Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Hy Vọng & Thực Tế Tan Hoang – Tác Giả Nguyễn Xuân Phong (dịch Giả Phan Quân)

24/01/201000:00:00(Xem: 2875)

Hy vọng & Thực tế Tan Hoang – Tác giả Nguyễn Xuân Phong (Dịch giả Phan Quân)

LGT: Từ năm 1965 đến 1975, ông Nguyễn Xuân Phong đã giữ nhiều chức vụ quan trọng trong chính phủ VNCH và biết nhiều bí mật dẫn đến việc mất Miền Nam. Trong thời gian hòa đàm Ba Lê về Việt Nam, từ địa vị thành viên phái đoàn lúc ban đầu, ông đã trở thành Trưởng Phái Đoàn vào giai đoạn cuối cùng, với chức vụ Quốc Vụ Khanh đặc trách hòa đàm trong chính phủ. Đặc biệt, ông cũng là nhân vật quan trọng trong Hội Nghị Thượng Đỉnh của nguyên thủ 7 quốc gia Châu Á Thái Bình Dương tại Manila vào 2 ngày 24 & 25 tháng 10, 1966, nhằm thẩm định về cuộc chiến ở Nam Việt Nam với sự tham dự của Tổng thống Phi Luật Tân, Ferdinand E. Marcos; Tổng thống Đại Hàn, Park Chung Hee; Tổng thống Hoa Kỳ, Lyndon B. Johnson; Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo VNCH, Nguyễn Văn Thiệu; Thủ tướng Úc Châu, Harold Holt; Thủ tướng Tân Tây Lan, Keith Holyoake; Thủ tướng Thái Lan, Thanom Kittikachorn; và Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương VNCH, Nguyễn Cao Kỳ. Tại Hội Nghị, ông là người Việt Nam duy nhất được trực tiếp nghe trưởng phái đoàn Nam Hàn cho biết: Tổng thống Nam Hàn đã cảnh giác, [qua kinh nghiệm cuộc chiến tranh Cao Ly] nếu như hòa đàm [với VC] có xảy ra, chính phủ Sài Gòn sẽ thấy Mỹ thương thuyết thẳng với phía bên kia [VC], còn Sài Gòn chẳng nói năng gì được trong khi thương thuyết, và cuối cùng sẽ phải chấp nhận và tuân hành những gì Mỹ và VC ký kết. Quả nhiên, 6 năm sau, lời tiên đoán này đã trở thành sự thật tại Hội Nghị Ba Lê, dẫn đến bản Hiệp Định đầy phi lý, khi Mỹ toa rập với VC cho phép quân đội xâm lăng VC được tiếp tục hiện diện trên lãnh thổ VNCH, dẫn đến thảm kịch 30-4-75. Sau đây, Sàigòn Times trân trọng giới thiệu tiếp những sự thật ông tiết lộ trong tác phẩm  "Hope and Vanquished Reality", được ông viết theo yêu cầu của "The Center for A Science of Hope" ở New York.

*

(Tiếp theo số 649...)

Sau khi Sài Gòn sụp đổ hồi tháng Tư 1975, Hà Nội và MTGP chẳng phải chờ đợi gì lâu để biểu lộ ý muốn nhất trí của họ qua việc thống nhất hai miền Nam Bắc hồi tháng Bảy 1976 dưới quyền cai trị của chế độ cộng sản Hà Nội, sản sinh ra cái gọi là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Tại hội đàm Ba Lê hồi đầu những năm 1970, Kissinger đã nhanh chóng nhận thấy rằng ông Thiệu và ông chẳng khi nào đồng ý được với nhau.
Kissinger cố gắng hết sức mình để thông báo cho ông Thiệu những diễn tiến của các cuộc mật đàm với Lê Đức Thọ, nhưng ông sẽ không có chút hy vọng nào thành công với Hà Nội nếu như ông cho Sài Gòn biết hết mọi chi tiết éo le. Dĩ nhiên là muốn có cùng ý kiến như nhau thì ông Thiệu phải suy nghĩ như Kissinger chứ không phải Kissinger phải theo ý kiến của Thiệu. Dù sao đi nữa, làm cho ông Thiệu vui lòng là nhiệm vụ của Nixon chứ không phải của Kissinger.
Lần duy nhất Sài Gòn được trực tiếp nhúng tay vào việc soạn thảo Hiệp Định Ba Lê là vào những vòng hội đàm sau rốt hồi giữa tháng Giêng 1973. Vì những lý do mà chỉ có một mình ông hiểu, Kissinger cho ông Lâm và tôi biết một vài điều khoản của cuộc thương thuyết. Đó chỉ là một vài điều khoản tế nhị còn lại cần được soạn thảo, trong số đó có Điều 8c, liên hệ đến việc phóng thích tù chính trị thường dân bị giam giữ ở Nam Việt Nam, và Điều 15, liên hệ đến khu phi quân sự, đến việc có thể thống nhất và những mối liên hệ giữa Nam và Bắc Việt Nam. Vì những vấn đề này liên hệ đến Sài Gòn và rõ ràng là không dính líu gì đến Hoa Thịnh Đốn nên ông Lâm và tôi được mời họp với phái đoàn Hoa Kỳ và được yêu cầu phác thảo những điều khoản liên hệ, sau khi đã được trình bày tóm tắt về những phiên thảo luận gay go liên quan đến các điều khoản này giữa Kissinger và Thọ.
Trên xe trở về văn phòng, ông Lâm giao công việc này cho tôi vì tôi có mặt trong phiên họp, có bàn chuyện đầy đủ về những vấn đề liên hệ và khả năng Anh ngữ của tôi cũng đủ sức để hoàn thành công tác mà không cần đến thông dịch viên. Công việc đó cần phải làm trong vòng bí mật tối đa. Khoảng hai tiếng đồng hồ là tôi thảo xong hai bản Anh văn lẫn Việt văn. Tôi liền trao bản thảo cho ông Lâm vì Kissinger đang nôn nóng chờ, khi mà đương sự có chương trình họp lại với Thọ vào buổi tối. Tôi đề nghị ông Lâm nên báo cho Sài Gòn biết vấn đề nhưng ông trả lời ngay là làm vậy chỉ gây ra phiền phức và mất thì giờ. Ông Lâm dựa vào yếu tố rất ít thời giờ để có cớ không liên lạc với Sài Gòn. Kissinger và Thọ chấp nhận phác thảo của tôi về các Điều 8c và 15, không thay đổi dù là cái dấu hai chấm tôi đã sử dụng. Ít ra Sài Gòn cũng được điều đó. Còn tốt hơn là chẳng có gì.
Trong phiên họp kế tiếp cùng với phái đoàn chúng tôi, Kissinger vui đùa than phiền rằng tôi đã tiết lộ tin liên quan đến khu phi quân sự cho người bạn cố cựu của tôi là Joseph Kingsbury Smith, phó chủ tịch tập đoàn báo chí Hearst Group. Báo chí biết rõ rằng Kissinger và Thọ đã đến giai đoạn cuối cùng của cuộc thương thuyết và chỉ còn phải giải quyết một vài vấn đề tế nhị nữa mà thôi. Các ký giả biết thỏa hiệp sắp được thành hình nên tất cả đều muốn có tin đặc biệt và sốt dẻo. Họ rất chú tâm đến câu chuyện liên quan đến khu phi quân sự. Liệu một khu như thế có cấm ngặt được những sự di chuyển của lực lượng Bắc Việt không hay lại dễ bị xâm nhập" Chuyện đó Kissinger và Thọ không quan tâm gì mấy, nhưng trên lý thuyết, vấn đề rất quan trọng đối với nền an ninh của chính phủ Sài Gòn. Đáp lại câu hỏi của các phóng viên, kể cả Kingsbury Smith, tôi nói rằng không ai muốn có một khu phi quân sự dễ dàng bị xâm nhập. Dĩ nhiên, cái thứ khu quỷ quái đó đã bị xâm nhập hai mươi năm qua và dù dễ bị xâm nhập hay không thì lực lượng của Hà Nội cũng chỉ cần không đầy một tiếng đồng hồ là có thể triển khai được một vài sư đoàn chính quy Bắc Việt qua ngang giới tuyến như họ đã từng làm nhiều lần từ bao năm nay. Lẽ đương nhiên là, theo quan điểm chính thức của Bắc Việt, họ không khi nào danh chính ngôn thuận xác nhận đưa quân đội của họ vào Nam mà đó chỉ là những người Việt Nam anh em vào Nam để giúp đỡ bạn bè đồng hương. Thông thường thì vấn đề rất phức tạp, không phải như các nhà báo nhận thấy, nhưng lúc bấy giờ họ thích nghe câu chuyện đó.
Hoa Thịnh Đốn và Hà Nội, Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh đã thỏa thuận với nhau là sự hiện diện của quân lính Bắc Việt ở Nam Việt Nam sẽ không được đề cập đến. Họ sẽ ở lại Nam Việt Nam, thế thôi. Phải mất nhiều thời gian, nếu không muốn nói là ngớ ngẩn, mới nhận ra và phân biệt được một người Bắc với một người Nam qua dung nhan người Việt của họ. Tại một trong những phiên mật đàm, ông bộ trưởng Xuân Thủy của Hà Nội đề nghị với Kissinger nên họp riêng với một người Nam Việt Nam đích thực và chính cống là Bà Bình. Bộ trưởng Xuân Thủy, cũng là một thi sĩ Bắc Việt nổi tiếng, quả quyết rằng "ngài tiến sĩ" sẽ thấy người phụ nữ kia rất khả ái. Kissinger từ chối một cách lịch sự, nói rằng ông sợ Bà ta khiếp vía kinh hồn. Khi Xuân Thủy bảo đảm Kissinger là Bà Bình sẽ "rất mềm dịu" với ông thì ông tiến sĩ đáp rằng, theo quan điểm nghề nghiệp thì Bà ta "rất khó nhá". Nếu tôi không lầm thì mưu toan môi giới đó xảy ra vào mùa xuân thơ mộng của Ba Lê năm 1971.
Một lần nữa, ông Lâm và tôi lại có dịp vui đùa bàn ra tán vào về tình tiết câu chuyện. Vì Kissinger nổi tiếng là con người quyến rủ nên câu chuyện vui thú của chúng tôi càng thêm phần hấp dẫn. Nhưng nói cho đúng ra thì ông cựu giáo sư trường Harvard đã từng sống qua bao nhiêu ngày tươi đẹp trong cuộc đời lý thú thì Bà Bình đâu có thể là niềm hứng thú của ông, về chính trị hay vì lý do nào khác. Không khi nào ông tỏ vẻ gì ve vãn Bà Bình về chính trị.

Một thành phố tan hàng

Rời nhiệm sở Trưởng Đoàn Hòa Đàm Ba Lê của Việt Nam Cộng Hòa, tôi trở về Sài Gòn năm ngày trước khi chiến xa Bắc Việt đụng sập cánh cổng dinh tổng thống Nam Việt Nam, ngày 30 tháng 4 năm 1975. Biến cố trọng đại đó đã làm cho hàng chục triệu người Việt Nam - miền Nam cũng như miền Bắc và ở những nơi khác trên thế giới - thất vọng. Mấy tháng trước đó, tôi ngấm ngầm băn khoăn và lo sợ thì nay tôi thật sự khổ tâm và tuyệt vọng khi thấy bộ đội VC bắt đầu đi đây đi đó trên những con đường của thành phố quê tôi, từ nay được gọi là thành phố Hồ Chí Minh. Quả thật trời đất đã đảo lộn!
Sau khi rời phi cơ ở sân bay Tân Sơn Nhứt, tôi chán nản vô cùng khi nhìn thấy cảnh tượng đau lòng của hàng ngàn người tụ tập trong phi cảng và hàng loạt người nối đuôi trên đường để tìm cách bay ra khỏi xứ. Đoàn xe đưa tôi đến dinh tổng thống phải luồn lách qua những đoàn người đó. Những người cận vệ quen thuộc đón chào tôi chẳng mấy gì vui vẻ và chúng tôi hoàn toàn im lặng trong mười lăm phút trên đường vào thành phố. Đường phố Sài Gòn im ắng một cách khác thường, như tiềm tàng một dấu hiệu dự báo kinh hoàng và một bầu không khí ngột ngạt.
Vào khoảng sáu giờ chiều, khi tới dinh tổng thống, người đầu tiên mà tôi gặp là ông Đại Sứ Hoa Kỳ Graham Martin. Ông vừa họp xong với Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Trần Văn Hương, người vừa nhận chức được một tuần lễ, và cũng là người mà tôi sẽ diện kiến. Tôi đã gặp sơ qua ông Đại Sứ khi ông ghé qua Ba Lê, trên đường trở lại Sài Gòn vài ba tuần trước đó, sau khi đã xin Quốc Hội Hoa Kỳ chi viện cho chính phủ Nam Việt Nam một lần nữa mà không thành công. Sau những lời chào hỏi xã giao ngắn gọn, chúng tôi đồng ý ngay là tình hình quân sự đã hoàn toàn nguy ngập. Tôi hỏi: "Thưa ông Đại Sứ, có cách nào để tránh được một 'trận chiến Sài Gòn' không""
Bất cứ người nào khác hay là cá nhân tôi cũng không cần phải chịu đựng hậu quả của một trận đánh như vậy. Cả hai chúng tôi đều thấy rất rõ hậu quả sẽ như thế nào, tàn phá sẽ ra sao và máu sẽ đổ biết bao nhiêu nếu như có đánh nhau trên đường phố Sài Gòn. Ông Đại Sứ cũng hiểu rằng mối quan tâm cấp thiết nhứt của tôi là sự an toàn của những người thường dân vô tội.
Tôi thấy ông Đại Sứ lúng túng không biết phải trả lời ra sao, dợm mở miệng nói mấy lần nhưng không phát ra tiếng. Bằng một cử chỉ đầy tuyệt vọng, ông vẫy tay về hướng có tiếng nổ của súng cối và hỏa tiễn bên ngoài thành phố. Thế rồi ông trấn tỉnh lại, vừa bắt tay từ giả, vừa nói một cách chẫm rải và trịnh trọng: "Tổng Thống Hương phải hành động thật nhanh chóng."
Sau câu nói bí ẩn đó, chúng tôi chia tay nhau. Cung cách của ông Đại Sứ để lựa lời nói và cái vẫy tay của ông đã cho tôi cảm thấy sự bất lực - của ông cũng như của chính phủ Hoa Kỳ - còn hùng hồn hơn bất cứ lời nói nào. Tuy nhiên, việc ông bỏ lửng câu chuyện để bước đi cũng cho tôi hiểu câu nói “phải hành động thật nhanh chóng” của ông hàm ý ra sao rồi.
Vài phút sau, khi gặp Bộ Trưởng Quốc Phòng, Tướng Trần Văn Đôn, và Tham Mưu Trưởng Liên Quân, Tướng Cao Văn Viên, đang đứng ở hành lang, tôi cũng hỏi như vậy. Sau mười năm làm việc chung với nhau trong chính phủ Sài Gòn, chúng tôi là bạn bè thân thiết nên có thể nói chuyện với nhau thẳng thắng và thật tình. Hầu hết những người ở Sài Gòn, Hoa Thạnh Đốn và Ba Lê đều cho rằng hai tướng Đôn và Viên là hai người đặc biệt trong guồng máy quân sự Sài Gòn. Không những chỉ riêng biệt về tư cách sĩ quan mà còn trên bình diện của những người đáng kính, về mặt tính tình ôn hòa, liêm chính, lương thiện và về phẩm chất cá nhân trong môi trường đầy dẫy tham nhũng của địa phương.
Với hai ông này, vì không cần phải giữ ý giữ tứ như với Đại Sứ Martin nên tôi hỏi dồn dập: "Chuyện gì đã xảy ra ở bên này vậy hai anh" Tại sao mấy anh để tình hình tồi tệ nhanh chóng như thế" Tại sao mấy anh lại có thể để cho Tổng Thống Thiệu làm như vậy được" Quân Mỹ ở chiến trường chẳng lẽ tồi tệ đến thế sao" Còn Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa thì sao""... Chỉ có Tướng Viên trả lời: "Quân sĩ đã cố gắng tối đa." Còn Tướng Đôn thì chỉ nhìn ra bóng đêm đang ập tới, bao phủ Sài Gòn, khi mặt trời đã lặn, như chừng chờ mong một phép lạ nào hiện ra ở vườn hoa trong dinh Độc Lập, trong khi tôi dồn dập đưa ra những câu hỏi khó trả lời.
Thế thì, chẳng còn hy vọng gì được bao nhiêu trên bất cứ phương diện nào, ở ông Đại Sứ Hoa Kỳ hay ở các tướng lãnh của chúng tôi. Trước đó, có lẽ cả ba người này đã hy vọng ở một cái gì đó nên họ đã đến gặp và thúc hối vị Tổng Thống Hương già nua, đáng thương, gấp rút trao quyền hành tổng thống cho ông tướng 59 tuổi đời Dương Văn Minh, người mà thể xác to lớn nên mang biệt danh là “Minh Lớn”.
Thế nhưng, vào thời điểm nguy kịch đó, phải chăng tôi đang hy vọng một điều gì cho chính mình nên mới hỏi như vậy" Phải chăng tôi thật sự nghĩ rằng ông đại sứ Hoa Kỳ hay các tướng lãnh của chúng tôi có thể làm cho bất cứ những ai ở Sài Gòn đều may ra còn hy vọng được một chút gì đó vào giờ phút cuối cùng này" Cho đến hôm nay cũng khó mà nói ra một cách chính xác. Tối hôm đó, ở dinh tổng thống Nam Việt Nam, tôi lo âu nhứt không phải cho sự tồn tại của chính thể Sài Gòn mà cho dân chúng Sài Gòn, trong đó có cha mẹ già và bà con của tôi, làm thế nào khỏi bị chết chóc và giết hại qua một “trận chiến Sài Gòn” ghê gớm nhứt.
[...] Trái với cuộc đối thoại đượm màu sắc vô phương cứu chữa và tuyệt vọng giữa ông đại sứ Hoa Kỳ với tôi, tại hành lang dinh tổng thống vào buổi chiều tai hại đó, thì tôi lại có một cuộc hội kiến vô cùng cảm động và thấm thía với vị Tổng Thống Trần Văn Hương của chúng tôi, một ông tổng thống già nua, bệnh hoạn và gần như khuyết thị. Rõ ràng là ông đang cố gắng cứu vãn vài ba giây phút cuối cùng cho nghi thức và phẩm giá của một chức vụ mà ông không mưu cầu cũng chẳng mong muốn, dù ông chỉ đảm trách có một tuần lễ ngắn ngủi.
Từ chức vụ phó tổng thống của Việt Nam Cộng Hòa, ông được đưa lên ghế tổng thống khi ông Thiệu từ chức một cách giản dị đơn sơ, chín ngày trước khi Sài Gòn sụp đổ. Nhiều người lấy làm ngạc nhiên khi thấy ông Thiệu từ chức, để cho ông phó già nua, yếu đuối của mình phải gánh lấy một tình hình hỗn loạn. Nếu như không có nguy cơ phải bỏ ngỏ Nam Việt Nam cho lực lượng vũ trang Bắc Việt, đang lăm le tiến vào Sài Gòn, thì ông Trần Văn Hương may ra sẽ là con người xứng hợp ở thời điểm và vị trí đó trong lịch sử của nhân dân Việt Nam.
Thật là khó hiểu cho một con người như ông lại phải đóng một vai trò nhục nhã dường ấy.  (Còn tiếp...)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Lời dịch giả: Đây là bức tâm thư của cựu tổng thống George W. Bush gởi người dân Mỹ trong lúc cả nước đang sôi sục sau cái chết của George Floyd.
NYC với mình như căn nhà thứ hai, thế mà đã hơn một năm rồi mới lên lại. Thường thì hay lên mùa Giáng Sinh, hay Tháng Hai mùa đông để coi tuyết ở Central Park, và tháng Mười Một để coi lá vàng. Lần nầy chỉ mới tháng ba, nhưng có lý do
Xúc động với kỷ niệm. Thơ và nhạc đã nâng cảm xúc về những cái đẹp mong manh trong đời... Đêm Nhạc Người Về Như Bụi, và buổi ra mắt Tuyển Tập 39 Văn Nghệ Sĩ Tưởng Nhớ Du Tử Lê đã hoàn mãn hôm Thứ Ba 14/1/2019.
chiều rớt/xanh/ lưỡi dao, tôi khứng! chờ ... mưa tới. Hai câu cuối trong bài “chiều rớt/xanh/lưỡi dao” anh viết cuối tháng 9/2019 như một lời giã biệt. Và, cơn mưa chiều 7.10.2019 đã tới, anh thay áo mới chân bước thảnh thơi trở về quê cũ. Xin từ biệt anh: Du Tử Lê!
trong nhiều năm qua, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng ở mức hai con số, nhưng tỷ lệ quay trở lại thấp (chỉ từ 10% đến 40%) . Chi tiêu của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam không cao
Theo bảng xếp hạng chỉ số cảm nhận tham nhũng của Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế năm 2018, Việt Nam đứng hạng 117/ 180 với mức điểm 33/100. Bao giờ mà chế độ hiện hành vẫn còn tồn tại thì “nạn nhũng nhiễu lạm thu” sẽ vẫn còn được bao che và dung dưỡng khắp nơi, chứ chả riêng chi ở Bộ Ngoại Giao
Chính phủ Hoa Kỳ đã hứa tài trợ 300 triệu đô la để làm sạch môi trường bị nhiễm chất độc da cam của phi trường Biên Hòa và hôm 5 tháng 12 là bắt đầu thực hiện việc tẩy rừa tại khu vực này, theo bản tin hôm 6 tháng 12 của báo Tuổi Trẻ Online cho biết như sau.
Hơn 1.000 người có thể đã bị giết bởi lực lượng an ninh ở Iran trong các cuộc biểu tình gần đây, theo một quan chức cấp cao của bộ ngoại giao cho biết hôm Thứ Năm
Bốn người được báo cáo đã bị giết chết hôm Thứ Năm sau một vụ cảnh sát rượt đuổi qua nhiều quận đã kết thúc trong trận đấu súng trên đường Miramar Parkway theo sau một tên cướp có vũ khí tại Coral Gables, tiểu bang Florida.
Mỗi năm lên tuổi già đi, tưởng đâu đã được an nhàn, nào ngờ đảng Cộng sản Việt Nam vẫn phải tối mắt đấu tranh để tồn tại vì các chứng nan y: Suy thoái tư tưởng; Đạo đức xuống cấp; Tham nhũng; và, Lợi ích nhóm trong trong cán bộ,đảng viên.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
Người Việt Phone
Không còn nghi ngờ gì nữa, khẩu trang đã đóng một vai trò trung tâm trong các chiến lược đối đầu với dịch bệnh COVID-19 của chúng ta. Nó không chỉ giúp ngăn ngừa SARS-CoV-2 mà còn nhiều loại virus và vi khuẩn khác.
Hôm thứ Hai (06/07/2020), chính quyền Mỹ thông báo sinh viên quốc tế sẽ không được phép ở lại nếu trường chỉ tổ chức học online vào học kỳ mùa thu.
Đeo khẩu trang đã trở thành một vấn đề đặc biệt nóng bỏng ở Mỹ, nơi mà cuộc khủng hoảng Covid-19 dường như đã vượt khỏi tầm kiểm soát.
Trong khi thế giới đang đổ dồn tập trung vào những căng thẳng giữa Mỹ với Trung Quốc, thì căng thẳng tại khu vực biên giới Himalaya giữa Trung Quốc và Ấn Độ vào tháng 05/2020 đã gây ra nhiều thương vong nhất trong hơn 50 năm.
Ủy ban Tư pháp Hạ viện Mỹ cho biết các CEO của 4 tập đoàn công nghệ lớn Amazon, Apple, Facebook và Google đã đồng ý trả lời chất vấn từ các nghị sĩ Quốc hội về vấn đề cạnh tranh trong ngành công nghệ.