa Ra Đi

21/11/200800:00:00(Xem: 6632)
GIÁO SƯ HUỲNH SANH THÔNG VỪA RA ĐI
Tâm Việt
Giáo-sư Huỳnh Sanh Thông, một trong mấy dịch-giả văn-học hàng đầu từ tiếng Việt sang tiếng Anh, vừa mất hôm thứ Hai, 17 tháng 11, 2008, tại nhà thương gần nhà ở Hamden, Connecticut, do tim ngừng đập.  Được biết, đã từ nhiều năm nay, ông phải ngưng làm việc do một vụ tai-biến mạch máu não làm cho ông bị liệt nửa người và phải ngồi xe lăn.
Sinh năm 1926 ở miền Nam Việt-nam, ông Huỳnh Sanh Thông là một trong những du-học-sinh Việt-nam sang Hoa-kỳ từ rất sớm, chỉ ít năm sau Thế-chiến II.  Sự-nghiệp của ông có thể chia ra làm mấy giai-đoạn như sau:
Ông bắt đầu làm giảng-viên dạy tiếng Việt tại Đại-học Yale ở New Haven, Connecticut, vào những năm cuối thập niên 1950 và liên-tiếp dạy ở đây trong vòng 15 năm, tới đầu thập niên 1970.  Trong giai-đoạn này, ông đã là tác-giả chung với một học-giả người Mỹ, ông Robert B. Jones, Jr., để làm ra một số sách giáo-khoa dạy tiếng Việt cho người nói tiếng Anh.  Đó là những cuốn như Introduction to Spoken Vietnamese (Washington, DC: American Council of Learned Societies, có hai ấn-bản, năm 1957 và 1960).  Sau đó, hai ông lại cộng-tác trong một tác-phẩm khác, đó là cuốn Spoken Vietnamese (Ithaca, New York: Spoken Language Services, khoảng năm 1979).  Cũng trong thời-gian này, ông được Hội-đồng Hoa-kỳ các Hội Chuyên-khoa (American Council of Learned Societies) tài-trợ trong nhiều năm để làm một cuốn từ-điển Việt-Anh thật lớn mà cuối cùng ông chỉ hoàn-tất được đến có vần "G" mà thôi.  (Cuốn đại-từ-điển này, tuy chưa hoàn-tất, vẫn được Trung-tâm Ngôn-ngữ-học Ứng-dụng, Center for Applied Linguistics, in ra thành nhiều tập khoảng năm 1968-69 trong một lần in rất giới-hạn.)
Có một thời-gian, khoảng giữa thập niên 1960, ông theo tiếng gọi của quê hương và về Việt-nam để đảm trách chức Tổng-giám-đốc Việt Tấn Xã nhưng duyên chính-trị của ông không bền.  Ông đã rời VN và trở lại Mỹ sau chỉ mấy tháng làm việc trong một khung cảnh rất khó khăn, gặp nhiều gò bó.
Trở lại Mỹ, ông lại lao vào học-thuật và tác-phẩm đầu tiên làm cho ông nổi tiếng là bản dịch Truyện Kiều, The Tale of Kieu, của Nguyễn Du (1765-1820) do nhà Random House in ra năm 1972, với Gloria Emerson (ký-giả New York Times) viết tựa và Alexander Woodside, cựu-sinh-viên của ông mà sau này đã trở thành một giáo-sư nổi tiếng về VN ở Harvard, viết về phần lịch-sử.  Cuốn này, đến năm 1986, ông lại để cho Yale University Press in ra trong một bản song ngữ Việt-Anh đối-chiếu, với minh-hoạ của Hồ Đắc Ngọc.
Sự thành công của bản dịch Kiều này đã khuyến khích ông dốc toàn-thời vào việc dịch thơ văn VN.  Và cuối cùng là hai tuyển-tập thơ Việt-nam dịch sang tiếng Anh, The Heritage of Vietnamese Poetry ("Di-sản Thi ca Việt-nam," Yale University Press, 1979) và An Anthology of Vietnamese Poems from the Eleventh through the Twentieth Centuries ("Tuyển-tập Thơ VN từ Thế-kỷ XI đến Thế-kỷ XX," Yale University Press, 1996).  Ba tác-phẩm trên đây đã mang lại cho ông nhiều giải thưởng cao quý: Giải thưởng Harry Benda của Hội Á-đông-học (Association of Asian Studies) năm 1981 và nhất là Đại-tặng-dữ MacArthur Fellowship năm 1987 (trị giá $365,000, tương-đương hay còn lớn hơn cả với giải Nobel về văn-học).

 Với giải MacArthur, ông không còn thấy cần phải đi dạy học nữa và đã bỏ toàn thời ra làm mấy tập-san về Việt-học nổi tiếng một thời.  Ông lập ra Lạc Việt Series để in sách dịch từ Việt-ngữ hay Pháp-ngữ nhưng chuyên về Việt-nam, trong đó phải kể bản dịch Lục súc tranh công (The Quarrel of the Six Beasts, in song ngữ, tựa-đề do G.S. Nguyễn Ngọc Huy và minh-họa của Mạnh Quỳnh) (New Haven, CT: Yale Southeast Asian Studies, 1987), To Be Made Over: Tales of Socialist Reeducation in Vietnam (dịch một số truyện đi cải tạo tập trung của người miền Nam sau khi CS vào thành) (New Haven, CT, 1988), The Song of a Soldier's Wife - Chinh Phụ Ngâm (bản dịch song ngữ, New Haven, CT, 1986, với tranh minh-hoạ của Hồ Đắc Ngọc) và nhất là Flowers from Hell - Hoa Địa Ngục (bản dịch song ngữ tác-phẩm nổi tiếng của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, dịch khoảng gần 200 bài, New Haven, CT: Southeast Asia Studies, 1984).  Chính bản dịch sau này đã mang lại cho nhà thơ Nguyễn Chí Thiện Giải Thơ Quốc-tế Rotterdam (Hoà-lan) năm 1985.  (Cách đây vài tháng, nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đã lên thăm ông và cho hay ông đã nói lại và viết lại được, tuy còn rất chậm chạp.)
Sức sáng-tác của ông được xem là phi thường vì ngoài những tác-phẩm trên, ông còn cho ra tập-san chuyên-đề về văn-chương và văn-hoá VN in trong ba thứ tiếng, Việt-Anh-Pháp, mang tên The Vietnam Forum, cuối cùng cũng ra được mười mấy số.  Sau đó, ông đã cộng-tác với nhà phê-bình Hoàng Ngọc Hiến ở trong nước và nhà văn Trương Vũ ở Maryland để cho ra tạp-chí The Vietnam Review in bài trong hai thứ tiếng Anh và Pháp mà ông là chủ-biên, phát hành hai số một năm.  Số ra mắt độc-giả là vào năm 1996 và số 2 (dày 568 trang) là số Xuân-Hè 1997 gồm nhiều thơ, truyện, biên khảo của các tác-giả cổ, kim, trong và ngoài nước.
Ngoài ra, ông cũng còn có những bài biên-khảo khá sâu sắc, có khi dài cả 100 trang, để nói về một đề-tài như nguồn gốc tiếng Việt trong tập-san Dòng Việt (1994), do hai G.S. Lê Văn và Nguyễn Đình Hoà chủ-trương và G.S. Hà Mai Phương đứng tên chủ-bút.
Rất tiếc là ông đang khi sung sức nhất thì bị tai-biến mạch máu não làm cho ông phải ngưng mọi hoạt-động viết lách cũng như xuất bản trong nhiều năm qua.  Tuy-nhiên, sự đóng góp của ông vẫn phải kể là thật đồ sộ trong nỗ lực giới-thiệu văn thơ VN với thế-giới nói tiếng Anh mà ít người bì kịp.
G.S. Huỳnh Sanh Thông ra đi, để lại một người vợ, bà Vân Yến, một quản-thủ thư-viện (bà đã làm việc nhiều năm tại Thư-viện Đại-học Yale, cho tới tháng 3 năm 2008), một dương-cầm-gia có hạng và là một người mẹ hiền, hy-sinh tất cả cho chồng con.
Tang-lễ được cử-hành trong vòng thân mật vào cuối tuần này ở Nghĩa-địa Grove Street ở thành-phồ Hamden, CT.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Một phong trào biểu tình chống chế độ và chống Xi, do dân chúng và phần đông giới trẻ, sinh viên các Đại học, phát động hôm 24/11/22, nhiều người cho là lớn nhứt từ 33 năm nay. Dân chúng các thành phố lớn, sinh viên từ nhiều Đại học xuống đường tố cáo biện pháp ác ôn « Zéro Covid » của Xi chống dịch Vũ Hán là giết người, trong lúc thế giới cũng chống dịch nhưng không ai làm như vậy...
Coi như là hết thuốc! Bây giờ thì tôi hiểu thế nào là một nhà tù lớn. Tuy không có chấn song nhưng kẻ ở bên trong cũng hoàn toàn bị cắt đứt mọi liên lạc với thế giới bên ngoài...
Đến hôm nay thứ sáu 2 tháng 12 giải túc cầu thế giới năm 2022 đã đi được nửa đoạn đường. Cũng như bất kỳ một cuộc tranh đua thể thao nào phải có kẻ thắng người thua. Kẻ thắng thì vui mừng hớn hở vì đã đem lại vinh quang cho xứ sở và dân tộc mình. Kẻ thua thì viện lý do nầy hay lý do khác vì mình đã bị xử ép để tránh sự chỉ trích của những người hâm mộ. Nhưng đó là những sự kiện thường tình lúc nào cũng xẩy ra.
Bài này sẽ phân tích về một số ý chỉ trong hai hội đầu trong Cư Trần Lạc Đạo Phú của Vua Trần Nhân Tông (1258-1308), người sáng lập dòng Thiền Trúc Lâm. Bài phú này có 10 phần, chữ xưa gọi là 10 hội, chỉ ra đường lối của Thiền Trúc Lâm.
Một người nghĩ rằng, người kia làm chuyện lầm lỗi, vì muốn chống đối, người này làm chuyện có lỗi để gây tiếng vang, phản đối lại sự lầm lỗi của người kia. Vậy thì ai có lỗi? Và lỗi nào nặng hơn? Có lẽ, bạn đọc nghĩ rằng, tôi đang muốn nói về chuyện luật tử hình. Lý luận này: một kẻ cố ý giết người, hoặc giết nhiều người, cần phải đền tội bằng cái chết. Mắt đền mắt. Răng đền răng. Đúng và hữu lý. Nhưng lý luận kia: Trong xã hội văn minh, trừng phạt là thứ yếu, giáo dục, cải thiện người xấu trở thành tốt mới là mục tiêu nhân bản. Người phạm tội, có quyền được hưởng, ít nhất, một cơ hội để hối lỗi, để trở thành người tốt hơn. Cả hai lý luận đều đúng. Có lý luận thứ ba: Giết người là có tội, dù là lý do gì, ngoại trừ phải tự vệ trong tình trạng khẩn cấp. Như vậy, khi tòa án kết tội tử hình, chính tòa án (luật pháp, thẩm phán, và công tố viên) đã phạm tội giết người.
Dư âm cuộc cách mạng Mùa Xuân Ả Rập năm 2010 ở Trung Đông, Bắc Phi châu và sự tan rã của Thế giới Cộng sản ở Nga năm 1992, đang là mối lo hàng đầu của đảng CSVN, sau hơn 35 năm đổi mới. Dưới lăng kính bảo vệ an ninh quốc gia, nhà nước Cộng sản Việt Nam (CSVN) coi mọi phản ứng của dân trong cuộc sống, kể cả các hoạt động đòi dân chủ, tự do và nhân quyền v.v… đều là “diễn biến hòa bình” nhằm phát triển “cách mạng mầu” để lật đổ đảng CSVN...
Cuộc chiến hiện nay tại Ukraine, chẳng cần nói nhiều, đã là một bài học rất lớn cho Hoa Kỳ, và có lẽ nó sẽ được dùng làm chuẩn mực cho những xung đột trong tương lai giữa Hoa Kỳ và các thế lực thù địch trên thế giới...
Vậy bằng cách nào mà cuốn tạp chí BK, số cuối cùng (phát hành vào ngày 20 tháng 4 năm 1975) đã không bị ném vào mồi lửa, không trở thành giấy gói xôi, không bị thu hồi, tịch thu, tiêu hủy” và vẫn có thể xuất hiện “nguyên con” trên trang web của Tạp Chí Thế Kỷ 21 vào ngày 2 tháng 4 năm 2017? Đây là câu hỏi mà qúi vị lãnh đạo của chính phủ hiện hành ... cần “suy ngẫm” để có thể ban hành những nghị quyết, hay nghị định đỡ ngớ ngẩn (và lạc hậu) hơn chút xíu...
✱ Reuters: Nga đang hy vọng rằng đảng Cộng hòa kiểm soát Quốc hội - Chính quyền Biden sẽ gặp khó khăn trong việc thúc đẩy Quốc hội thông qua các chương trình viện trợ cho Kyiv. ✱ Military: Các nhà vận động hành lang làm việc cho các nhà thầu quốc phòng, đã từng làm việc cho chính phủ liên bang trước đây - cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mark Esper đã từng làm việc văn phòng quan hệ chính phủ của Raytheon. ✱ Al Jazeera: Nhiều dự luật trong quá khứ, đã được Hạ viện và Thượng viện thông qua trong nhiều thập kỷ mà không bị thất bại. ✱ Bilderbergmeetings Co. UK: Chính quyền Biden đã coi Nga và Trung Quốc là đối tác trong thách thức đối với “trật tự thế giới”- Sự cạnh tranh toàn diện với Trung Quốc đang trở thành một nguyên tắc trong các chính sách kinh tế, đối ngoại và an ninh của Hoa Kỳ...
Nhiều người nghĩ ngay đến con số 18 tỷ kiều hối USD chuyển về Việt Nam năm 2021. Đó thật ra không phải là điều nên mất thời gian bàn tính vì đó là một thực thể không thay đổi được. Những người gởi có những lý do riêng không ai lay chuyển được và người Việt trong nước đều muốn nhận những đồng tiền gởi về. Nhưng còn những món tiền khổng lồ khác từ những chương trình viện trợ đủ mọi kiểu cho dân VN từ những chính phủ Âu-Mỹ mà người dân không hay biết, những nguồn tài trợ đã từ lâu bị thất thoát, hoặc cả biến mất mà không ai đặt câu hỏi. Đây là một địa hạt cần soi giọi.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.