Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
EagleBrand-Vietbao-1230x152-12042022-viet

Một Trường Hợp Bệnh Tiểu Đường

11/09/201000:00:00(Xem: 12576)

Một Trường Hợp Bệnh Tiểu Đường
Bác sĩ Trần Mạnh Ngô
Bệnh nhân là một phụ nữ 75 tuổi bị tiểu đường từ 10 năm nay. Kiểm soát tiểu đường khả quan. Bệnh nhân tự đo đường trong máu mỗi ngày, từ 100 mg/dl tơí 160 mg/dl. Thử A1C gần nhất tuần lễ trước đây là 6.2%. Bệnh nhân ăn uống kiêng cữ đường chất ngọt cẩn thận. Mỗi ngày bệnh nhân đi bộ 30 phút. Cân lượng không thay đổi.
Những biến chứng tiểu đường: Thử nghiệm nước tiểu trong vòng 24 giờ, Microalbumin 3.0. Thử mắt chớm bị bệnh võng mạc (retinopathy). Cườm khô. Bị bệnh thần kinh ngoại biên (peripheral neurophathy) nhẹ. Không có tiểu sử bệnh lý bệnh động mạch vành tim. Không có tiểu sử tai biến mạch máu não.
Bệnh nhân đang uống thuốc Prandin 2mg ngày một viên, Lipitor 10mg ngày một viên. Bệnh nhân tự động bỏ Actos 30 mg ngày một viên.
Không có tiểu sử dị ứng. Về tiểu sử bệnh lý quá khứ: Bệnh nhân có bướu cổ, cao mỡ trong máu (hyperlipidemia). Chưa bao giờ bị mổ xẻ trước đây. Gia đình không có ai bị tiểu đường, không ai bị bệnh động mạch vành tim, bệnh tuyến giáp trạng, hay ung thư giáp trạng.
Xem xét lại những cơ quan khác trong cơ thể:
Bệnh nhân cho biết cân lượng không thay đổi, không bị chứng ăn cơm mất ngon. Từ chối mệt mỏi. Từ chối không bị nóng sốt, không ra mồ hôi hay người bị rung chân tay. Từ chối mất ngủ hay cơ thể bứt rứt. Từ chối bị đường xuống thấp. Bệnh nhân chịu đựng được nhiệt độ bên ngoài khi thay đổi nóng hay lạnh. Không bị khát nước, không thấy nuốt khó.
Da: Không bị da ngứa, nổi mẩn. Không bị lở loét da, đau da. Bệnh nhân dễ bị bầm da, không bị dễ chảy máu.
Đầu: Từ chối không bị chứng nhức đầu, không có tiểu sử bị bất tỉnh hay lên cơn kinh phong. Không bị chấn thương trước đây.
Hô hấp: Không bị ho, không ho ra đờm, không ho ra máu.
Tim mạch: Thỉnh thoảng thấy tức ngực. Tim không hồi hộp. Không bị tim đập có tiếng thổi (heart murmurs).
Bộ phận tiêu hoá: Từ chối không bị nuốt khó, không nóng sau lồng ngực (heartburn), không ói mửa, hay ói ra máu. Không bị đau bụng. Không bị viêm gan, không có tiểu sử vàng da. Không đi cầu ra máu. Không bị tiêu chẩy hay táo bón.
Đường tiểu: Không bị đi tiểu nhiều. Không tiểu ra máu. Từ chối không bị tiểu đêm hay tiểu són. Không bị sạn thận.
Xương và bắp thịt: Không bị đau khớp xương, không bị sưng khớp xương, không đau lưng. Không đau bắp chân, không bị chuột rút.
Hệ thống thần kinh: Không có tiểu sử tai biến mạch máu não hay kinh phong. Không bị yếu cử động chân tay, không bị teo bắp thịt. Không bị rung chân tay, không bị tê chân tay. Không thấy đau đớn chỗ nào, không bị dị cảm (paresthesia). Không bị mất trí nhớ hay nói năng lắp bắp.
Khám bệnh tổng quát cho thấy bệnh nhân là một phụ nữ 75 tuổi, không ở trong tình trạng khẩn cấp, cân nặng 116 lbs, chiều cao 5’. Nhiệt độ cơ thể 97.7, Mạch 72, Nhịp thở 14, Huyết áp 100/60, Đường 127 mg/dl. Tai Mắt Mũi Họng: bình thường, củng mắt không bị vàng. Khám cổ thấy tuyến giáp trạng lớn khoảng 45 gm. Thùy trái giáp trạng lớn hơn thùy phải. Không có tiếng thổi (murmur) khi dùng ống nghe. Phổi: Nghe 2 bên phổi không thấy gì (clear). Khám tim thấy S1 và S2 bình thường. Không có S3 và S4. Không có tiếng thổi. Khám bụng thấy mềm, rờ bụng không kêu đau, không cứng. Gan và lá lách không lớn. Khám thần kinh không thấy liệt (no-focal examination).
Thử máu phòng thí nghiệm trong gần 2 năm nay cho kết quả khoảng 3-4 tháng thử theo dõi một lần: Calcium: bình thường, BUN bình thường, Creatinine: bình thường. Đường 136, 107, 91, 15, 100; Chloride bình thường; Potassium bình thường; CO2 bình thường; Total Alk Phos. bình thường; SGOT bình thường; SGPT bình thường; Total bilirubin bình thường; Direct bilirubin bình thường; Total protein bình thường; Albumin bình thường; Globulin bình thường; A/G ratio bình thường; GhbA1C: 6.9, 6.5, 8.0, 7.5, 6.2; Đường trong máu: 182, 166, 126; Cholesterol: 151, 143, 192, 190; Triglycerides: 136, 145, 151, 78; HDL: 34, 28, 36; LDL: 90, 86, 132, 138, ; VLDL 27.2, 29.0, 30.2, 15.6; Chol/HDL: 4.44, 5.11, 6.4, 5.28; Highly sensitive TSH: 0.97, 0.84.


Đo độ phóng xạ của i-ốt hấp thu vào tuyến giáp trạng (thyroid uptake) và Chụp hình giáp trạng (thyroid scan) thấy kích thước tuyến giáp trạng ở trên mức bình thường, hình phóng xạ không đồng đều, và độ phóng xạ thấp. Khoảng giữa tuyến giáp trạng thùy bên phải có vùng phóng xạ tăng cao, mô bình thường. Không thấy vùng hạt phóng xạ thấp. Không thấy tăng độ phóng xạ phần ngoài tuyến giáp trạng hay thùy tháp (pyradimal) giáp trạng. Kết luận: Tình trạng hoạt động giáp trạng thấp, tuyến giáp trạng hơi lớn, bướu giáp (goiter) dạng keo (colloid) thoái hoá (degenerative) hay tình trạng đã từng bị viêm giáp trạng trước đây.
Siêu âm giáp trạng thấy: Thùy bên phải giáp trạng đo: 8.1x3.0x3.4 cm và thùy bên trái giáp trạng đo 8.4x3.0x4.2 cm, không thay đổi kích thước so vơí hình siêu âm giáp trạng cũ. Thùy bên phải có cục bướu nang đo 1.4x1.5x1.6 cm, kích thước không thay đổi so với siêu âm trước đây. Phía đỉnh thuỳ giáp trạng phải còn thêm một cục bướu nhỏ đo 0.8cm, không thay đổi kích thước so vơí hình chụp trước đây. Kết quả cho thấy: bệnh nhân có cục bướu giáp trạng, cục lớn nhất 1.5 cm ở phần giữa thùy giáp trạng bên phải, nhỏ hơn 2 cm so vơí hình siêu âm trước đây. Những cục bướu khác và nang giáp trạng không thay đổi so vơí hình siêu âm giáp trạng trước đây.
Kết luận:
1) Bệnh nhân bị bệnh tiểu đường loại 2 (Diabetes mellitus). HbA1C hạ thấp từ 7.5 xuống 6.2, sau khi cho th êm Actos.
2) Cao mỡ trong máu (Hyperlipidemia). Bệnh nhân uống Lipitor. LDL hãy còn cao.
3) Bệnh võng mạc nhẹ (Non-proliferative retinopathy). Cườm khô (cataract). Viêm thần kinh ngoại biên (peripheral neuropathy) nhẹ.
4) Bướu giáp trạng hoạt động bình thường. Bệnh nhân noí đã bị bệnh bướu giáp trạng không thay đổi kích thước 15-20 năm qua. Theo dõi cục bướu lớn nhất thùy bên phải 1.5 cm đã nhỏ hơn trước đây. Bệnh nhân từ chối làm sinh thiết. Hẹn làm siêu âm giáp trạng lại 6 tháng sau.
Bệnh nhân tiếp tục uống Prandin 2 mg mỗi ngày và Actos 30 mg mỗi ngày.
Tăng cao liều Lipitor lên 20 mg mỗi ngày.
Bệnh nhân trở lại 3 tháng sau thử nghiệm máu.
Khám mắt 3 tháng sau.
Để ý biến chứng tiểu đường như bệnh mắt: cườm khô do tiểu đường (diabetic cataracts), bệnh võng mạc do tiểu đường (diabetic retinopathy), cườm nước mắt (glaucoma). Bệnh thận do tiểu đường (diabetic nephropathy): bạch đản trong nước tiểu (microalbuminuria), diễn biến bệnh thận do tiểu đường (progressive diabetic nephropathy). Bệnh thần kinh do tiểu đường (diabetic neuropathy): bệnh thần kinh ngoại biên (peripheral neuropathy), bệnh thần kinh tự trị (autonomic neuropathy). Biến chứng bệnh tim mạch: bệnh tim như suy tim (congestive cardiomyopathies), xơ cứng động mạch vành tim (coronary atherosclerosis), nhồi máu cơ tim (myocardial infaction). Nguy cơ bệnh tiểu đường loại 2 tăng cao là do hỗn hợp: đường cao trong máu, mỡ cao trong máu, hiện tượng tiểu cầu bất thường dính vào nhau (platelet adhesiveness), những yếu tố đông máu, cao huyết áp, hiện tượng oxýt hoá (oxidative stress), và hiện tượng viêm. Ngoài ra còn thêm biến chứng bệnh ngoài da như nhiễm trùng da làm mủ, vết nâu ngoài da, nhiễm nấm… Những trường hợp đặc biệt như giữ mức đường trong máu không cao khi bệnh nhân nằm bệnh viện, dùng insulin khi giải phẫu bệnh nhân trong bệnh viện, và coi sóc bệnh nhân tiểu đường khi có thai.
Bác sĩ Trần mạnh Ngô, Xin mời ghé thăm Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com, Một Trang Web Y Khoa của người Việt viết cho người Việt.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Cơ Quan Kiểm Soát Thực Dược Phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã chuẩn thuận loại thuốc điều trị đầu tiên có khả năng trì hoãn – có thể trong nhiều năm – sự khởi phát của bệnh tiểu đường Loại 1, một căn bệnh thường xuất hiện ở thanh thiếu niên.
Nước Mỹ có vấn đề về uống rượu. Theo nghiên cứu mới của Trung tâm Kiểm soát và Phòng Ngừa Dịch Bệnh (CDC), việc tiêu thụ rượu quá mức đã góp phần gây ra ước tính một phần tám số ca tử vong, hay12.9 phần trăm trên tổng số người Mỹ từ 20 đến 64 tuổi. Uống quá nhiều rượu cũng là nguyên nhân gây ra 1/5 số ca tử vong - 20,3% - ở người Mỹ từ 20 đến 49 tuổi, theo nghiên cứu được công bố vào tuần trước trên tạp chí JAMA Network Open.
Vắn tắt, người càng lớn tuổi, số lượng tế bào thần kinh giảm và khả năng về tâm trí sẽ giảm đi. Một số triệu chứng nhẹ như hay quên, hay lẫn lộn có thể chấp nhận như là sự lão hoá bình thường. Khi các triệu chứng này gia tăng, tiến triển đến mức ảnh hưởng đến cuộc sống thường nhật, lúc đó người ta dùng từ "dementia" hay "mất trí" theo nghĩa đen, hay bịnh lẫn. Có nhiều nguyên nhân cho dementia. Bịnh Alzheimer là nguyên nhân của phần lớn người mắc dementia. Một số nguyên nhân dementia chữa được, chưa có thuốc thay đổi được bịnh Alzheimer (disease-modifying drugs), chỉ có những thuốc giúp giảm triệu chứng thôi (symptomatic treatment).
Các Telomere* đóng một vai trò thiết yếu trong việc xác định số lần một tế bào có thể phân chia. Telomere là 1 đoạn DNA có trình tự (TTAGGG) lặp lại nhiều lần ở đầu mỗi nhiễm sắc thể, có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ phân tử DNA khỏi các tác động gây hại và sự mất ổn định của hệ genome. Trong chu trình của một tế bào bình thường, quá trình phân bào sẽ khiến cho một phần của telomere bị mất đi. Khi độ dài của telomere đạt tới mức giới hạn thì tế bào sẽ tự chết theo chương trình (apotosis**). Do vậy, độ dài của telomere có thể coi như chiếc đồng hồ sinh học để xác định “tuổi thọ” của tế bào và các cơ quan.
Mùa đông đang đến rất nhanh và thời tiết lạnh hơn, điều quan trọng hơn bao giờ hết là quý vị phải tiêm vắc-xin và liều tăng cường chống lại COVID-19 cho bản thân và gia đình. Đối với những người từ 65 tuổi trở lên, việc tiêm liều tăng cường COVID-19 loại cập nhật là cực kỳ quan trọng vì nguy cơ mắc bệnh nặng do COVID-19 tăng lên theo tuổi tác.
Việc các bác sĩ có thể nhìn xuyên thấu bên trong cơ thể bệnh nhân mà không cần phải rạch một đường nào từng là một khái niệm thần kỳ. Cho đến nay, hình ảnh y tế (medical imaging) trong khoa quang tuyến đã trải qua một chặng đường dài, và các kỹ thuật mới nhất dựa vào trí tuệ nhân tạo (AI) sẽ còn tiến xa hơn nữa: chúng khai thác khả năng tính toán khổng lồ của AI và khả năng học hỏi vô giới hạn để tận dụng triệt để các phương pháp dò chụp trên cơ thể, tìm ra những điều khác thường mà mắt người có thể bỏ sót.
Hội đồng Nobel tại Viện Karolinska ngày 3/10/22 đã quyết định trao Giải Nobel Sinh lý học hoặc Y học năm 2022 cho Svante Pääbo vì những khám phá của ông liên quan đến bộ gen của những hominin (cũng thuộc giống người, tương tự như “người khôn” [homo sapiens] chúng ta hiện nay) đã tuyệt chủng và sự tiến hóa của loài người. Svante Pääbo sinh ngày 20 tháng 4 năm 1955 tại Stockholm, Thụy Điển. Mẹ của ông là nhà hóa học người Estonia Karin Pääbo (1925–2013), từng trốn thoát khỏi Estonia bị Liên Xô xâm lược vào năm 1944 và đến Thụy Điển tị nạn trong Thế chiến thứ hai. Ông là con ngoại hôn của nhà hóa sinh người Thụy Điển Sune Bergström (1916-2004), và cha ông cũng từng được giải Nobel về Sinh lý học hoặc Y học (năm 1982).
Tại văn phòng VM Clinic tọa lạc số 8251 Westminster Blvd, Westminster CA 92683 (phòng mạch BS. Chính mai và BS. Thảo Võ.), vào lúc 8 giờ sáng Chủ Nhật ngày 30 tháng 10 năm 2022, VM CLINIC COMMUNITY WALK 2022 đã tổ chức chương trình đi bộ “Sức Khỏe Cho Cả Nhà.” Chương trình đi bộ còn có sự hợp tác của một số các đơn vị y tế như Hội Ung Thư Việt Mỹ, OC Autism Foundation, Lavina Pharmacy, Excel Rehab and Wellness, SJVRC (San Jose Vietnamese Running Club), Regal Medical Group, ADOC, Lakeside, Physical Therapy, Hội Bảo Vệ Sức Khỏe Tâm Thần, v.v…
Phát hiện ung thư từ sớm, trước khi nó di căn, có thể là vấn đề sống còn. Đây là lý do tại sao các bác sĩ khuyên chúng ta nên thường xuyên truy tầm một số loại ung thư phổ biến bằng nhiều phương pháp khác nhau. Ví dụ: nội soi đại tràng để tầm soát ung thư ruột kết, hay chụp nhũ ảnh để truy tầm ung thư vú. Dù quan trọng, nhưng cũng khó để có thể làm tất cả các xét nghiệm, bởi vì chúng tốn kém và đôi khi còn khiến bệnh nhân khó chịu. Nhưng mọi chuyện sẽ khác nếu có một xét nghiệm máu duy nhất có thể truy tầm được hầu hết các loại ung thư phổ biến cùng lúc. Đây là tương lai đầy hứa hẹn của các xét nghiệm phát hiện sớm đa ung thư (multicancer early detection tests – MCED). Năm nay, Tổng thống Joe Biden đã xác định việc phát triển các xét nghiệm MCED là một ưu tiên của Cancer Moonshot, nỗ lực liên bang trị giá 1.8 tỷ đô la nhằm giảm tỷ lệ tử vong do ung thư và cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau ung thư cũng như đang sống chung với b
Ngày 14 tháng 9, 2022, Tổng Giám đốc WHO, Tedros Adhanom Ghebreyesus tuyên bố thế giới chưa bao giờ ở trong tình trạng tốt hơn để chấm dứt đại dịch COVID-19 và kêu gọi các quốc gia tiếp tục nỗ lực chống lại loại virus đã giết chết hơn sáu triệu người. Tuy nhiên, ông nói: “Chúng ta vẫn chưa đến đó”. Đây được xem là nhận xét lạc quan nhất từ cơ quan Liên Hiệp Quốc kể từ khi WHO tuyên bố COVID-19 là tình trạng khẩn cấp quốc tế và gọi virus này là đại dịch vào tháng 3 năm 2020 (VOA).
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.