Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Rằm Tháng Bảy Năm Nay Phan Thiết Có Còn Cúng Ong Nam Hải ?

06/09/200900:00:00(Xem: 3975)

Rằm Tháng Bảy Năm Nay Phan Thiết Có Còn Cúng Ong Nam Hải "

Mường Giang
Tháng giêng tháng hai ở Bình Thuận trời hay hờn dỗi, nên thường bất chợt có những cơn giông biển hải hùng. Kinh nghiệm trên đã được người bản địa thu vén làm thành bài ca dao truyền khẩu từ lâu đời:         
'' tháng giêng động dài,
tháng hai động tố,
tháng ba nồm rộ,
tháng tư nam nồm,
tháng năm có gió hợp Hòn,
thổi lòn nam Cú.. ' ' '
Thời gian này tuy còn trong mùa tết nhưng cũng là giao điểm của những cơn gió bấc se lạnh và ngọn gió nồm bắt đầu phây phẩy. Đây cũng là lúc mà những đàn cá mòi, cá nục, di chuyển trên mặt nước tìm nắng ấm và đàn sếu biển trốn đông, đã trở về nơi cư ngụ trên hòn Nhỏ nằm sát bờ biển Đức Thắng, cất lên những tiếng hát vang trời.
Bình Thuận lại sửa soạn vào mùa cá theo truyền thống của ông bà đã có từ khi theo chân các Chúa Nguyễn vào lập nghiệp tại miền đất hoang dã nổi tiếng 'cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận'. Sinh và lớn tại trên một vùng đất được mệnh danh là rừng tiền biển bạc, rồi nhìn lại những biến chuyển lịch sử qua dòng thời gian, ta mới thấy nặng nợ ân tình với tiền nhân buổi trước, suốt một thời gian dài đã phải gánh chịu tai ương của biển khơi, rừng núi, ác thú và sự thù hận chủng tộc trùng trùng mà tới nay hầu như vẫn không có gì thay đổi.
Chết chóc triền miên khi hành nghề hạ bạc trên sóng nước, chung đụng thường xuyên với hoàn cảnh khắc nghiệt hiểm ác, khiến cho người dân ở đây lúc nào cũng cảm thấy bơ vơ sợ hãi. Ấn tượng trên đã nãy sinh niềm tin tuyệt đối vào các vị thần linh vô hình nhưng lại luôn luôn phù trợ họ. Đây cũng là lý do, khiến cho ngư dân Trung phần, sống dọc theo miền duyên hải từ phía nam đèo Ngang vào tới tận Hà Tiên, thờ cúng ông Nam Hải và bao đời đã trở thành nếp sống cũng là tín ngưỡng huyền thoại của người Bình Thuận.
Là một tỉnh ven biển có chiều dài hơn 192 km, với nhiều làng mạc, thị trấn, ngư cảng hành nghề đánh cá, nên các nơi này đâu đâu cũng có miếu, chùa, dinh, lăng, vạn.. thờ cúng ông Nam Hải nhưng qui mô hơn hết vẫn là bốn vạn chài Thủy Tú (Đức Thắng), Nam Nghĩa (Đức Nghĩa), Hiệp Hưng (Bình Hưng) và Hưng Long tại Phan Thiết. Các vạn chài trên đã được thành lập từ lâu đời. Vạn Thủy Tú xây dựng từ thời Lê Trung Hưng, đã có nhiều bằng sắc phong tặng của triều Nguyễn. Ngoài ra vạn còn lưu giữ hơn 100 bộ ngọc cốt của ông Nam Hải suốt bao năm qua, kề từ ngày thành lập. Riêng nghi lễ cúng kiến Ông tại các vạn chài trong tỉnh ở Phước Thể, Long Hương, Phú Quý, Phan Rí Cửa, Phú Hài, Mũi Né, Phan Thiết, La Gi.. không thống nhất ngày cúng, cho nên nhiều nơi vẫn noi theo qui luật cổ truyền 'nhất niên tứ lệ'.
Nói chung các vạn chài đều tổ chức cúng Ông vào ngày đầu năm và mãn mùa cá Rằm Tháng Bảy Âm Lịch. Nghi thức hành lễ rất trang trọng như rước linh, xô giàn, hát bội, hò bá trạo và đua thuyền trên sông Cà Ty chảy ngang thành phố Phan Thiết. Tất cả hoà điệu vào nhau, làm thành một tín ngưỡng riêng của người Bình Thuận
+ CÁ ÔNG : NAM HẢI CỰ TỘC, NGỌC LÂN THƯỢNG ĐẲNG THẦN
Theo học giả người Pháp là Gamichon có bài viết trên tạp chí Indochine, thì sự phù trợ của Cá Ông đối với con người, nhất là giới ngư phủ và những ghe thuyền bị nạn trên biển Đông là chuyện có thật. Sự kiện cá Ông cứu người, không riêng gì ở VN mà ngay tại phương tây cũng đã xãy ra.
Chính sử gia Herodote của cổ Hy Lạp đã bị quân cướp vứt xuống biển nhưng được cá ông cứu sống đem vào bờ. Nhiều huyền thoại về Ông đã lưu truyền trong dân gian Bình Thuận, vì vậy ngư dân mỗi lần đi biển đều cầu nguyện cũng như khi Ông bị chết trôi giạt vào bờ đều được ngư dân tổ chức tang lễ rất trọng thể. Đặc biệt một thành viên trong tổ chức VASC đã ghi lại một bài ký sự về việc Ông cứu một ngư dân tại làng Bình Thạnh, huyện Tuy Phong, Bình Thuận vào ngày 12-9-1993 khi cơn bão số 9, làm chìm chiếc thuyền đánh cá của người này trong lúc đang hành nghề ngoài khơi .
Trên thực tế, trãi qua hàng ngàn năm, không có một động vật nào kể cả khủng long, đã đem lại sự tưởng tượng phong phú cho bằng cá voi. Với danh hiệu vua của đại dương, cá Ông đã tạo nên nhiều thành tích kỳ bí, hiện tuợng huyển hoặc được người đời sùng kính và thờ cúng như một vị thượng đẳng thần. Với kích thước khổng lồ, sức mạnh vô địch, cá ông khi vô cớ bị tấn công, chỉ cần một cái vẫy đuôi, cũng làm tan gan vỡ mật bon săn cá đang hiện diện chung quanh.
Đến nay, xuất xứ của loài này đối với các nhà khoa học vẫn còn mù mờ. Theo các nhà nghiên cứu thí cá voi thuộc loại lưỡng thể, mà tổ tiên có thể xuất xứ từ loài thú Mesonya, có móng vuốt ở chân như chó sói. Loài thú này cách đây hơn 50 triệu năm, sống trong những đầm lầy trên các bờ biển Á Phi. Thế rồi theo đà biển xâm thực đất liền, loài thú trên đã thay đổi tập quán để thích nghi cuộc sống, nên rời đất liền xuống biển sinh sống. Do trên cơ thể cũng phải biến dạng theo môi trường mới, thân hình dài hơn, trong lúc tứ chi thì teo lại biến thành vi, còn da thêm lớp mở dầy bao bọc, bảo vệ thân thể. Mắt mũi cũng thay đổi cho đời sống của thủy tộc ngâm mình dưới nước. Sự tiến hóa trên đã kéo dài hằng triệu năm mới hoàn thành như ngày nay. Vì là loài lưỡng thể, cá voi có thể rời biển lên cạn để giao phối và sinh con.
Bộ cá voi hiện nay có 38 chi với 7 họ, 83 loài nhưng vẫn nằm trong hai nhóm chính: cá voi có răng và cá voi sừng hàm. Cá voi có răng mà đại diện là cá voi xanh, có chiều dài gần 30m, nặng trung bình trên 150 tấn, hiện là loài động vật lớn nhất địa cầu. Răng cá voi có kích thước đồng nhất, dùng để săn mồi. Cá voi sừng hàm không có răng nhưng lại được thay thế bằng các tầng sừng dính vào hàm trên, có tác dụng lọc lấy thức ăn trong nước. Nhờ vậy khi cá voi hớp một lượng nước biển vào miệng, sừng hàm sẽ giữ lại ruốc, cá mực, còn nước biển được tống ra ngoài.
Vì thân thể to lớn, nên cá voi bơi lội rất chậm, lặn sâu chừng 100m và trong nửa giờ lại phải ngoi lên lên mặt nước để thở hít chừng 4-5 phút. Đây là một khuyết điểm và là sự bất hạnh thê thảm nhất của cá voi, vì càng có mặt trên sóng nước, càng dễ lộ mục tiêu cho bọn săn cá đến sát hại. Để cứu nguy cho loài cá biển hiền lành và linh thiêng này, tổ chức săn cá voi quốc tế IWC (Internatonal Whaling Commission), đã quyết định đưa cá voi vào danh sách động vật ưu tiên, cần được bảo vệ . Tuy nhiên dù đạo luật đã được biểu quyết thi hành vào năm 1976 nhưng các nước Tích Lan, Na Uy và cả Nhật Bổn là một quốc gia theo Phật giáo 90%, vẫn lén lút ngoan cố, tiếp tục săn cá voi. Chuyên vô nhân đạo trên khiến cho cả nước Nhật, phản đối dữ dội bọn săn cá voi bất hợp pháp.
Nhưng dù có sưc mạnh kinh thiên bạt ngàn xẽ núi, kích thước khổng lồ nhưng tâm tư lại Bồ Tát, bản tính hiền lành nên cá voi đã được các hảng du lịch quốc tế, nhất là tại Hoa Kỳ (Hawaii) chọn làm đối tượng để giới thiệu với các du khách. Cá voi khi bơi, tạo được một lực đẩy chừng 50 mã lực và nhờ bộ vẫy đuôi dựng đứng như đuôi tôm, có diện tích chừng 10 m2, mà cá voi có thể thay đổi tư thế bơi lội cũng như chuyển hướng và vượt qua sóng dữ một cách dễ dàng.
Đặc biệt có loài cá voi Mũi Khoắm, hiện đang giữ chức vô địch thế giới về tài lặn sâu trên 200m. Cá voi có một lỗ đạo nằm trên đường xương sọ, cũng là vòi để phun nước. Lỗ đạo ăn thông với xương mũi và được đậy lại khi cá lặn. Luồng nước mà cá voi phun ra là một hỗn hợp gồm có nước, khí, chất nhầy từ phổi và chất dầu trong hốc mũi. Chính sụ phun nước làm cá voi có khứu giác thấp kém nhưng ngược lại thính giác cá voi rất bén nhạy, có thể phóng ra những sóng âm thanh để định hướng, rà đường. Nhờ vậy cá voi có thể quen thuộc đường đi lối về, trên những lộ trình có thể xa hơn mấy ngàn cây số, một cách rất dễ dàng.
Ngoài các đặc điểm trên, loài cá voi xanh với tiếng kêu khi ở tần số thấp, chừng 188 dicibel (đơn vị đo độ ồn), kéo dài chừng nửa phút nhưng tương đương với giọng opéra mạnh nhất của con người. Lại có loài cá voi lưng gù với giọng kêu the thé, kéo dài chừng 10 phút, khi muốn tỏ tình với bạn gái trong mùa giao phối. Những âm thanh trên đối với người đi biển, vẫn là những tiếng hát tuyệt vời trên đại dương.
Với người Việt Nam, có sự phân biệt rõ ràng giữa cá voi hay cá ông, cũng như quan niệm 'tại bắc vi ngư, tại nam vi thần'. Theo kinh nghiệm của các bậc lão thành vùng duyên hải, thì đuôi của cá voi chỉ có hai chia, còn cá ông tức Nam Hải đại tướng quân, thì đuôi có ba chia, da láng bóng như lãnh, khi chết không có mùi dù để lâu ngày, ruồi, muỗi, kiến và các loài sâu bọ vẫn không dám bén mảng tới. Cá ông đã đi vào huyền sử tín ngưỡng lâu đời của người VN như một ân nhân độ mạng. Để tỏ lòng thành kính, mọi người không dám gọi cá voi là cá, mà trang trọng gọi là ông Khơi, ông Lộng, ông Kim, ông Thông, ông Mán, ông Bền.
Tôn kính cá ông khi sống và lúc bị lụy (chết). Do trên ngư phủ nào gặp ông đầu tiên, phải thọ tang ba năm và được vạn chài địa phương hay vạn Thủy Tú tại Phan Thiết, lo lắng việc chôn cất. Mộ phần của ông cũng tuỳ theo hình dạng to nhỏ, để có thể tống táng trong khuông viên của các Dinh ông, vạn chài hoặc neo xác ông trong vùng đăng cạnh bờ như tại Khánh Hòa. Sau ba năm mãn tang, các vạn chài đưa ngọc cốt vào phụng thờ trong dinh, vạn.
Theo Việt sử, vào tháng 2 năm Nhâm Dần (1782), Nguyễn Vương trong khi đang vây hãm thành Bình Thuận, thì bị thủy quân Tây Sơn từ Bình Định vào đánh đuổi. Nguyễn Vương thua trận và bị Tây Sơn truy sát. Lúc thuyền hai bên gặp nhau tại giang khẩu Xoài Rạp, là một khúc sông Đồng Nai giữa Gia Định và Gò Công, thì đột nhiên bảo tố nổi lên dữ dội, khiến cho tàu thuyền của hai phía bị đắm chìm rất nhiều. Ngay lúc thuyền chở Nguyễn Ánh lâm nguy, thì bỗng có một cặp cá ông nổi lên đỡ và dìu thuyền vào bờ làng Vàm Láng, tổng Kiến Phước, tỉnh Gò Công.
Sau khi đất nước thống nhất, vua Gia Long lên ngôi năm 1802, nhớ ơn xưa đã truy phong cho cá voi, tước Nam Hải đại tướng quân, Cự Lộc Ngọc Lân Thượng Đẳng Thần, đồng thời hạ chiếu phong tặng, cho các làng xã lân cận nơi bị đắm thuyền năm xưa, trong đó có Cần Giờ (Gia Định), Kiến Phước (Gò Công), Vũng Liêm (Vĩnh Long) và ra lệnh cất đền thờ Cá Ông. Kể từ đó, vùng phía nam Đèo Ngang trở vô đều thờ Ông Nam Hải. Ở miền bắc VN, do ảnh hưởng của phong tục và tập quán Tàu, nên không tin Cá Ông nhưng ngư dân tại Đồ Sơn (Kiến An), vẫn chôn cất Cá Ông rất trọng thể khi Ngài bị lụy, dù không lập miếu thờ như tại miền Nam.
Với Phật giáo, Ông là hiện thân của Phật Bà Quan Âm, vị Phật hiền từ, nhân ái, chuyên cứu khổ, cứu nạn mọi người. Đức Phật Quan Âm một lần tuần du trên biển Nam Hải, cảm động trước sự chết chóc của nhân loại, vì thiên tai, bảo tố nên Phật Bà đã xé mãnh cà sa của mình thành trăm mảnh, ném xuống mặt biển hóa thành đàn Cá Voi, lại ban cho thân thể to lớn và phép thần thông, để Ông có sức khỏe vạn năng và bơi lội nhanh lẹ, hầu kịp thời hộ trì cứu giúp những người bị tai nạn trên biển.
Cá Ông thích ăn cá mòi, mực và ruốc. Vùng biển Bình Thuận tại Phước Thể, Phan Rí, Mũi Né, Phan Thiết, La Gi có rất nhiều ruốc, mực và cá mòi, nên cũng có nhiều Cá Ông. Bình Thuận có bốn vạn lớn : Thủy Tú, Nam Nghĩa, Hưng Long và Hiệp Hưng. Các nơi khác trong tỉnh cũng đều có Dinh Vạn Đình Miếu thờ cúng cá Ông.
Song song với niềm tin Ông Nam Hải, ngư dân còn thờ hoặc kính nể một vài thủy tộc khác, có liên hệ đến đời sống hằng ngày của họ, khi hành nghề trên mặt biển như:
- CÁ ĐAO Hay TẢ HỮU TUỚNG QUÂN: Là loại cá lớn, xương cứng, mõ dài gần 2m, răng bén nhọn ló ra ngoài, thường thấy kế cận hai bên Cá Ông.
- Cá Ông Sứa: Cũng to lớn như cá Ông, đuôi dựng đứng như tôm nhưng không có lỗ đạo trên đầu, nên miệng luôn hả ra để thở, mình có bông. Cá Ông Sứa hiền lành, không hại ai lại hiểu tiếng người và cũng thường cứu người khi tàu thuyền bị đắm.


- Bà Tím Hay Đệ Bát Thánh Phi Nương Nương hay Công Chúa Thủy Tề, là một loài ruà biển to lớn, có hình dạng và màu sắc ghê rợn. Bà Tím thuộc loại linh qui, có 15 vảy trên mu, bốn chân hình rẽ quạt, đầu phụng có mồng, mõ nhọn màu đỏ, cổ vàng có hầu, mắt như mắt người. Bà Tím đẻ trứng trên cát, sau 100 ngày, trứng nở thành những cô cậu, tự động mò về biển. Thờ cúng Bà Tím, cũng là một phong tục lâu đời của ngư dân và đến nay, không ai dám xúc phạm tới vị thần biển này.
- Ông Nược: cùng loại với Cá Ông nhưng nhỏ hơn, đuôi như tôm, lưng đen bụng trắng có vú. Ông Nược hiền lành, ăn mực, giúp đỡ người bị nạn, thường nhào lộn trên mặt biển để đua chơi với tàu thuyền của ngư phủ.
- Các Loại Đẻn : Vùng biển Bình Thuận, từ Long Hương vào tới La Gi, có rất nhiều loại rắn biển mà người địa phương gọi là đẻn, nọc rất độc, cắn chết người, vì vậy ngư dân cũng rất nể sợ, tuy không thờ cúng. Hiện các nhà khoa học còn mù mờ về lý lịch của loài đẻn. Sự tàn độc của chúng khiến cho tới lúc chết, cũng không có một loài cá hay sinh vật nào kể cả loài diều hâu, kên kên háu ăn, để ý tới. Nhân loại hiện nay chưa có thuốc chủng hay trị liệu vết thương do đẻn cắn.
Đẻn thuộc họ rắn hổ mang trên cạn có tên khoa học là Hyphophidoe, gồm nhiều nhánh, đều mang nọc độc vô địch trên thế giới, trong ngành động vật có xương sống. Thường các nạn nhân bị đẻn cắn không bị đau đớn nhưng chỉ một vài giờ sau, nọc độc gây chứng tê liệt thần kinh, co giật, phổi bị ép và nghẹt thở chết.
Theo thống kê hiện có tơí 50 loài rắn biển, đa số sống ở miền nam Thái Bình Dương và quanh biển Úc Đại Lợi. Một vài loại sống tại Nhật cũng như vịnh Ba Tư, kênh đào Panama. Vì sống trong nước nên đẻn có cấu tạo đặc biệt hơn rắn hổ mang, đuôi dẹp làm thành một bánh lái khi bơi lội. Mũi đẻn nằm ngay trên miệng, thay vì ở hai bên như loài rắn đất liền và có nắp đậy kín khi lặn. Bụng đẻn cũng nhỏ hơn và có thêm một tuyến đặc biệt, giúp đẻn thải chất muối khi uống nước biển. Giống rắn trên cạn, đẻn chỉ có một lá phổi nhưng rất lớn, một phần dùng để lọc khí ôxy và lại có một túi riêng trong lá phổi để chứa không khí.
Với ngư dân tại Bình Thuận-Phan Thiết, đẻn được gọi qua các tên như Bà Mộc hay Mộc Trụ Thần Xà là loại đẻn dài cỡ thước mộc (0,40m), mình dẹp, lưng đen, miệng đỏ, đầu có chữ nhâm. Bà Lạch, loại đẻn đầu có mồng và chữ nhâm. Ông Hèo, dài từ 2-3m, mình tròn màu vàng nhạt có lằn đen trên lưng, đầu có chữ nhâm, là loài tàn độc nhất, ai bị mổ sẽ chết ngay tại chỗ chừng vài phút. Cô Hồng hay Bát Bửu Công Chúa là loại đẻn nhiều màu, đầu có mồng. Tóm lại, tất cả các loại đẻn đều hung ác, làm mọi người nể sợ nên nghĩ rằng chúng là binh tướng của thần linh, có nhiệm vụ hành sử những kẻ phạm tội, đối với trời đất.
Những năm trước tháng 5-1975, ngư dân Bình Thuận có cuộc sống sung túc dễ chịu vì biển luôn trúng mùa, nên các vạn chài trong tỉnh luôn tổ chức cúng Ông rất linh đình nhưng trang trọng hơn hết vẫn là tại bốn vạn lớn tại Phan Thiết. Cho dù thuộc lệ cúng gì như cầu ngư, vía ông, mãn mùa, tất cả đều có hát bội, đua ghe và hò bá trạo.
Quang cảnh trong Dinh Thủy Tú những ngày đó, thật vui nhộn, đâu đâu cũng đầy ắp người, từ trẻ con cho tới người lớn tuổi nhưng phần lớn vẫn là những nam thanh nữ tú, đủ mọi thành phần. Không riêng gì người Phan Thiết, mà dân các vùng Long Hương, Phan RíÔ, Mũi Né, La Gi và các vùng quê lân cận cũng tuôn về trẩy hội. Lòng ai cũng hớn hở theo hồi trống ngủ liên vọng từ Dinh ra ngoài trời, quyện theo những lá cờ đuôi nheo đang phất phơ bay trước gió. Đối với dân Bình Thuận, những ngày cúng kiến Ông Nam Hải, là những giờ phút thiêng liêng trọng đại, cũng là những dịp vui chơi hiếm có, mọi người đều được ăn uống cờ bạc tự do, lại được thưởng thức hò bá trạo, hát bội, đua thuyền. Tất cả đều là thú vui của người miền biển, chỉ được tổ chức một vài lần trong năm mà thôi.
Trong Dinh đèn đuốc sáng choang, linh vị các ngài đã được an vị lại trên các bệ thờ. Rồi xô giàn cúng cô hồn, có đội chèo hát cầu siêu, cầu hồn những linh hồn uổng tử đã chết thảm thê nơi sóng nước. Cuối cùng xây chầu hát bội, trên sân khấu lộ thiên xây bằng gạch trước Dinh. Các viên chức chánh quyền, kỳ mục, ban hội tề đều được mời vào cầm chầu.
+ HÒ BÁ TRẠO :
Chiêm Thánh vong quốc từ năm 1693 nhưng cái uy vũ của Nữ vương Thiên Y A Na Ngọc Diện Phi, vẫn tiếp tục bao trùm khắp người dân vùng đồng bằng và duyên hải miền Trung, thuộc phần đất Đàng Trong cũ của các chúa Nguyễn. Ảnh hưởng kéo dài từ ruộng rẩy, rừng núi, ra tới tận biển đảo. Đối với người Việt, hầu như không có sự phân biệt như người Chiêm đã làm, khi tách bà Chúa Xứ cũ của vương quốc ở Tháp Bà Nha Trang, Hòn Chén Huế và Bế Ngải Bà Rịa, thành một bà chúa riêng biệt tại Hữu Đức Phan Rang. Điều này cũng dễ hiểu vì người Chàm không muốn thờ phụng bà Chúa Xứ Chàm đã trở thành một bà thần Việt, qua thơ văn, mang dạng tiên nương trong Đạo giáo.
Tính chất hoang sơ trong dạng nữ thần Thiên Y hoá thân thành các vị thần thánh trên sông biển, qua tâm khảm của đoàn người phải rời bỏ đất liền bình yên, ra vùng sóng gió muôn trùng, chỉ có trời nước mông mênh. Cuộc sống ba chìm bảy nổi đã tạo nên tâm tính 'ăn đàng sóng, nói đàng gió' vì sinh mạng luôn luôn bị đe doạ. Chính vì thế mà nhiều tục lệ của người Chàm để lại đã biến mất trên đất liền, trái lại vẫn dai dẳng tồn tại trong sinh hoạt biển, qua hình thức tế lể, mang tính chất cầu cạnh thần linh, tạo nên một trạng thái vừa sợ hãi lẫn tôn kính thân tình.
Khía cạnh này đã được thể hiện rõ ràng, trong việc thờ cúng Ông Nam Hải, cự tộc Ngọc Lân tôn thần, mà Đại Nam Nhất Thống Chí có đề cập 'Duy chỉ có nước Nam ta, từ sông Linh tới Hà Tiên, thường có linh ứng qua hiện tượng Cá Voi cứu người hoạn nạn ngoài biển. Tại các Dinh Vạn thờ cúng Ông nhưng bao trùm trên hết vẫn là quyền lực của Bà Chúa Xứ vì trong các văn tế Ông đều có nhắc tới Bà và miếu thờ Bà còn trên hòn Bà ngoài khơi La Gi, cũng như tại Vạn Thủy Tú, Đức Thắng có sắc phong của vua cho Bà và rõ nét nhất là sự thờ kính Thầy Chúa trên đảo Phú Quý, ngoài khơi Bình Thuận.
Đàng Trong tức là Trung phần ngày nay, hát bội tuy xuất phát từ Đào Duy Từ (1572-1634) nhưng được phát triển qua Đào Tấn (1845-1907). Hát bội là một bộ môn nghệ thuật rất được phổ quát khắp miền Trung từ xưa tới nay, cho nên không lạ khi thấy sự diễn xướng của Hò Bá Trạo, được trình bày theo khuôn khổ của một tuồng hát bội giản lược và thu nhỏ. Các bản chèo từ Quảng Nam vào tới Bà Rịa, rất giống nhau trên đại thể cũng như hình thức trình bày mang tính chất hát bội rõ rệt. Người Việt Nam vốn có nguồn gốc từ hải đảo, cho nên trong các bản chèo Bá Trạo, cũng có thể thấy được, lớp văn hóa đáy của người miền biển xưa cùng hơi hướng vướng víu của lễ Tiwak từ thổ dân Dayak, sống trên đảo Bornéo, Nam Dương mà nhà biên khảo V.Goloubew cho là các hình đúc trên trống đồng Đông Sơn của người Lạc Việt. Tuy nhiên dù hình thức là nền văn hóa đáy miền biển nhưng quan niệm chuyển kiếp, lại được nhìn qua lăng kính Phật giáo và màu sắc Lão Trang, dưới ngòi bút của một nho sĩ.
Theo từ nguyên và các tập quán của nhiều vùng đất thuộc tỉnh Bình Thuận kể cả Phú Quý, thì Bả Trạo chứ không phải Bá Trạo, vì ' bả' là nắm chắc, còn ' trạo' là mái chèo. Hát Bả Trạo, là nắm chắc mái chèo khi đang trình diễn, hát xướng. Đây cũng là một tên gọi rất quen thuộc, để chỉ một nghệ thuật múa hát nghi lễ của các ngư dân miền Trung từ Thừa Thiên vào tới Bà Rịa. Tuy mỗi địa phương có một sắc thái riêng biệt nhưng tựu trung hầu hết các buổi Hò Bả Trạo cũng chỉ là một buổi trình diện nghệ thuật, mô phỏng theo sinh hoạt của một con thuyền đang hành nghề, với đầy đủ các thành phần từ tổng lái, tổng mũi, tổng khậu và các trạo phu. Lối hát này rất sinh động và lôi cuốn mọi người, vì nhờ biết tổng hợp nhiều thể điệu dân ca từ nói lối, hò, vè, đến lý và hát tuồng.
Sống suốt cuộc đời bằng nghề hạ bạc trên sóng nước, nên hầu như ai cũng chứng kiến những cái chết thương tâm của các nạn nhân vì thiên tai bảo táp. Nhiều cái xác vô thừa nhận trôi tắp vào bờ và được dân làng chôn làm phước tại các nghĩa trũng. Cũng từ đó, hát bã trạo ra đời mang ý nghĩa cứu độ chúng sinh đang chìm đắm trong biển đời u minh khổ tuyệt. Do trên ta thấy từ đầu tới cuối, nội dung hát bả trạo gần như một một tuồng hát có ngụ ý về một con thuyền bát nhã đang dung ruổi trên biển khơi để cưú độ chúng sinh, đưa họ về nơi tịnh độ. Vì vậy trong lời hát, ta thấy có nhiều từ ngữ Hán-Nôm xen kẻ, phần lớn thuộc loại cầu siêu, cầu hồn:
'Mau chỉnh tu bát nhã từ thuyền,
đưa âm linh chớ có nại phiền
qua khổ hải đặng thoát vòng nghịch kiếp.. '’’
Nói chung, nội dung hát bả trạo cũng vẫn dựa theo những bài văn cúng âm linh của các làng xã VN nên đều mang tính chất nhân đạo, thể hiện lòng thương yêu vị tha của người đối với người, cho dù họ vì nghĩa lớn mà hy sinh hay chỉ là nạn nhân bất ngờ phải bỏ mình, nơi quê người đất khách:
'những người nghĩa khí tài ba
gặp cơn nước loạn phải ra liều mình
những người tử trận đao binh
gian truân cát lấp, gửi mình trường sa
những người thuyền bá linh đinh
gặp cơn sóng gió hãi kình rước thây.. ' ' '
Tại Trung phần, lễ cầu ngư của dân làm biển, là một phong tục tập quán mang tính chất tín ngưỡng truyền thống, không thể thiếu được. Gắn liền với lễ hội trên là hò bã trạo, một nghệ thuật trình diễn trên sân khấu bình dân từ lâu đời, cũng là một nhu cầu đặc trưng của tự tình dân tộc. Hiện nay có nhiều bổn chèo hò bả trạo được lưu hành. Theo nhận xét chung của các nhà nghiên cứu, thì đa số các bổn văn thường trùng lặp vì nạn sao chép vay mượn lẫn nhau, nên trở thành tam sao thất bổn, nhất là các từ ngữ Hán-Việt. Ngoài ra văn bản còn tuỳ theo khả năng sáng tác của người nghệ sỷ. Tuy nhiên tại Bình Thuận, hầu hết đều công nhận bản chèo của tác giả Lê Ngọc Yến ở Thạch Long, Mũi Né, rất có giá trị nghệ thuật. Bổn chèo trên dài tới 800 câu, viết theo thể văn hát tuồng, bằng đủ thể loại từ lối thơ song thất lục bát, tới thất ngôn tứ tuyệt, xen lẫn hát vè, nói lối.
Đội hò bả trạo là phản ảnh của cảnh sinh hoạt trên một chiếc thuyền, gồm tổng lái cầm chèo dọc, chỉ huy con thuyền khi sóng to gió lớn. Tổng mũi hay tổng tiền, tổng thương có nhiệm vụ qaun sát, định hướng, trở buồm theo lệnh của tổng lái. Khi trình diễn, tổng mũi tay cầm sanh giữ nhịp. Tổng khậu lo chợ búa bếp núc. Tổng khoang lo canh buồm giữa và tát nước. Ngoài ra đội trạo phu có từ 6-8 cặp và một phách sỷ vừa chèo thuyền, vừa đánh bát, gõ nhịp điều khiển toàn đội.
Trong khi trình diễn, hai vai quan trọng nhất là tổng khậu và tổng khoang phải thông thạo tất cả các lối ngâm, xướng, bạch, thán oán, vịnh, nam khách, tẩu mã cùng các điệu lý hò miền Trung. Âm nhạc vẫn giữ vai trò quan trọng trong hò bả trạo như giữ nhịp, đưa hơi, tạo không khí hào hứng cho người diễn cũng như thính khán giả, qua các loại nhạc cụ như trống, chiêng, thanh la, kèn bầu, sáo, đàn..
Năm 1955, đất nước chia đôi, từ vỹ tuyến 17 trở vào thuộc VNCH, trong đó có tỉnh Bình Thuận rất phát triển về ngư nghiệp. Nhiều Dinh Vạn thờ Ông Nam Hải cũng được ngư dân lập lên, từ Long Hương vào tới La Gi, làm rộ lên phong trào hát bã trạo, vốn là nghệ thuật múa hát nghi lễ rất quen thuộc của ngư dân các tỉnh miền Trung, từ Thừa Thiên vào tới Bà Rịa.
Ai đã sống ở Phan Thiết hay có lần ghé thăm thành phố biển, nêu không hay chưa thưởng thức ngày hội cúng Ông Nam Hải đầu xuân hay vào tháng bảy âm lịch, thì quả là một thiếu sót đáng tiếc. Mấy năm gần đây, tư bản đỏ trút tiền chùa có được để sửa chữa Vạn Thủy Tú, mục đích cũng chỉ để tóm tiền khách du lịch, cho nên niềm tin và các giá trị cổ truyền tụ ngàn xưa, hầu như nay chỉ là lớp phấn son bên ngoài. Hiện tại người Bình Thuận đang lao đao vì chén cơm manh áo khi biển đã thật sự phụ người, nên chắc không còn mấy ai nghĩ tới chuyện ngày xưa dù trong thâm tâm của họ nhất là giới ngư phủ, lúc nào cũng mang niềm tin tuyệt đối, là Ông Nam Hải sẽ luôn luôn hộ trì người BìnhThuận, qua khỏi tai kiếp thế kỷ và chúng ta chắc chắn sẽ có lại những niềm vui của một thời hoan lạc như đã có trong quá khứ.
Viết từ Xóm Cồn Ha Uy Di
Tháng 9- 2009
Mường Giang

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Nhân khi đọc bài Thành Tựu Niết bàn của Cư sỹ Nguyên giác Phan Tấn Hải, chúng tôi xin phép kết hợp với thuyết big bang của Stephen Hawking và tiến trình giác ngộ của Đức Phật, và sự sống và chết theo Phật giáo để luận bàn về Niết bàn, giải đáp thắc mắc đức Phật chết rồi đi về đâu? Đây chỉ là khởi niệm mới lạ, biết đâu tương lai sẽ có người chứng minh được.
Phiên toà xử người dân Đồng Tâm cùng cái án tử hình, chung thân dành cho con cháu cụ Kình đã phủ xuống tâm trạng u ám cho tất cả chúng ta. Nhưng sự việc không dừng ở đó, công an đã bắt giam nhà báo Phạm Đoan Trang, đồng tác giả của ấn bản “Báo Cáo Đồng Tâm”.
Ông mô tả mình là một người chủ trương “tôn trọng sự sống – (pro-life),” ủng hộ Tu chính án số 2 (quyền sở hữu vũ khí,) cổ võ một bộ máy chính quyền nhỏ, một kế hoạch quốc phòng mạnh mẽ, và là một người bảo thủ tôn trọng quốc ca” đã nói là hiện nay nước Mỹ không còn là một quốc gia dân chủ gương mẫu, và rằng “chúng ta cần phải có một Tổng Thống cho tất cả mọi người Mỹ, chứ không phải chỉ cho một nửa nước Mỹ.”
Nước. Nước từ đâu cứ dâng lên; lên rồi rút, rút rồi lại lên, ngập tràn đồng ruộng, ao hồ, vườn tược, làng quê, và phố thị của nhiều tỉnh thành miền Trung. Cuồng phong bão tố từ đại dương cuộn xoáy vào đất liền, kéo theo những cơn mưa xối xả ngày đêm.
Vấn đề không phải là để truy thù hay báo oán. Truyền thống văn hoá bao dung dân tộc Việt không cho phép bất cứ ai thực hiện điều đó. Tuy nhiên, quá khứ cần phải được thanh thoả – và không thể thanh thỏa bằng một (hay vài) cuốn truyện– để chúng ta đều cảm thấy được nhẹ lòng, và an tâm hơn khi hướng đến tương lai.
Làm thương mại, nhất là làm trong nghề buôn bán nhà cửa, muốn mọi người thương mình rất khó. Chín người thương mình cũng có một người ghét mình. Ăn ở cho mọi người thương mình chỉ có chân thành mới làm được.
Rừng điêu tàn thì đất nước suy vong; đây mới chính là cội rễ của vấn đề.bChúng ta cứu giúp đồng bào bị nạn nhưng chính chúng ta có ai nghĩ đến cội nguồn của vấn đề là nạn phá rừng cưa gỗ tàn phá đất nước. Tác động tới môi trường, phá rừng vẫn đang tiếp diễn và đang làm thay đổi khí hậu và địa lý.
Trưa ngày 16/10/2020, một thanh niên người Tchétchène, tên Abdoullakh Anzarov, đã cắt cổ Thầy giáo Sử Địa, ông Samuel Paty, ngay trước trường Trung học Le Bois d'Aulne nơi ông đang dạy, ở Thành phố Conflans-Sainte-Honorine, ngoại ô Tây-Bắc cách Paris chừng 40km Paris.
Tôi rất hãnh diện đã ủng hộ đạo luật lịch sử, mang 130,000 người tị nạn đầu tiên từ các nước Việt Nam, Lào, và Campuchia đến Hoa Kỳ vào năm 1975 và đã thông qua nghị quyết chào đón họ. Tôi đã bỏ phiếu chấp thuận gia tăng ngân quỹ để giúp những người Việt mới đến định cư và sau này tôi đã đồng bảo trợ cho đạo luật dẫn đến sự hình thành của hệ thống di trú theo quy chế tị nạn hiện hành. Tinh thần cứu giúp người tị nạn, chào đón họ đến với tự do sau khi trốn thoát chế độ đàn áp, là giá trị nền tảng của chúng ta và của Hoa Kỳ. Cũng do giá trị đó mà nước Mỹ trở thành biểu tượng của tự do và hy vọng, dẫn đầu thế giới không chỉ bằng sức mạnh của một cường quốc mà bằng hành động cụ thể làm gương cho thế giới. Trong vai trò tổng thống, tôi cam kết sẽ giữ cho nước Mỹ là quốc gia luôn chào đón người tỵ nạn và di dân, và chúng ta ghi nhận sức mạnh phi thường của Hoa Kỳ đến từ xã hội đa dạng và đa sắc tộc của chúng ta.
Hai Dự thảo “Báo cáo Chính trị” (BCCT) và “Tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng nhiệm kỳ Đại hội XII”, gọi ngắn là “Xây dựng, chỉnh đốn đảng”, dành cho Đại hội đảng XIII vào đầu tháng Giêng năm 2021, đã bộc lộ bản tính tham quyền cố vị và tư duy giáo điều
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
Người Việt Phone
Không còn nghi ngờ gì nữa, khẩu trang đã đóng một vai trò trung tâm trong các chiến lược đối đầu với dịch bệnh COVID-19 của chúng ta. Nó không chỉ giúp ngăn ngừa SARS-CoV-2 mà còn nhiều loại virus và vi khuẩn khác.
Hôm thứ Hai (06/07/2020), chính quyền Mỹ thông báo sinh viên quốc tế sẽ không được phép ở lại nếu trường chỉ tổ chức học online vào học kỳ mùa thu.
Đeo khẩu trang đã trở thành một vấn đề đặc biệt nóng bỏng ở Mỹ, nơi mà cuộc khủng hoảng Covid-19 dường như đã vượt khỏi tầm kiểm soát.
Trong khi thế giới đang đổ dồn tập trung vào những căng thẳng giữa Mỹ với Trung Quốc, thì căng thẳng tại khu vực biên giới Himalaya giữa Trung Quốc và Ấn Độ vào tháng 05/2020 đã gây ra nhiều thương vong nhất trong hơn 50 năm.
Ủy ban Tư pháp Hạ viện Mỹ cho biết các CEO của 4 tập đoàn công nghệ lớn Amazon, Apple, Facebook và Google đã đồng ý trả lời chất vấn từ các nghị sĩ Quốc hội về vấn đề cạnh tranh trong ngành công nghệ.