Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Phỏng Vấn Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích Về: Bà Khúc Minh Thơ Hoạt Động Cho Chương Trình H.o.

30/09/200800:00:00(Xem: 14187)
(Tường trình của Huy Phương: Trong những ngày gần đây, trước việc bà Khúc Minh Thơ đã đứng ra tổ chức Ngày Tù Nhân Chính Trị 2008 tại Dallas Ft Worth trong ba ngày 3,4 và 5-tháng 10-2008, nhiều cá nhân và tổ chức đã cực lực phản bác việc làm này, thậm chí cho rằng bà Khúc Minh Thơ đã không có công lao gì trong công cuộc vận động cho các cựu tù nhân “cải tạo” được định cư tại Hoa Kỳ. Trong công cuộc vận động với chính phủ và giới hành pháp Hoa Kỳ trong nhiều năm, Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, một trí thức đã có nhiều đóng góp cho các hoạt động của Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn tại Hoa Kỳ, là người đã đồng hành với bà Khúc Minh Thơ, từ Washington DC, đã có nhã ý dành cho chúng tôi một cuộc phỏng vấn ngắn sau đây.)

Huy Phương:

Kính thưa Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích, vừa rồi trong bài “Cuộc chạy đua vào Toà Bạch Ốc” nói về cuộc vận động cho ông John McCain, Giáo Sư có nhắc đến trong quá khứ, cá nhân ông đã đến văn phòng của Thượng Nghị Sĩ John McCain để vận động cùng với bà Khúc Minh Thơ, Hội Gia Đình Tù nhân Chính Trị Việt Nam và bác Lê Văn Ba Chủ Tịch Liên Hội Việt Nam Tự Do ở vùng Hoa Thịnh Đốn cho dự luật H.O. cũng như sau này cho con của H.O. trên 21 tuổi.

Kính thưa Giáo Sư, ông nhận định thế nào về vai trò của bà Khúc Minh Thơ, chủ tịch Hội Gia Đình Tù Nhân Chính Trị trong thời gian đầu tiên lúc chưa có việc chính phủ Hoa Kỳ ký thỏa ước với Cộng Sản Việt Nam để cho những người ở tù chính trị trên 3 năm được qua Hoa Kỳ"

Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích:

- Trong những ngày gần đây, đã có những bài báo trên internet đưa tin phủ nhận về những hoạt động của bà Khúc minh Thơ cho chương trình H.O., chuyện đó cũng không hoàn toàn chính xác, do đó nhân đây chúng tôi cũng xin cám ơn ông Huy Phương đã cho chúng tôi cơ hội để làm sáng tỏ một vài khía cạnh của vấn đề này. Vấn đề thì nó cũng lớn, nhưng những phần nào chúng tôi biết thì chúng tôi xin được làm sáng tỏ. Phải nói là cho đến tận năm 1987, chỉ mới có chương trình ODP tức là Orderly Departure Program mà thôi.

Gần đây trên internet, nếu tôi không nhầm thì có ông nào ký tên Song Kiên cho biết ông ra tù năm 1982, đã có chương trình cho đi Mỹ, nhưng vì lúc ấy có chiến tranh giữa Trung Cộng với Việt Cộng, nên chương trình này phải đình hoãn lại. Về chuyện này thì tôi nghĩ rằng là hoàn toàn đúng, không có gì sai trong vấn đề ông Song Kiên nêu ra cả, nhưng nếu bảo đó là chương trình H.O.dành cho tù nhân chính trị thì hoàn toàn không đúng. Cái đó nó chỉ nằm trong chương trình ODP mà thôi. Những người nào đã có gia đình ở bên Mỹ rồi, thí dụ là con xin cho bố mẹ hay bố mẹ xin cho con, hay là anh chị em xin cho nhau. Mãi cho đến tận đến giữa thập niên 1980, khoảng 1985 thì lúc bấy giờ phong trào gọi là kêu gọi cứu giúp những người tù nhân chính trị bị đi học tập cải tạo mới đặt ra. Trong bộ ngoại giao có ông đại sứ Robert Funseth mà anh Nguyễn Khanh của đài Á Châu Tự Do cũng có dịp phỏng vấn gần đây.

Ông Funseth đang làm trong Bộ Ngoại Giao, ông này theo đạo Công Giáo và có một tấm lòng từ bi cũng khá rộng. Ông lo lắng về chuyện này và tìm cách vận động với phiá Cộng Sản. Đã có đôi ba lần ông gặp những đại diện của Cộng Sản lúc bấy giờ trên đất Mỹ. Lúc bấy giờ chỉ có Trịnh Xuân Lãng đại diện cho Việt Nam quan sát ở trong Liên Hiệp Quốc; cũng có lần ông Trịnh Quang Cơ sang bên này để tìm cách tái lập bang giao với Mỹ thì ông ấy cũng có tiếp xúc và nói chuyện. Trong những lần gặp đó, ông Funseth đã nêu ra vấn đề tù nhân chính trị đang bị giam giữ, nhưng cũng phải nói thẳng thắn rằng mãi cho đến tận khi ông Reagan lên cầm quyền, lúc bấy giờ mới chỉ định cho tướng John Vessey làm đặc sứ của Tổng Thống sang Việt Nam đặt trực tiếp vấn đề đưa tù nhân chính trị sang Mỹ.

Sở dĩ tôi nhắc đến chuyện này là vì lúc đó tôi ở trong Nghị Hội Toàn Quốc Người Việt tại Hoa Kỳ và bà Khúc Minh Thơ là người rất có lòng nên cũng kêu gọi Nghị Hội nếu có cơ hội hãy tiếp tay nhau. Vào ngày 30/4/1987 chúng tôi cùng bà Khúc Minh Thơ, tức là Nghị Hội với Hội Gia Đình Tù Nhân Chính Trị Việt Nam tổ chức một buổi tiếp tân ở trên Quốc Hội. Buổi tiếp tân này vừa đánh dấu ngày 30/4 đau buồn của đất nước, vừa đưa vấn đề Việt Nam cho Quốc Hội họ nghe. Dịp may trong buổi tiếp tân đó là có sự hiện diện của hai vị Thượng Nghị Sĩ quan trọng là ông Bob Dole và Edward Kennedy bên  cạnh vài  ba TNS cùng với cả chục Dân Biểu khác . Quan trọng nhất là hai vị Thượng Nghị Sĩ trên, vì trong những năm đó người ta bàn luận cả hai ông đó đều có cơ hội ra ứng cử Tổng Thống Hoa Kỳ.

Buổi tiếp tân tại Quốc Hội hôm đó chúng tôi (NNB) làm MC, khi chúng tôi giới thiệu hai vị TNS này thì chúng tôi cũng dùng một câu rất được lòng hai ông ấy, mặc dù hai ông chưa chính thức đứng ra tuyên bố ứng cử tổng thống nhưng trên báo chí đã nói nhiều lắm. Khi giới thiệu, chúng tôi giới thiệu rằng hai vị đây là hai vị ứng cử viên tương lai có  thể làm Tổng Thống, một bên là Cộng Hoà, một bên là Dân Chủ, cả hai vị đều hài lòng nên có hứa rằng là họ sẽ tiếp tay với chúng tôi làm chuyện can thiệp cho các tù nhân chính trị đang bị giam giữ.

Họ giữ lời hứa, ngay ngày hôm sau 1/5/1987 họ bảo các phụ tá của họ ngồi lại với nhau viết ra cái dự luật sau này gọi là dự luật H.O. Chúng tôi đã đi theo từ giai đoạn đầu tiên, từ lúc thành dự luật, rồi nó đi qua rất nhiều chặng trong Quốc Hội. Chúng tôi thường xuyên lên Quốc Hội gõ cửa, không chỉ riêng hai ông Bob Dole hay Edward Kennedy mà còn nhiều vị Thượng Nghị Sĩ , Dân  Biểu khác. Chúng tôi còn mang theo rất đầy đủ hồ sơ, trong đó bà Khúc MinhThơ và Gia Đình Tù Nhân Chính Trị Việt Nam cũng có hồ sơ rất đầy đủ, mà chúng ta có thể kiểm chứng ở Trung Tâm Việt Nam tại Đại Học Texas ở Lubbock, tại đó Hội Tù Nhân Chính Trị Việt Nam đã chuyển lại cho Trung Tâm Việt Nam tất cả là 12,000 hồ sơ của cựu tù nhân và tổng cộng là 200.000 trang giấy.

Các hồ sơ trong cuộc vận động tại Quốc Hội đều có tên, có ngày, có tuổi, có ai nói gì trong đó và kết quả ra sao thì có ghi trên đó hết cả. Lúc bấy giờ ngoài bà Thơ là vai trò chính trong vấn đề đó, chúng tôi trong Nghị Hội, vì còn trẻ trung và nói tiếng Anh lưu loát nên bà Thơ thường kêu tôi đi cùng. Phái đoàn còn có bác Lê Văn Ba, lúc đó cũng tám mươi mấy tuổi rồi nên đó cũng đem thêm cái sự nghiêm chỉnh cho sự vận động. Chúng tôi làm việc đó không phải đôi ba tháng mà xong, thậm chí cũng vào đầu những năm 2000, chúng tôi cũng phải còn đi vận động cho dự luật Mc Cain, tức là sau khi đón hết những người H.O. đã đi tù chính trị trong 3 năm trở lên, thì sau đó có trường hợp của những người con H.O. trên 21 tuổi. Bắt đầu từ năm 1995, họ gạt những em đó ra và không cho phép qua Mỹ. Nhưng về sau chúng tôi trình bày các em đó đã phải hy sinh không lấy vợ chồng và ở nhà lo cho bố mẹ các em, thì khi các bố mẹ qua đây mà không có các em đi theo chăm sóc thì cũng cực cho các cụ lớn tuổi. Các em đã có lòng hiếu thảo phụng sự bố mẹ và đến lúc cuối đời cha mẹ lại không được gặp con. Nghe tường trình như thế thì ông McCain cũng động lòng và thảo thêm một dự luật để đón các em đó qua và người ta đã gọi một cách rất dễ thương là McCain Children. Hai năm sau thì dự luật Mc Cain hết hạn, nhưng vẫn còn một số các em trong tình trạng như vậy, nên về sau ông dân biểu Tom Davis là người tiếp nối lại đẩy dự luật lên 2 năm nữa. Trong các giai đoạn đó, chúng tôi, bà Khúc Minh Thơ và ông Lê Văn Ba vẫn đi theo đuổi cái chương trình H.O. để qua các chặng đường gay go, ít nhất là từ năm 1987 đến năm 2002 thì nó mới hoàn toàn chấm dứt.

Huy Phương:

- Thưa Giáo Sư, theo nhận định của Giáo Sư, cá nhân của bà Khúc Minh Thơ, cũng như gia đình cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam đã đóng góp như thế nào trong tiến trình tranh đấu cho các anh chị em cựu Tù Nhân Chính Trị qua đây"

Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích:

- Vấn đề đáng nói nhất là bà Khúc Minh Thơ chỉ là linh hồn của  Hội Gia Đình Tù Nhân Chính Trị Việt Nam, nhưng một mình bà thì cũng không làm được, nếu không có một cái nhóm độ khoảng hai mươi phụ nữ đa số là những người đều có chồng trong tù cải tạo. Thí dụ như bà Xuân Lan là một giáo sư Anh Văn, những vị này cứ chiều thứ sáu mỗi tuần, họ đến nhà bà Khúc Minh Thơ, họ đi xuống basement của bà nằm ngồi la liệt, vì ở đây không có bàn ghế gì cả để sắp xếp những hồ sơ , trong đó ghi nhận những tên tuổi, trại tù... Vợ con những người tù đó phải làm tối đa đầy đủ mới thuyết phục được người Mỹ. Người Mỹ họ làm việc rất là cụ thể, Bộ Ngoại Giao không chấp nhận khơi khơi là chúng ta có bao nhiêu người tù mà phải có rõ ràng người tù nhân tên gì, bao nhiêu tuổi, cấp bậc gì, tại sao đi tù, ở đâu, qua trại nào. Nếu không có bà Khúc Minh Thơ và vài chục phụ nữ của hội Tù Nhân Chính Trị Việt Nam vì thương chồng thương con mà nai lưng ra làm hết năm này qua năm khác, thì không đời nào có được cái chương trình H.O. quy mô như vậy. Cuối cùng cũng đón được hơn trăm nghìn người.

Huy Phương:

- Thưa Giáo Sư, người ta nói rằng sau tháng 5-1975, chính sách của Hoa Kỳ coi như không muốn nhắc đến Việt Nam nữa, vì nơi đó, 58,000 thanh niên ưu tú của nước Mỹ đã bỏ mình, và họ đã quyết định rút lui, không muốn dính dáng gì đến Việt Nam nữa. Thưa Giáo Sư, nếu không có sự vận động của cộng đồng người Việt Hải Ngoại, có những người như Giáo Sư và bà Khúc Minh Thơ, và các vị Thượng Nghị Sĩ đưa ra dự luật, thì chương trình H.O. có thành hình được không"

Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích:

-Cái chuyện năm 1975 người Mỹ họ muốn quên chiến tranh Việt Nam là đúng. Điển hình là trường hợp của ông Joe Biden mà gần đây người ta đã nêu ra, là vào lúc bấy giờ, ông hoàn toàn không muốn nhận một người tỵ nạn Việt Nam nào vào nước Mỹ.

Chúng tôi lúc đầu mới sang năm 1975 đi tìm việc rất khó khăn, không phải vì người ta ghét bỏ gì chúng tôi mà cũng không phải chúng tôi không biết tiếng Anh. Chúng tôi tốt nghiệp ở Mỹ, bằng cấp của chúng tôi là bằng cấp của các Đại Học lớn của Mỹ, tiếng Anh chúng tôi nói cũng rất là lưu loát nhưng mà người ta không muốn nghe đến hai chữ “Việt Nam” nữa. Do đó khi phỏng vấn, biết chúng tôi là người Việt Nam thì việc tuyển dụng rất khó khăn.

Sau ngày 30 tháng 4-1975, vào mùa Xuân năm đó đã có khoảng 137,000 người được nhận vào Mỹ nhưng sau đó chỉ còn nhỏ giọt, phải đợi đến vụ CS đánh tư sản trong nước thì người ta bắt đầu ra đi ồ ạt cả trăm nghìn người trong vòng một năm trời. Lúc bấy giờ dư luận ở ngoại quốc bị đảo ngược, thậm chí những người chống chiến tranh hạng nặng như triết gia Jean Paul Sartre ở bên Pháp, hay như ca sĩ Joan Baez ở Mỹ, họ đã chính thức lên án rằng “Chúng tôi ngày xưa chống chiến tranh vì chúng tôi tưởng sẽ đem lại hoà bình nhưng cái thứ hoà bình như thế này là cái thứ hoà bình không chấp nhận được!” Những người phản chiến nổi tiếng ngày trước, bây giờ lại lên án cái chế độ bên nhà, nên từ đó người ta mới xét lại cuộc chiến Việt Nam, và biết đến ý nghĩa của sự hy sinh của người lính chiến miền Nam. Đến khi Tổng Thống Reagan lên, ông đã đảo ngược cái nhìn đó, ông ấy bảo chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến tranh chính nghĩa rất là cao quý. Do đó nên vấn đề Việt Nam được chú ý, trong đó có sự vận động của chúng tôi, Nghị Hội Toàn Quốc Người Việt ở Hoa Kỳ cũng như của hội Gia Đình Tù Nhân Chính Trị Việt Nam của bà Khúc Minh Thơ. Trong vấn đề vận động và tranh đấu này, đài Tiếng Nói Hoa Kỳ đã có hàng chục lần phỏng vấn cá nhân chúng tôi, bà Khúc Minh Thơ hay phỏng vấn bác Lê Văn Ba và những người khác cùng đi vận động với chúng tôi. Nếu ai muốn trở lại tìm tư liệu các buổi phát thanh hồi đó cũng không có gì khó khăn, nó rất là rõ ràng vì người Mỹ làm việc gì cũng có hồ sơ lưu trữ rất đầy đủ.

Thậm chí là rất nhiều những vị H.O. sau này sang Mỹ có bảo rằng là họ cũng còn nhớ được nghe những cuộc phỏng vấn của chúng tôi trên đài VOA. Thế bảo rằng chúng tôi không có cái bàn tay trong đó, thì tôi cho rằng là thế là bất công quá và không đi sát sự thật. Nhưng bảo rằng tất cả chúng tôi làm một mình những chuyện đó thì cũng không đúng, nếu như không có sự xét lại, nhìn lại cuộc chiến Việt Nam của chính phủ Hoa Kỳ đặc biệt dưới thời Tổng Thống Reagan.

Huy Phương:

- Giáo Sư cho chúng tôi hỏi thêm một câu hỏi, là sau khi ký kết thoả ước ngày 30/7/1989 để cho mấy chục ngàn người tù nhân chính trị, ở tù sau 3 năm được đi Hoa Kỳ, thì Hội Gia Đình Tù Nhân Chính Trị của bà Khúc Minh Thơ có làm một buổi đón tiếp Robert Funseth; tại đây ông đã trao tặng cây bút ký thoả ước đó lại cho bà Khúc Minh Thơ và Hội Gia Đình Tù Nhân Chính Trị.

Giáo Sư thấy việc trao lại ngòi bút đó cho bà Khúc Minh Thơ thì nó có ý nghĩa gì không"

Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích:

-Tôi còn nhớ buổi tiếp đón ông Funseth đã được tổ chức trong vườn nhà bà Khúc Minh Thơ tại Virginia và chúng tôi cũng có tham dự. Dĩ nhiên ngòi bút đã ký thỏa ước đó chính là biểu tượng rõ ràng nhất để ghi nhận công lao của bà Khúc Minh Thơ, một công lao rất lớn. Thậm chí trong cái buổi trao lại hai trăm nghìn trang hồ sơ của Hội Gia đình Tù Nhân Chính Trị của bà Khúc Minh Thơ tại Việt Nam Center hồi tháng năm thì chính ông Funseth cũng bảo rằng, nếu nói ai là người có công lao nhiều nhất thì nhất định là Hội Gia Đình Tù Nhân Chính Trị của bà Khúc Minh Thơ.

Huy Phương:

- Theo Giáo Sư, trong lúc này, bà Khúc Minh Thơ là Chủ tịch Hội Gia Đình Tù Nhân Chính Trị, bà có thể tổ chức một cuộc hội ngộ cho anh em tù nhân chính trị không" Giáo Sư nghĩ sao với việc trong thời gian này, nhiều người đã phản bác là Thơ không đủ “tư cách”để tổ chức một cuộc hội ngộ như thế"

Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích:

- Vấn đề đó thì chúng tôi xin thưa như thế này. Nếu có ai có ý định làm cuộc hội ngộ tù nhân, thì chính các vị tù nhân làm là đúng rồi. Nhưng mà có lẽ nhiều năm nay, cũng không thấy Tổng Hội làm chuyện ấy. Bà Khúc Minh Thơ được sự hội ý của một số tù nhân, đứng ra tổ chức cuộc họp mặt này, nhân đây cũng ghi công một người như ông Robert Funseth, vì ông cũng lớn tuổi lắm rồi và không biết lúc nào sẽ ra đi. Đây là một việc làm có ý nghĩa rằng mình cũng không phải là người vô ơn. Nhất là sau khi chúng ta định cư ở nước Mỹ, thì chúng ta phải tỏ cái lòng biết ơn ấy của chúng ta. Tôi cho là cái chuyện này rất đáng khuyến khích.

Còn cái chuyện ngồi kể công bảo rằng với tư cách này tư cách nọ đó, thì tôi bảo rằng nếu không có cái hội của bà Khúc Minh Thơ thì chương trình H.O. không biết ở cái quy mô nào, có thể nó cũng xảy ra, nhưng ở quy mô rất nhỏ vì ai là người đã tạo dựng ra những hồ sơ về tù nhân chính trị kỹ càng như vậy. Nếu không có hội của bà Khúc Minh Thơ thì tôi không biết ai sẽ là người làm những việc đó. Toàn là việc không công. Làm việc ngày đêm sáng tối. Thường thường là từ tối thứ sáu đến tận khuya của ngày chủ nhật, thì những vị phụ nữ đó mới trở về nhà với công ăn việc làm của mình, cứ hết năm này sang năm khác. Như vậy thì ai là người sẽ làm công việc đó nếu không phải là nhóm Gia Đình Tù Nhân Chính Trị của bà Khúc Minh Thơ. Kết quả nó đi vượt cái sự bình thường.

Tất cả những điều trên đây là sự thật, vấn đề còn lại xin để công luận suy xét.

Huy Phương: Xin thay mặt những người quan tâm đến vần đề hiện nay có liên hệ đến anh em cựu tù nhân chính trị tại Hoa Kỳ, chúng tôi xin thành thật cám ơn Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích đã dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn quý hóa này.

(9/23/2008)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
GS-TS Nguyễn Mạnh Hùng: ”Nó (bài viết) không giải thich rõ được làm sao có nhà nươc pháp quyền khi tư pháp không độc lập; làm sao có dân chủ nếu chỉ có một đảng, không có cạnh tranh chính trị và dân không có quyền chọn lưa người đại diện…”
Tôi xin gửi lời chúc tốt đẹp nồng nàn đến tất cả quý Phật tử đang cử hành ngày Đại lễ Vesak, một sự kiện thiêng liêng đối với hàng triệu người Phật tử trên thế giới. Khi chúng ta tôn kính ngày Đản sinh, Thành đạo, và Niết bàn của Đức Thế Tôn, thì giáo lý của ngài có thể truyền cảm hứng cho tất cả chúng ta. Và khi từng gia đình con người chịu khổ đau do ảnh hưởng cơn đại dịch COVID-19, thì bài kinh Phật nhắc nhở chúng ta rằng: “Vì muôn loài chúng sinh bị bệnh, nên ta cũng bệnh.”
Trước đây, các cuộc đụng độ giữa Israel và Palestine đã thường diễn ra tại Jerusalem và Dải Gaza. Các yếu tố tác động khẩn thiết cho mối xung đột là tình trạng đe dọa cưỡng chế trục xuất các gia đình Palestine hoặc các buổi lễ kỷ niệm của Do Thái giáo tại Tempelberg. Thực ra, chiến cuộc còn bắt nguồn từ các sự kiện lịch sử khác mà các xung đột về thành phố Jerusalem và điện thờ Tempelberg đóng một vai trò chính cho sự leo thang.
Đọng trên hoa, trên lá, giọt sương năm xưa gợi ra cõi trong vắt, bình an, đẩy hồn ta vào chốn không bến không bờ, mênh mông, tịch mịch. Những đêm không trăng sao, ta cũng thấy trong cõi mịt mùng sự an hòa, tĩnh mịch ấy. Nhưng cõi tịch mịch của thăm thẳm trời đêm thì lạnh lẽo, vô hồn. Cõi mênh mông cảm từ giọt sương có phơn phớt nắng mai, thấp thoáng màu lá, màu hoa, bao giờ cũng ấm áp, man mác niềm vui nhẹ nhàng, thanh thoát như sương khói, như tơ. Giọt sương quen thuộc, thân yêu ấy đã biến mất, đã trôi vào quá khứ cùng lịch sử của vũ trụ mất rồi. Dù vẫn giữ hình thái, dung nhan của muôn triệu năm trước, giọt sương hôm nay đang mang trong lòng một sự ồn ào khủng khiếp. Vô lượng vi phân tử, sóng radio của điện thoại di động mang theo những lời thủ thỉ thân yêu, gay gắt tranh luận, ầm ầm giận dữ, đắng cay nhiếc móc, nỉ non than thở, tiếng khóc, tiếng cười, nỗi bi thương, cơn cuồng nộ – đủ món hỉ nộ ái ố – … điệp điệp, trùng trùng lướt qua giọt sương liên miên từ lúc nó chào đời
Các cuộc xung đột giữa Do Thái với Palestine cùng khối Ả Rập là vấn đề nan giải cho Hoa Kỳ lẫn thế giới bởi Do Thái không hề nhượng bộ, luôn có những hành động cứng rắn và trả đũa tàn bạo. Cuộc xung đột hiện nay xảy ra khi Do Thái trục xuất sáu gia đình Palestine tại Đông Jerusalem, là điều mà Do Thái từng bước thực hiện với người dân Palestine từ nhiều năm qua.
Tôi yêu những nông dân thôn Hoành, tôi yêu những nông dân Dương Nội. Yêu cái hồn của đất – nơi con người đang phải đối mặt với phong ba bão táp; nơi con người bước trên nghịch cảnh bằng sự cao quý và khí phách của riêng mình. Tôi có một niềm tin vững chắc rằng lòng tử tế và sự dũng cảm của họ sẽ lan toả và lan rộng.
Từ Văn phòng Viện Tăng Thống, tuy chỉ tồn tại trên danh nghĩa, trong phận sự bảo trì ấn tín của Viện Tăng Thống, kế thừa tâm nguyện của Đức Đệ Ngũ Tăng Thống qua phú chúc di ngôn của Ngài trước ngày thị tịch; chúng tôi trên nương tựa uy đức Tăng già và đạo lực gia trì của Chư tôn Trưởng lão, kính gởi đến Chư tôn Hòa Thượng, Chư Thượng tọa, Đại đức Tăng-già nhị bộ, cùng tất cả bốn chúng đệ tử, tâm nguyện Bồ-đề được thể hiện qua các kỳ họp đã nêu, ước mong tất cả bằng Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành, bằng đức lực, trí lực, và tài lực, với hằng tâm và hằng sản, đồng tâm nhất trí góp phần công đức vào sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh mà Chư Thánh Đệ tử, Lịch đại Tổ sư, bằng hùng lực và trí tuệ, bằng từ bi và nhẫn nhục, khoan dung, trải qua vô vàn gian nan chướng duyên trở ngại, đã mang ngọn đèn chánh pháp đến những nơi tăm tối, cho những ai có mắt để thấy, dựng dậy những gì đã sụp đổ, dựng đứng những gì đang nghiêng ngả.
Ngày Phật đản sanh là ngày vui, ngày thiêng liêng và trọng đại của nhân loại. Dù là với truyền thống nào, tông môn pháp phái nào, dù ở quốc độ nào… Người con Phật cũng đều hoan hỷ và thanh tịnh thân tâm để tưởng niệm đức Phật.
Thì tôi cũng nói cho hết lẽ như thế. Chớ bao nhiêu lương dân ở Văn Giang, Dương Nội, Thủ Thiêm, Lộc Hưng… đang sống yên lành mà Đảng & Nhà Nước còn có thể nhẫn tâm biến họ thành những đám dân oan (vật vã khắp nơi) thì cái chính phủ hiện hành có xá chi đến những khúc ruột thừa ở Cambodia.
Bàn về kinh tế không thể không nhắc đến tiền. Tiền không mua được hạnh phúc nhưng không có tiền thì…đói. Tiền mang lại tự do (có tiền mua tiên) hay biến con người thành nô lệ đồng tiền. Con nít lên 3 đã biết tiền dùng để mua bánh kẹo, vậy mà các kinh tế gia giờ này vẫn không đồng ý chuyện tiền để làm chi!
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.