Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Mười Lăm Năm Bang Giao Mỹ-việt

22/07/201000:00:00(Xem: 6251)

Mười Lăm Năm Bang Giao Mỹ-Việt

Nguyễn Xuân Nghĩa & Việt Long RFA

Muốn chứng tỏ là ta không sợ Mỹ mà Hà Nội gây họa cho quốc gia...

Tại Hội nghị cấp Ngoại trưởng của Hiệp hội 10 Quốc gia Đông Nam Á là ASEAN, đang tiến hành ở Hà Nội, người ta chú ý đến sự tham dự của bà Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton. Ngoài hàng loạt các buổi họp của ASEAN trong mấy ngày liền, sự hiện diện của Ngoại trưởng Mỹ nhắc nhở đến mối quan hệ tăng cường giữa Hoa Kỳ và Việt Nam khi hai nước thiết lập bang giao đúng 15 năm trước. Diễn đàn Kinh tế sẽ tổng kết về mối bang giao này qua phần trao đổi cùng nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa do Việt Long thực hiện sau đây hầu quý thính giả.
Việt Long: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Đúng 15 năm trước, vào Tháng Bảy năm 1995, Hoa Kỳ và Việt Nam đã tái lập quan hệ ngoại giao. Từ đó, mối quan hệ được tăng cường và củng cố trên nhiều mặt, nhất là kinh tế. Nhân dịp các hội nghị cấp Tổng trưởng của ASEAN đang tiến hành tại Hà Nội và sự tham dự của Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton, xin đề nghị ông duyệt lại mối quan hệ Mỹ-Việt trong 15 năm qua, với câu hỏi đầu tiên là "ai có lợi""
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Hiển nhiên là cả hai nước đều có lợi - nếu không thì đã chẳng bang giao - nhưng thuần về kinh tế thương mại thì Việt Nam có lợi hơn, mà đây cũng là chủ đích của Mỹ.
Việt Long: Câu trả lời của ông hàm ý là Hoa Kỳ có chủ ý đem lại mối lợi cho Việt Nam. Ông có thể trình bày bối cảnh của sự việc và giải thích kết luận ấy được không"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Chúng ta hãy nói về quan hệ Việt-Mỹ trước, rồi tìm hiểu thêm về cách tính toán của Hoa Kỳ thì mình mới hiểu ra sự việc trên toàn cảnh.
- Do nhiều hiểu lầm tai hại lồng trong những trở ngại phức tạp từ cả hai phía qua gần 20 năm sau khi chiến tranh kết thúc năm 1975, quan hệ đôi bên chỉ thực sự cải tiến từ khi Việt Nam rút quân khỏi Kampuchia năm 1989, rồi Liên bang Xô viết tan rã năm 1991. Nhìn từ Hoa Kỳ thì việc cải thiện là nỗ lực lưỡng đảng, do các chính quyền Cộng Hoà lẫn Dân Chủ cùng tuần tự tiến hành, với quyết định bãi bỏ lệnh cấm vận của Hoa Kỳ vào đầu năm 1994, mở màn cho việc bang giao vào năm sau. Nhìn lại thì phía chính quyền Việt Nam cứ nghi ngại do không hiểu gì về Hoa Kỳ. Sau khi thiết lập bang giao thì đến nay có lẽ vẫn chưa hiểu gì nên chỉ mưu tìm lợi vặt.
- Một cách cụ thể về diễn tiến thì Chính quyền George H. Bush vạch ra "lộ trình" cải thiện từ năm 1991; trên lộ trình đó, Chính quyền Bill Clinton đồng ý cho các định chế tài chính viện trợ cho Việt Nam từ năm 1993, rồi bãi bỏ lệnh cấm vận từ đầu năm 1994. Trong tài khóa 94-95, Quốc hội Mỹ thông qua đạo luật cho hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao vào tháng Bảy năm 1995. Sau đấy, Chính quyền Clinton ký Hiệp định Thương mại Song phương cuối năm 2000, với quy chế Tối huệ quốc được tái tục hàng năm. Cuối năm 2006, quy chế này được Quốc hội Mỹ chấp nhận một cách thường trực và vĩnh viễn và Chính quyền George W. Bush mở cửa cho Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới từ đầu năm 2007.
- Kết quả thiết thực thì sau khi bãi bỏ lệnh cấm vận năm 1994, Hoa Kỳ nhập khẩu của Việt Nam 50 triệu đô la và bán cho Việt Nam 172 triệu, đạt xuất siêu chừng 122 triệu. Rồi từ đấy, giao dịch ngoại thương tăng mạnh, từ một tỷ tư năm 2001 đã vượt quá 15 tỷ trong chưa đầy 10 năm. Đáng chú ý nhất là Việt Nam liên tục đạt xuất siêu vì bán nhiều hơn mua với Mỹ, con số xuất siêu ấy lên tới 10 tỷ đô la. Hoa Kỳ cũng thành nước đầu tư trực tiếp nhiều nhất vào Việt Nam và đã liên tục viện trợ cho chính quyền lẫn cấp phát học bổng cho học sinh Việt Nam. Vì vậy tôi mới nói rằng thuần về kinh tế và thương mại, Việt Nam có lợi hơn sau khi bang giao với Mỹ.
Việt Long: Nhưng ông cũng nói đến những tính toán của Hoa Kỳ khi chủ đích tạo ra mối lợi ấy cho Việt Nam mà có khi chính quyền Hà Nội không hiểu và có lẽ vẫn chưa hiểu. Ông có thể giải thích điều ấy được không"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Vì đặc tính siêu cường toàn cầu, Hoa Kỳ coi giao thương kinh tế như là một phần, mà không nhất thiết là phần chủ yếu, trong mối quan hệ đa diện với các quốc gia khác.
- Kinh tế và thị trường Mỹ đủ mạnh đủ lớn để tiếp nhận hàng hóa từ các nước khác và mối giao dịch có lợi ấy cho các nước bạn hàng của Mỹ là một ràng buộc về ngoại giao và chính trị để các nước này duy trì quan hệ thân hữu có lợi cho Hoa Kỳ. Đây là chủ trương nhất quán của nước Mỹ từ sau Thế chiến II. Nhưng từ năm nay Hoa Kỳ đang thay đổi chủ trương này vì bị suy trầm kinh tế và thất nghiệp nặng nên muốn tăng xuất khẩu và thu hẹp dần số khiếm hụt của cán cân thương mại lẫn cán cân vãng lai và giảm dần gánh nặng công trái. Việt Nam nên hiểu ra điều này mà kịp thời cải tổ chứ đừng nghĩ rằng mình khôn vì xuất nhiều hơn nhập khẩu với Hoa Kỳ. Cũng cần nói thêm là từ khi bang giao, Hoa Kỳ thường xuyên khuyến cáo và còn viện trợ cho Hà Nội để tiến hành việc cải tổ ấy mà Hà Nội lại trì hoãn thi hành, nghĩa là chỉ nhìn thấy mối lợi ngoại thương mà thôi.
Việt Long: Ông nói đến những khuyến cáo và viện trợ của Hoa Kỳ nhằm giúp Việt Nam thay đổi mà lãnh đạo tại Hà Nội lại trì hoãn thi hành. Ông có thể đơn cử một vài ví dụ cụ thể không"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi xin đi từ một định lý chung trước khi nói vào chuyện cụ thể.


- Một quốc gia chỉ phát triển bền vững và hài hòa nếu nhìn xa hơn tăng trưởng về lượng, tức là phải chú ý đến phẩm chất. Phẩm chất đòi hỏi một xã hội tự do, cởi mở, luật lệ phân minh, thông tin và tài nguyên được lưu thông dễ dàng và tư nhân được tự do kinh doanh với sự yểm trợ của nhà nước. Hoa Kỳ và nhiều định chế quốc tế đều viện trợ và khuyến khích Việt Nam cải tổ cho quyền tự do thông thoáng đó mà lãnh đạo Việt Nam chỉ thi hành có chọn lọc và còn lợi dụng hoàn cảnh để củng cố quyền lực và quyền lợi cho thiểu số có quan hệ với đảng và nhà nước. Nói cho dễ hiểu thì việc tự mình phải cải cách cũng cần thiết như xây dựng và tu bổ cầu đường. Đã được trợ giúp để thực hiện mà lại không làm thì đấy là một hiểu lầm tai hại. Nó cũng tai hại như tự mình phá hủy hệ thống cầu đường của mình để chứng tỏ là ta không sợ Mỹ!
Việt Long: Đó là định lý chung, bây giờ thì chuyện cụ thể gồm có những gì"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Một cách cụ thể thì Hoa Kỳ nêu ra một số điều kiện cải thiện cơ chế kinh tế, mậu dịch và luật lệ lao động lẫn nhân quyền để Việt Nam được chế độ Ưu đãi Phổ cập về Thuế quan GSP. Hoa Kỳ cũng đề nghị Việt Nam khai triển việc áp dụng Hiệp định khung giữa hai nước về Thương mại và Đầu tư, gọi tắt là TIFA, nhằm tiến tới Thỏa ước Tự do Mậu dịch Song phương FTA rất quan trọng và có lợi cho Việt Nam. Thứ ba, từ tháng Sáu năm 2008, Hoa Kỳ thông báo việc đàm phán Mỹ-Việt về Thỏa ước Đầu tư Song phương, gọi tắt là BIT, mà Mỹ đã ký với hơn ba chục quốc gia trên thế giới. Muốn thông qua thì Việt Nam cần cải thiện các vấn đề luật lệ, môi sinh, lao động và tài chính và bãi bỏ những hạn chế về đầu tư nước ngoài. Gần đây, Hoa Kỳ còn tham gia Sáng kiến Xây dựng Đối tác Kinh tế Liên Thái bình dương, gọi tắt là Trans-Pacific Partnership hay TPP, với Brunei, Chile, New Zealand, Singapore và Việt Nam. Nếu dự án TPP này thành hình thì coi như Việt Nam tiến tới chế độ tự do mậu dịch FTA với Mỹ.
- Các hồ sơ viết tắt là GSP, TIFA, BIT, TPP hay FTA là những ưu tiên lớn và có lợi mà Việt Nam nên sớm giải quyết. Trở ngại ở đây là các vấn đề vi phạm nhân quyền, là môi trường luật lệ, chế độ lao động và tự do nghiệp đoàn, là Việt Nam chưa có nền kinh tế thị trường đích thực, không tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ và có chế độ ngoại hối thiếu tự do.
Việt Long: Nhưng lãnh đạo Việt Nam có thể viện dẫn lý lẽ là Hoa Kỳ đòi xen lấn vào nội bộ của mình, như khi nêu vấn đề về nạn đàn áp tôn giáo hay chà đạp nhân quyền, và đòi hỏi Hoa Kỳ phải tôn trọng chủ quyền của quốc gia. Ông nghĩ sao về lý luận đó"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Phải chi Hà Nội nêu loại đòi hỏi hay phản bác như vậy với Trung Quốc!
- Có lẽ mình cần nhắc lại là sau 15 năm bang giao buôn bán, nay Việt Nam đạt xuất siêu chừng 10 tỷ đô la với Mỹ thì bị nhập siêu cũng 10 tỷ đô la với Trung Quốc. Chúng ta đừng quên rằng hiện nay Hoa Kỳ không hề có tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ hay lãnh hải với Việt Nam và lãnh đạo Mỹ không muốn lại phải can thiệp vào Việt Nam trong khi Quốc hội, tức là quốc dân Mỹ, trong đó có cộng đồng người Việt tại Mỹ, thì quan tâm đến tình trạng thiếu tự do của người dân Việt Nam. Muốn chứng tỏ là ta không sợ Mỹ mà Hà Nội gây họa cho quốc gia thì rõ ràng là vẫn chưa hiểu gì Hoa Kỳ và còn tự mình phá hủy cầu đường của chính mình.
Việt Long: Dù rằng không trực tiếp liên hệ đến hồ sơ kinh tế, vấn đề an ninh cũng chi phối mối quan hệ giữa hai quốc gia. Xin hỏi ông là việc Hoa Kỳ đang có hướng chú trọng hơn tới an ninh Đông Á, riêng tại Đông Nam Á, thậm chí trong lưu vực sông Mekong là nơi mà sức ép của Trung Quốc đang trở thành mối quan tâm của Hiệp hội ASEAN. Trong hoàn cảnh đó, Việt Nam nên ứng xử ra sao" Cụ thể là có nên giải quyết những chướng ngại về nhân quyền để tăng cường quan hệ với Hoa Kỳ hầu bảo vệ được an ninh của mình hay không"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ rằng quốc gia nào cũng có bổn phận bảo vệ quyền lợi của mình. Là siêu cường hiện diện trên toàn cầu, Hoa Kỳ có những quan hệ quyền lợi đa dạng và phức tạp, với ưu tiên có thể dời đổi từng thời từng nơi nên ảnh hưởng đến chính sách đối ngoại của họ. Sau gần 10 năm bận rộn về trận chiến chống khủng bố và hai chiến trường nóng tại Iraq và Afghanistan, việc Hoa Kỳ khẳng định sự hiện diện tại Đông Á là bình thường và dễ hiểu. Quan hệ có chiều hướng căng thẳng và phức tạp hơn với Bắc Kinh cũng thế.
- Cũng nhìn từ quan điểm quyền lợi, lại ở bên cạnh Trung Quốc đang đói ăn khát dầu và muốn bành trướng ra ngoài để bảo vệ quyền lợi của họ, Việt Nam cần sự hiện diện của các cường quốc khác trong khu vực, như Liên bang Nga, Nhật Bản, Úc Đại Lợi và Hoa Kỳ. Sự hiện diện ấy sẽ góp phần ổn định cả khu vực và cũng là yêu cầu chung cho cả Hiệp hội ASEAN mà Việt Nam là thành viên cũng từ 15 năm nay. Chúng ta không quên rằng Trung Quốc là vấn đề của Việt Nam, nhưng cũng là vấn đề của nhiều quốc gia trong khu vực mà nếu thực sự muốn giải quyết, Việt Nam phải tìm cách hợp tác, không để gây chiến mà để tự vệ.
- Còn lại, Việt Nam nên xây dựng khả năng tự vệ của chính mình, trước tiên là từ tâm lý và ý chí của người dân, thay vì trông chờ Hoa Kỳ hay bất cứ ai. Một cách cụ thể hơn thì khi doanh gia quốc tế lập cơ sở đầu tư tại Việt Nam, nhu cầu làm ăn khiến chính họ phải quan tâm đến an ninh của Việt Nam. Đã hạn chế không cho họ vào để bảo vệ khu vực kinh tế của nhà nước, khi họ vào thì tìm cách móc túi, rồi mong đợi là họ sẽ bảo vệ mình thì rõ ràng là chưa hiểu gì cả. Hoặc cố tình không hiểu để đất nước cứ trôi dần vào trật tự của Trung Quốc. 
Việt Long: Xin cảm ơn ông Nguyễn Xuân Nghĩa.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Trong khi còn đang đối diện sự phẫn nộ của công luận trong vụ cúp điện nước với hàng loạt quan chức điện lực từ nhiệm hay bị sa thải, thống đốc bang Texas là Greg Abbott tuần này đã ra thông báo mở cửa hoàn toàn cả tiểu bang và không bắt buộc phải mang khẩu trang.
Nhưng hiện tại, hôn là bị phạt 135 euros tại chỗ. Tuần rồi, ở Paris, hai người bạn từ lúc trẻ tình cờ gặp nhau sau hơn mười năm không có dịp gặp lại. Họ đều vui mừng khôn xiết, liền lao vào nhau, ôm nhau, hôn nhau. Vừa buông nhau ra, hai chú cảnh sát tiến tới, lễ phép chào cô cậu, chìa sổ phạt, hạ bút biên ngay 135 euros, xé ra, chìa cho hai người. Cái hôn có đắt lắm không?
Trong cuộc khảo sát và thăm dò dư luận của PEW (Pew Research Center) năm 2020 thì tuổi trẻ (từ khoảng 5 đến 10 tuổi) ở Mỹ, có đến 60% đi theo phụ huynh đến các chùa viện tôn giáo, nhưng đến tuổi “teen” (teenager: 13-19… thirteen – nineteen) thì con số giới trẻ giảm dần còn 30%.
Việt Nam Cộng sản biết rõ ý đồ của Trung Cộng muốn ăn sống nuốt tươi mình ở Biển Đông, nhưng lãnh đạo đảng duy nhất cầm quyền tại Hà Nội chỉ biết tùy cơ ứng biến và cầu may được qúy nhân phù trợ khi bị Bắc Kinh tấn công quân sự. Lập trường này không mới, nhưng không bảo đảm giữ được chủ quyền, quyền chủ quyền và khối lượng tài nguyên khổng lồ và biển đảo của Việt Nam ở Biển Đông.
Nhắc lại chuyện xưa, vào năm 1971 TS Kissinger đến Trung quốc, và một năm sau 1972, TT Nixon cũng đến nơi đây để gặp gỡ với các nhà lãnh đạo Trung Cộng tại Bắc Kinh. Phần trình bày sau là trích đoạn các văn bản ghi lại cuộc đối thoại của hai nhà lãnh đạo Mỹ-Trung liên quan đến cuộc chiến tại Việt Nam, được giải mật và được công bố trên trang The Foreign Relations of the United States (FRUS) và trên Văn khố của Bộ Ngoại Giao (US Depart. Of States Archive).
Người ta không thể hiểu được. Có nhiều cặp vừa yêu nhau nay bị ngăn cách, bị xa nhau. Thật chưa bao giờ có trong lịch sử tình yêu nhơn loại: « từ ít lắm 35 000 năm qua người ta biết sống thành vợ chồng, chúng tôi chưa bao giờ sống như hoàn cảnh hiện nay!», theo lời của nhà nhơn chủng học Philippe Brenot.
Khác với quan điểm của tác giả, dịch giả cho rằng bài diễn văn của Tập Cận Bình tại Davos là một sự sĩ nhục nặng nề cho chính giới các nước phương Tây tham dự, vì không ai can đảm lên tiếng cáo buộc Trung Quốc vi phạm luật thương mại quốc tế và các tham vọng lãnh thổ. Tập cũng không có tư cách để thuyết giảng các kinh nghiệm về giá trị cao đẹp của nền kinh tế thị trường, tinh thần trọng pháp và hợp tác quốc tế.
Phong trào bài Lenin, Stalin không phải dễ dàng, nó kéo dài qua nhiều thập niên tại Liên Xô hay nước Nga sau này. Hiện tượng Donald Trump chắc chắn sẽ còn là một đề tài phân tích sâu hơn cho những nhà lịch sử và xã hội học trong tương lai.
Thương người, đây là giá trị tinh thần quan trọng lắm. Thương người không phải chỉ cho họ thức ăn. Ở đây thức ăn nhiều quá, ai cũng sợ ăn nhiều rồi mập. Mập thì dễ sinh bệnh, cao mỡ, cao máu, cao đường. Thương người nên cho họ những gì thuộc về tinh thần: một lời cầu nguyện chân thành, những nụ cười hiền lành, tiếng cười giòn tan.
Nghệ An vừa bắn pháo hoa, vừa tổ chức đủ thứ lễ lạc/tiệc tùng, vừa lái những chiếc “ô tô xịn ngoại quốc bóng nhoáng,” và vừa xin cứu đói. Nghệ An ngày nay, nói nào ngay, chỉ là hình ảnh của một Việt Nam thu nhỏ. Em ơi, từ phương xa, làm sao chúng ta biết được “bi chừ bên nớ ra răng!”.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.