EagleBrand-Vietbao-1230x152-12042022-viet

Câu Chuyện Y Học: Cân Lượng Phụ Nữ Lên Xuống Khi Có Thai

06/10/200700:00:00(Xem: 2708)

Khi đàn bà có bầu mà lên cân vừa phải thì có lợi cho bào thai. Nếu lên cân quá ít thì thai nhi sẽ bị nhỏ con hơn bình thường mà nếu lên cân quá nhiều thì thai nhi có thể bị những nguy cơ nguy hiểm cho sức khỏe như bệnh tiểu đường, cao huyết áp hay bị bệnh căng dãn tĩnh mạch. Hai chuyên gia Jennifer Walsh và Deirdre Murphy vừa tóm tắt 2 nghiên cứu khi phụ nữ có bầu thay đổi cân lượng. Bài đăng trong báo British Medical Journal tháng 8, 2007. Nghiên cứu thứ nhất tại Thụy Điển bao gồm 207,534 phụ nữ trong thơì gian có bầu lần thứ nhất hay lần thứ hai.

Kết quả cho thấy khi phụ nữ có bầu nếu tăng cao chỉ số trọng khối cơ thể (Body Mass Index, BMI) từ 1 tơí 2 đơn vị, thì tăng cao tỉ số tiền kinh giật (pre-eclampsia), phụ nữ có tăng cao nguy cơ tiểu đường, tăng cao nguy cơ cao huyết áp và thai nhi bị cân lượng cao. Khi phụ nữ có bầu cân lượng tăng cao hơn, tới 3 đơn vị chỉ số trọng khối cơ thể, thì sẽ tăng cao nguy cơ thai nhi tử vong (stillbirths). Trong nghiên cứu thứ hai cho thấy khi phụ nữ có bầu mất cân, chỉ số trọng khối cơ thể xuống thấp dưới 5 hay thấp hơn sẽ đẻ non nhiều hơn (80%) so vơí phụ nữ lên cân vừa phải hay bình thường (20%).Theo các tác giả thì phụ nữ có bầu nên giữ cơ thể tăng vừa phải trước khi có bầu, trong khi có bầu và sau khi sanh xong.

Trong một nghiên cứu khác cho biết trường hợp bình thường, phụ nữ chỉ nên tăng khoảng 25-35 cân Anh (lbs) trong 9 tháng mang thai. Tức là thêm khoảng 300 calories mỗi ngày cho cơ thể (thí dụ uống một ly sữa skim milk mỗi ngày). Phần lớn phụ nữ có bầu tăng cao cân lượng từ 4 tới 6 lbs trong 3 tháng đầu có thai, rồi trung bình 1 lb mỗi tuần trong tam cá nguyệt thứ 2 và tam cá nguyệt thứ 3. Nếu xuống cân thì thai nhi sinh ra sẽ bị nhỏ con. Vậy phụ nữ có bầu nên giữ khoảng 28-40 lbs trong thơì kỳ có bầu và nên giữ cân lượng tăng khoảng 1 lb mỗi tuần trong tam cá nguyệt thứ 2 và thứ 3. Nếu bắt đầu có bầu mà tăng cao cân lượng thì phải giữ cân lượng tăng mỗi lb trong 2 tuần lễ trong tam cá nguyệt thứ 2 và thứ 3.

Tóm lại khi phụ nữ có thai, lên cân hay xuống cân nhiều quá đều nguy hiểm cho bào thai. Phụ nữ có bầu nên theo sát gặp bác sĩ sản phụ khoa của mình thường xuyên theo đúng lịch trình thăm thai. Nên bàn luận với bác sĩ sản phụ khoa những điều cần biết và tránh lên hay xuống cân lượng quá lố trong suốt thơì gian 9 tháng mang thai. Lên cân vừa phải còn giúp phụ nữ có bầu giảm nguy cơ: bệnh trĩ, căng tĩnh mạch, những vết da căng, đau lưng, mệt mỏi, ăn khó tiêu, và thở khó. Tham khảo:

1) British Medical Journal, August, 2007.

2) http: //marchodimes.com/pnhec /159.

3) American Pregnancy Association, http://www.americanpregnancy.org/pregnancyhealth/eatingfortwo.html

Biểu Hiện Gene Trong Cơn Shock Nhiễm Trùng Máu

Bs Hector Wong, giáo sư y khoa Nhi Đồng tại Đại Học Cincinnati nghiên cứu biểu hiện gene cho trẻ em khi bị cơn shock do nhiễm trùng vào máu.

Phân tích mẫu máu 57 trẻ em khi bị nhiễm trùng máu có 63 biểu hiện gene khác nhau. Trong đó có 2 loại metallothionein. Khi mức metallothionein tăng cao và mức kẽm xuống thấp sẽ tăng cao nguy cơ tử vong.  Chuyên gia dùng kỹ thuật "micro-array" bằng những con chips phân tích mẫu máu lấy từ 15 bệnh nhân không bị cơn shock, so vơí 42 bệnh nhân lên cơn shock vì  nhiễm trùng máu. Trong số 42 bệnh nhân bị shock do nhiễm trùng vào máu có 9 trẻ em bị tử vong. Các chuyên gia hiện đang nghiên cứu mức kẽm tìm hiểu thêm nguyên nhân vì sao thấp mức kẽm trong cơ thể liên hệ nguy cơ tử vong trong trường hợp trẻ bị shock do nhiễm trùng vào máu.

Trong một nghiên cứu khác do Ts Shu Fang Liu thuộc Trung Tâm The Feistein Institute đăng một loạt bài tại nhiều báo y khoa đặt trọng tâm tìm hiểu phân tử Lipopolysaccharide (LPS) một biểu hiện gene gây "tiền viêm, pro-inflammatory" và thương tích cho nhiều bộ phận trong cơ thể. LPS là một độc tố vi trùng, giúp nghiên cứu tìm hiểu sinh bệnh lý hiện tượng shock do nhiễm trùng máu. Gs Louise C. Showe thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu The Wistar cũng đã dùng kỹ thuật DNA micro-array tìm hiểu những biểu hiện gene trong bệnh lý, trong đó gồm tế bào ung thư máu lymphoma, bệnh xơ cứng, bệnh mập phì, và đặc biệt hội chứng shock do nhiễm vi trùng vào máu.

Các chuyên gia tại Wistar đã thử nghiệm chất LPS vào chuột bình thường, không bệnh tật, và thấy phân tử LPS đã thay đổi biểu hiện gene. Khi chuột được chích BCG  (thuốc chủng vi trùng lao bị làm yếu đi) 3 tuần lễ trước khi chích một liều nhỏ LPS thì thấy phát hiện viêm và gây shock nhiễm trùng vào máu và chuột bị tử vong.  Nghiên cứu biểu hiện gene liên hệ hội chứng shock do nhiễm vi trùng vào máu là một đề tài khảo cứu hấp dẫn. Tham khảo: 1) Hector Wong et al., Physiological Genomics, July 2007. 2) SF Liu et al., Circulation, 100: 1330, 1999.  3) LC Showe et al., NYAS, 795: 413, 1996.

Bs Trần Mạnh Ngô, M.D., Ph.D.; Xin mời ghé thăm Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com,  Một Trang Web Y Khoa của Người Việt viết cho người Việt.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Twitter đã không còn thực thi chính sách cấm thông tin sai lệch về COVID-19. Quyết định được đăng âm thầm trong phần quy định trên trang web công ty, được để là có hiệu lực từ ngày 23 tháng 11 năm 2022. Điều này đã khiến các chuyên gia nghiên cứu và sức khỏe cộng đồng lo ngại về những hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra.
Để đề phòng các bệnh về đường hô hấp trong mùa đông, một số người đã “tăng cường” hệ thống miễn dịch của mình bằng các thực/dược phẩm bổ sung và thức ăn giàu chất dinh dưỡng. Một số người còn kết hợp với các biện pháp như giữ khoảng cách xã hội, đeo khẩu trang, tiêm phòng cúm và COVID-19, giúp giảm nguy cơ bị nhiễm bệnh hoặc phát bệnh nặng; đối với một số khác, họ chỉ dựa vào các thực/dược phẩm bổ sung.
Nghiên cứu từ những năm 1950 và 1960 cho thấy các loại nấm gây bệnh chỉ sinh sống ở một số vùng nhất định tại Hoa Kỳ. Nhưng hiện nay, các khoa học gia tin rằng các loại nấm này đang lan rộng và gây nhiễm trùng phổi nghiêm trọng trên toàn quốc. Nghiên cứu mới được công bố trong tháng 11 trên tạp chí Clinical Infectious Diseases chỉ ra rằng, các bác sĩ đang dựa vào các bản đồ đã lỗi thời về nấm gây bệnh và họ có thể bỏ sót các triệu chứng của nhiễm trùng phổi nghiêm trọng do nấm gây ra.
Theo nghiên cứu “The neurons that restore walking after paralysis” (Tế bào thần kinh phục hồi khả năng đi lại sau khi bị liệt) được công bố trên tạp chí Nature trong tháng 11 năm 2022, chín người bị liệt do chấn thương tủy sống nghiêm trọng đã lấy lại được khả năng đi lại nhờ sự kết hợp của kích thích điện từ cột sống dưới và vật lý trị liệu.
Cặp song sinh một trai một gái, tên là Lydia và Timothy Ridgeway, có thể đã phá vỡ kỷ lục phôi thai đông lạnh lâu nhất từng sinh ra. Người giữ kỷ lục trước đó là Molly Everette Gibson, sinh ra từ một phôi thai đã được đông lạnh trong khoảng 27 năm. Mẹ của cô, Tina Gibson, người cấy phôi thai vào cơ thể mình và sinh ra cô mới được 1 tuổi khi phôi thai đó được đông lạnh.
Vì Vi-rút Hợp Bào Đường Hô Hấp (RSV), bệnh cúm, và COVID-19 tiếp tục ảnh hưởng đến người dân California sớm hơn thường lệ trong năm nay, nên Nhà Dịch Tễ Học của tiểu bang, cũng chính là bác sĩ Erica Pan, kêu gọi mọi người trên toàn tiểu bang bảo vệ bản thân và gia đình của họ trước nhiều loại vi-rút đang hoành hoành.
Cơ Quan Kiểm Soát Thực Dược Phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã chuẩn thuận loại thuốc điều trị đầu tiên có khả năng trì hoãn – có thể trong nhiều năm – sự khởi phát của bệnh tiểu đường Loại 1, một căn bệnh thường xuất hiện ở thanh thiếu niên.
Nước Mỹ có vấn đề về uống rượu. Theo nghiên cứu mới của Trung tâm Kiểm soát và Phòng Ngừa Dịch Bệnh (CDC), việc tiêu thụ rượu quá mức đã góp phần gây ra ước tính một phần tám số ca tử vong, hay12.9 phần trăm trên tổng số người Mỹ từ 20 đến 64 tuổi. Uống quá nhiều rượu cũng là nguyên nhân gây ra 1/5 số ca tử vong - 20,3% - ở người Mỹ từ 20 đến 49 tuổi, theo nghiên cứu được công bố vào tuần trước trên tạp chí JAMA Network Open.
Vắn tắt, người càng lớn tuổi, số lượng tế bào thần kinh giảm và khả năng về tâm trí sẽ giảm đi. Một số triệu chứng nhẹ như hay quên, hay lẫn lộn có thể chấp nhận như là sự lão hoá bình thường. Khi các triệu chứng này gia tăng, tiến triển đến mức ảnh hưởng đến cuộc sống thường nhật, lúc đó người ta dùng từ "dementia" hay "mất trí" theo nghĩa đen, hay bịnh lẫn. Có nhiều nguyên nhân cho dementia. Bịnh Alzheimer là nguyên nhân của phần lớn người mắc dementia. Một số nguyên nhân dementia chữa được, chưa có thuốc thay đổi được bịnh Alzheimer (disease-modifying drugs), chỉ có những thuốc giúp giảm triệu chứng thôi (symptomatic treatment).
Các Telomere* đóng một vai trò thiết yếu trong việc xác định số lần một tế bào có thể phân chia. Telomere là 1 đoạn DNA có trình tự (TTAGGG) lặp lại nhiều lần ở đầu mỗi nhiễm sắc thể, có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ phân tử DNA khỏi các tác động gây hại và sự mất ổn định của hệ genome. Trong chu trình của một tế bào bình thường, quá trình phân bào sẽ khiến cho một phần của telomere bị mất đi. Khi độ dài của telomere đạt tới mức giới hạn thì tế bào sẽ tự chết theo chương trình (apotosis**). Do vậy, độ dài của telomere có thể coi như chiếc đồng hồ sinh học để xác định “tuổi thọ” của tế bào và các cơ quan.