Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
EagleBrand-Vietbao-1230x152-12042022-viet

Y Học: Âm Nhạc, Thuốc Lá, Tiêu Chảy

02/07/200500:00:00(Xem: 5820)
Âm Nhạc Tăng Cường An Thần Khi Giải Phẫu
Bs Suleyman Ganidagly và các đồng nghiệp thuộc Ðại Học Y Khoa Harran, Thổ Nhĩ Kỳ, nghiên cứu tình trạng giảm đau đớn trước khi cho thuốc an thần và mổ sẻ. So sánh 28 bệnh nhân được nghe âm nhạc với 26 bệnh nhân không nghe âm nhạc trước khi giải phẫu. Bệnh nhân được chích thịt thuốc an thần midazolam 0.08 mg/kg. Phân tích độ thức ngủ/an thần (Observer’s Assessment of Alertness/Sedation Scales) OAAS và chỉ số BIS theo thơì gian. Kết quả cho thấy độ OAAS tăng cao hơn (3) trong trường hợp bệnh nhân được nghe âm nhạc và chích thuốc an thần, 30-50 phút, trước khi giải phẫu. Ðộ BIS cũng nhỏ hơn trong nhóm bệnh nhân nghe âm nhạc trong 30-40 phút và chích thuốc an thần trước khi giải phẫu so sánh với nhóm bệnh nhân không nghe âm nhạc. BIS giảm thấp trở lại bình thường 10-50 phút trong nhóm nghe âm nhạc, so với BIS giảm thấp trở lại bình thường, 30-50 phút trong nhóm không nghe âm nhạc.
Tóm lại, được nghe âm nhạc trong lúc đánh thuốc an thần midazolam cho bệnh nhân trước khi giải phẫu tăng cao độ an thần. (International Anesthesia Research Society, 101: 103, 2005). (Bàn thêm: BIS (Bispectral Index) là chỉ số đo độ tác dụng thuốc mê và an thần vào thần kinh não. Nhờ đó các bác sĩ tê mê mơí có thể xác định thuốc an thần hay thuốc mê cần cho mỗi bệnh nhân thế nào cho vừa đủ. Ðộ BIS thay đổi từ 100 (khi bệnh nhân tỉnh dậy) xuống 0 (khi não hết hoạt động, tức là trong tình trạng mê man). Ðây là lần đầu tiên chúng ta thấy âm nhạc tăng cao độ hôn mê khi bệnh nhân được chích thuốc an thần trước khi giải phẫu.
Âm nhạc trị liệu (Music therapy) thường được các nhà tâm lý chuyên môn sử dụng trong trường học, nơi chăm sóc bệnh nhân, bênh nhân nhập viện trước khi tử vong, hay bệnh tâm thần. Kết quả nghiên cứu cho biết âm nhạc trị liệu làm cho cơ thể và tâm hồn con người an lành hơn. Dòng nhạc và nhịp điệu có thể gây cảm giác kích động hay thư dãn. Trong trường hợp thư dãn, âm nhạc trị liệu thay đổi nhịp tim đập, giảm nhịp thở, giảm lượng dưỡng khí trong máu, giảm huyết áp, tăng khả năng suy nghĩ, học hỏi hay lý luận. Kết quả vài nghiên cứu khác còn cho biết âm nhạc giúp trí nhớ khá hơn nhất là đối với bệnh lãng quên người già, giúp bệnh nhân nói năng hay tương tác vơí những người xung quanh khá hơn, giảm đau đớn khi sinh đẻ, giảm đau bệnh nhân ung thư).
Thèm Muốn Hút Thuốc Lá Nhiều Hay Ít Là Do Não Điều Khiển "

Ts Joe McClerman thuộc Trung Tâm Nghiên cứu Nicotine và Ngưng Thuốc La’ bằng cách chụp hình MRI não, tìm hiểu chức năng của não khi bỏ thuốc lá và khi nào bệnh nhân lại muốn hút thuốc lá trở lại. Chụp hình MRI cho thấy chức năng não hoạt động tùy theo luồng máu thay đổi trong mô não. Sự hoạt động biểu hiện trong não tiên đốn người hút thuốc lá ham muốn hay thèm hút thuốc lá thay đổi theo từng người. Tức là có thể biết được người nào thèm thuốc lá, muốn hút thuốc lá trở lại, và người nào có thể bỏ hẳn tật hút thuốc lá. Neuropsychopharmacology, 2005. (Bàn thêm: Ghiền thuốc lá là vì thói quen, do ghiền nicotine, giống như ghiền ma túy, khó bỏ được. Kết quả kể trên nghiên cứu hiện tượng thèm muốn hút thuốc lá dựa theo cách đo lường chức năng não, nghiên cứu động học tức là đo luồng máu chuyển động trong mạch máu não. Như vậy tức là dùng MRI vừa có thể chụp hình ảnh não như chụp hình cắt lớp CAT scan, vừa nghiên cứu động học chức năng trong mô não. Dựa theo nguyên tắc kể trên, MRI Scan áp dụng trong rất nhiều lãnh vực khảo cứu.
Ở đây, chúng ta chỉ nói về MRI Scan và những nghiên cứu não bộ: MRI có thể phân biệt được bệnh lãng quên Alzheimer và bệnh lãng quên do thối hóa phần trán và thái dương não (frontotemporal dementia). MRI khám phá tai biến mạch máu não cực nhỏ, có thể làm hư hại động tác, lời nói, nhận thức, hay trí nhớ. MRI có thể giúp phân biệt tai biến mạch máu não (stroke) và động mạch não co thắt bất chợt (TIA). MRI và CAT Scan đều giúp truy tầm u bướu não. MRA (magnetic resonance angiography) có thể chụp được từng mạch máu não thật rõ ràng, khám phá bệnh phình động mạch não, hay các chứng bệnh mạch máu não khác).
Tiêu Chảy Và Siêu Vi Trùng Norovirus
Trong mấy năm gần đây, 50% bệnh tiêu chảy là do siêu vi trùng Norovirus. CDC khuyến cáo siêu vi trùng Norovirus và tiêu chảy phát hiện tại Hoa Kỳ, phần lớn từ những nhà hàng (36%), bệnh viện người già (23%), trường học (13%), những nơi nghỉ hè, du thuyền (10%). CDC cho biết tiêu chảy do siêu vi Norovirus càng ngày càng nhiều hơn trong những năm gần đây tại Mỹ. (CDC). (Bàn thêm: Siêu vi Norovirus trước gọi là Norwalk-like virus cùng họ với gia đình siêu vi Caliciviridae, nghĩa latin là hình cái ly, calyx. Siêu vi Norovirus mầu xanh, nằm ngoài màng ruột, truyền dị thể vào tế bào ruột, do đó tiêu hủy tế bào ruột.
Mỗi năm có 23 triệu bệnh nhân bị tiêu chảy tại Hoa Kỳ do Norovirus. Nếu nói về bệnh nhiễm siêu vi trùng thì Norovirus đứng hàng thứ 2 sau siêu vi trùng cúm. Siêu vi trùng Norovirus truyền nhiễm từ phân vào đường ruột, tức là có thể truyền từ người này sang người khác, hay từ đồ ăn, nước uống. Nhiễm siêu vi Norovirus do tay dơ bẩn có siêu vi Norovirus. Phân hay bệnh nhân ói mửa truyền siêu vi trùng. Triệu chứng gồm có ói mửa, tiêu chảy, đau bụng, nhức đầu, nóng nhẹ).
Trần Mạnh Ngô, M.D., Ph.D., F.A.A.F.P.; Điện Thoại: (714) 547-3915; E-mail: nmtran@hotmail.com; Diễn Đàn Y Khoa: http://groups.yahoo.com/group/DienDanYKhoa/; www.KhoaHoc.Net; Sức Khỏe

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Theo nghiên cứu “The neurons that restore walking after paralysis” (Tế bào thần kinh phục hồi khả năng đi lại sau khi bị liệt) được công bố trên tạp chí Nature trong tháng 11 năm 2022, chín người bị liệt do chấn thương tủy sống nghiêm trọng đã lấy lại được khả năng đi lại nhờ sự kết hợp của kích thích điện từ cột sống dưới và vật lý trị liệu.
Cặp song sinh một trai một gái, tên là Lydia và Timothy Ridgeway, có thể đã phá vỡ kỷ lục phôi thai đông lạnh lâu nhất từng sinh ra. Người giữ kỷ lục trước đó là Molly Everette Gibson, sinh ra từ một phôi thai đã được đông lạnh trong khoảng 27 năm. Mẹ của cô, Tina Gibson, người cấy phôi thai vào cơ thể mình và sinh ra cô mới được 1 tuổi khi phôi thai đó được đông lạnh.
Vì Vi-rút Hợp Bào Đường Hô Hấp (RSV), bệnh cúm, và COVID-19 tiếp tục ảnh hưởng đến người dân California sớm hơn thường lệ trong năm nay, nên Nhà Dịch Tễ Học của tiểu bang, cũng chính là bác sĩ Erica Pan, kêu gọi mọi người trên toàn tiểu bang bảo vệ bản thân và gia đình của họ trước nhiều loại vi-rút đang hoành hoành.
Cơ Quan Kiểm Soát Thực Dược Phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã chuẩn thuận loại thuốc điều trị đầu tiên có khả năng trì hoãn – có thể trong nhiều năm – sự khởi phát của bệnh tiểu đường Loại 1, một căn bệnh thường xuất hiện ở thanh thiếu niên.
Nước Mỹ có vấn đề về uống rượu. Theo nghiên cứu mới của Trung tâm Kiểm soát và Phòng Ngừa Dịch Bệnh (CDC), việc tiêu thụ rượu quá mức đã góp phần gây ra ước tính một phần tám số ca tử vong, hay12.9 phần trăm trên tổng số người Mỹ từ 20 đến 64 tuổi. Uống quá nhiều rượu cũng là nguyên nhân gây ra 1/5 số ca tử vong - 20,3% - ở người Mỹ từ 20 đến 49 tuổi, theo nghiên cứu được công bố vào tuần trước trên tạp chí JAMA Network Open.
Vắn tắt, người càng lớn tuổi, số lượng tế bào thần kinh giảm và khả năng về tâm trí sẽ giảm đi. Một số triệu chứng nhẹ như hay quên, hay lẫn lộn có thể chấp nhận như là sự lão hoá bình thường. Khi các triệu chứng này gia tăng, tiến triển đến mức ảnh hưởng đến cuộc sống thường nhật, lúc đó người ta dùng từ "dementia" hay "mất trí" theo nghĩa đen, hay bịnh lẫn. Có nhiều nguyên nhân cho dementia. Bịnh Alzheimer là nguyên nhân của phần lớn người mắc dementia. Một số nguyên nhân dementia chữa được, chưa có thuốc thay đổi được bịnh Alzheimer (disease-modifying drugs), chỉ có những thuốc giúp giảm triệu chứng thôi (symptomatic treatment).
Các Telomere* đóng một vai trò thiết yếu trong việc xác định số lần một tế bào có thể phân chia. Telomere là 1 đoạn DNA có trình tự (TTAGGG) lặp lại nhiều lần ở đầu mỗi nhiễm sắc thể, có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ phân tử DNA khỏi các tác động gây hại và sự mất ổn định của hệ genome. Trong chu trình của một tế bào bình thường, quá trình phân bào sẽ khiến cho một phần của telomere bị mất đi. Khi độ dài của telomere đạt tới mức giới hạn thì tế bào sẽ tự chết theo chương trình (apotosis**). Do vậy, độ dài của telomere có thể coi như chiếc đồng hồ sinh học để xác định “tuổi thọ” của tế bào và các cơ quan.
Mùa đông đang đến rất nhanh và thời tiết lạnh hơn, điều quan trọng hơn bao giờ hết là quý vị phải tiêm vắc-xin và liều tăng cường chống lại COVID-19 cho bản thân và gia đình. Đối với những người từ 65 tuổi trở lên, việc tiêm liều tăng cường COVID-19 loại cập nhật là cực kỳ quan trọng vì nguy cơ mắc bệnh nặng do COVID-19 tăng lên theo tuổi tác.
Việc các bác sĩ có thể nhìn xuyên thấu bên trong cơ thể bệnh nhân mà không cần phải rạch một đường nào từng là một khái niệm thần kỳ. Cho đến nay, hình ảnh y tế (medical imaging) trong khoa quang tuyến đã trải qua một chặng đường dài, và các kỹ thuật mới nhất dựa vào trí tuệ nhân tạo (AI) sẽ còn tiến xa hơn nữa: chúng khai thác khả năng tính toán khổng lồ của AI và khả năng học hỏi vô giới hạn để tận dụng triệt để các phương pháp dò chụp trên cơ thể, tìm ra những điều khác thường mà mắt người có thể bỏ sót.
Hội đồng Nobel tại Viện Karolinska ngày 3/10/22 đã quyết định trao Giải Nobel Sinh lý học hoặc Y học năm 2022 cho Svante Pääbo vì những khám phá của ông liên quan đến bộ gen của những hominin (cũng thuộc giống người, tương tự như “người khôn” [homo sapiens] chúng ta hiện nay) đã tuyệt chủng và sự tiến hóa của loài người. Svante Pääbo sinh ngày 20 tháng 4 năm 1955 tại Stockholm, Thụy Điển. Mẹ của ông là nhà hóa học người Estonia Karin Pääbo (1925–2013), từng trốn thoát khỏi Estonia bị Liên Xô xâm lược vào năm 1944 và đến Thụy Điển tị nạn trong Thế chiến thứ hai. Ông là con ngoại hôn của nhà hóa sinh người Thụy Điển Sune Bergström (1916-2004), và cha ông cũng từng được giải Nobel về Sinh lý học hoặc Y học (năm 1982).
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.