Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Tái Lập Quân Bình Kinh Tế

06/08/200900:00:00(Xem: 6457)

Tái Lập Quân Bình Kinh Tế

Nguyễn Xuân Nghĩa & Việt Long RFA

Việt Nam phải nghĩ xa hơn và có quyết định cải tổ từ tư duy đến cơ chế...
Tuần trước, tại hội nghị "Đối thoại về Chiến lược và Kinh tế" giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, đại diện hai nước khuyến cáo nhau rằng Trung Quốc nên lệ thuộc ít hơn vào xuất khẩu và Hoa Kỳ nên chấn chỉnh chi thu để tiết kiệm nhiều hơn. Trong bối cảnh suy thoái toàn cầu, thế giới cho là Hoa Kỳ phải chi tiêu ít hơn mà tiết kiệm nhiều hơn và các nước khác thì làm ngược lại, để khỏi bị lệ thuộc quá nhiều vào việc xuất khẩu qua Mỹ. Giới kinh tế gọi việc đó là "tái lập quân bình kinh tế toàn cầu". Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu yêu cầu đó qua phần trao đổi cùng nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa do Việt Long thực hiện...
Việt Long: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Nạn suy thoái kinh tế toàn cầu bắt đầu có dấu hiệu lắng dịu ở một số khu vực, thế nhưng nhưng rút kinh nghiệm của vụ khủng hoảng, giới kinh tế quốc tế nói đến nhu cầu tái lập quân bình kinh tế toàn cầu theo hai hướng. Hoa Kỳ cần giảm chi để tiết kiệm nhiều hơn trong khi các nước khác cần tăng chi cho thị trường nội địa chứ không thể trông chờ vào sức mua của thị trường Mỹ rồi bị hiệu ứng suy sụp khi số cầu của Mỹ sút giảm. Diễn đàn Kinh tế kỳ này sẽ tìm hiểu về chiều hướng ấy. Đầu tiên vẫn nhờ ông trình bày bối cảnh của vấn đề, trước khi nói đến tính chất khả thi của một nỗ lực cải tổ lớn lao như vậy.
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa ông, nói về bối cảnh chung, và chỉ dùng vài con số cho dễ nhớ, thì Hoa Kỳ có dân số bằng 5% dân số toàn cầu nhưng sản xuất ra chừng 25% sản lượng của thế giới và sức tiêu thụ rất mạnh của thị trường Mỹ - tương đương với 70% sản lượng - là đầu máy kinh tế đáng kể, nhất là cho các nước muốn xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ. Chiều hướng chung từ nhiều thập niên đã như vậy và có thể tóm lược bằng hình ảnh dễ nhớ là nước Mỹ cứ tiêu thụ, thậm chí đi vay để tiêu thụ, trong khi thế giới hì hục sản xuất để bán hàng cho Mỹ và thu tiền về, có khi lại cho Mỹ vay để tiếp tục tiêu thụ. Đó là nạn mất cân đối toàn cầu về chi thu.
- Khi trái bóng gia cư Mỹ bị bể năm kia và gây ra khủng hoảng tín dụng khiến tập đoàn Lehman Brothers sụp đổ năm ngoái thì cả thế giới bị chấn động. Tiêu thụ tại Hoa Kỳ sút giảm, các cơ sở vay nợ phải trả nợ và thậm chí vỡ nợ hàng loạt, các quốc gia bán hàng cho Mỹ bị vạ lây. Vụ khủng hoảng vì vậy là cơ hội cải cách để điều chỉnh nạn mất cân đối toàn cầu. Giới kinh tế gọi đó là tiến trình "tái lập quân bình" - rebalancing. Để trả lời câu hỏi của ông, thì chuyện này chưa chắc đã khả thi nếu các nước không có một ý chí cải tổ trường kỳ và bền bỉ.
Việt Long: Trước khi nhờ ông đi vào phần phân tích, xin hỏi ông là sau những biện pháp của các nước mà ông cũng từng cho là đúng hướng, thì vì sao ông có vẻ hoài nghi ý chí hay khả năng cải tổ của các nước"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa là vì các nước đang phải cùng lúc đối phó với vấn đề trước mắt là chặn đứng chu kỳ suy thoái trong khi vẫn cần cải sửa cơ chế kinh tế và chiến lược phát triển trường kỳ. Mà hai loại mục tiêu ngắn và dài hạn lại có mâu thuẫn và hậu quả trước mắt có khi lại là phản ứng bảo hộ mậu dịch để bảo vệ quyền lợi của từng nước.
- Một thí dụ mà ta có thể thấy ngay từ mấy con số vừa nói ở trên: nếu dân Mỹ chỉ chiếm 5% dân số địa cầu mà phải tiết giảm tiêu thụ cho tương xứng với bình quân của thế giới thì tiêu thụ Mỹ phải giảm 80%, là điều bất khả. Mà nếu có xảy ra thì thế giới sẽ loạn to! Người ta quen bán hàng cho Mỹ và mong dân Mỹ cứ hào phóng tiêu xài, nay lại muốn dân Mỹ phải tằn tiện hơn để khỏi tái diễn khủng hoảng. Việc điểu chỉnh ấy cần thời gian vì liên quan đến tập quán văn hóa của người dân, mà trước tiên lại gặp mâu thuẫn là khi dân Mỹ bắt đầu tiết kiệm nhiều hơn thì chính quyền lại tăng chi mạnh, cho nên kết số sau cùng là nước Mỹ vẫn mắc nợ. Ngược lại, các nước đều có thể muốn giảm bớt sự phụ thuộc vào thị trường nhập khẩu của Mỹ nhưng trước mắt thì vẫn cần xuất khẩu để ra khỏi suy thoái nên muốn giữ một tỷ giá ngoại hối thấp để bán hàng rẻ. Vì vậy họ không khuyến khích tiêu thụ nội địa để tìm ra một sức kéo thay thế thị trường Hoa Kỳ.
Việt Long: Như vậy nghĩa là câu chuyện này không đơn giản như nguyên tắc lý tưởng được đề ra. Ta có cách gì phân giải vấn đề thành từng nhóm để hiểu ra cơ sự trước khi nói đến giải pháp cho các nước không"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Nói cho gọn thì ta có loại vấn đề của khách nợ là Hoa Kỳ, và của chủ nợ là các xứ khác.
- Về Hoa Kỳ, ta có loại giải pháp ngắn hạn và dài hạn, có phản ứng của thị trường và chính sách của công quyền. Bên kia thì ta có loại vấn đề của ba khối kinh tế mạnh nhất sau Hoa Kỳ là Nhật Bản, Trung Quốc hay Đức, và của khối Đông Á, trong đó có Việt Nam, gồm các nước bán hàng cho Mỹ để kiếm tiền.
- Các nền kinh tế ấy cũng có mâu thuẫn giữa mục tiêu ngắn và dài hạn và thật ra cũng không dễ xoay trở. Trong khi đó, dù là kinh tế toàn cầu có thể đã hay đang đụng đáy thì sự phục hồi còn bấp bênh nên chưa là nền móng đủ vững cho những thay đổi lớn về chiến lược hay chính sách, vì thế nhiều quốc gia vẫn còn ngần ngại. Xứ nào nhìn ra và nhân khủng hoảng mà dám dứt khoát cải tổ thì sẽ có hy vọng phát triển bình hòa hơn trong tương lai...
Việt Long: Bây giờ thì ta hãy nói về Hoa Kỳ, vì đó là đầu tàu kinh tế và đóng góp tới 60% vào đà tăng trưởng của kinh tế thế giới như ông thường trình bày trước đây. Nước Mỹ có thấy ra vấn đề ấy chưa và có khả năng hay ý chí thực hiện những gì để phần nào chấm dứt hoặc giảm thiểu tình trạng mất cân đối, là chi tiêu quá sức hoặc tiết kiệm quá ít, như ông vừa nói"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Trước hết, vụ khủng hoảng tất nhiên dẫn tới việc tái lập cân bằng, một cách tự phát, của thị trường.
- Khi cán cân vãng lai hay chi phó Hoa Kỳ bị thiếu hụt - khoảng 6% tổng sản lượng nội địa GDP trong năm năm liền từ 2003 đến 2007 - điều đó có nghĩa là Mỹ vay quá nhiều, lại có thêm tiết kiệm của xứ khác rót vào, nên thổi giá tài sản như trái bóng và đẩy tiêu thụ đến mức quá đáng. Bây giờ, khủng hoảng làm giới tiêu thụ xài ít hơn và tiết kiệm nhiều hơn trong khi các cơ sở đi vay đều trả lại nợ nên mặc nhiên giảm thiểu mức thiếu hụt ấy, bình quân trong hai năm qua chỉ còn có phân nửa, là 2,9% của GDP, so với 6% trước đó. Với bên ngoài, nhập khẩu vào Mỹ cũng giảm nên thu hẹp số nhập siêu. Nếu các xứ khác mà hồi phục thì Hoa Kỳ còn hy vọng gia tăng xuất khẩu nêu càng dễ tái lập quân bình chi phó. Đó là phản ứng của thị trường trong một chu kỳ suy thoái và phục hồi.
- Nhưng dân Mỹ bị nạn nên xài tiền ít hơn chứ chính sách kinh tế hiện hành của Chính quyền lại không nhắm vào mục tiêu điều chỉnh thất quân bình chi thu. Ngược lại, nhà nước còn tăng chi mạnh và đi ngược với sự điều chỉnh tự nhiên của thị trường nên làm giới đầu tư mất tin tưởng vào thị trường tài chính Mỹ. Chiều hướng ấy có thể đẩy phân lời đi vay lên cao hơn và có khi đánh sụt trị giá đồng Mỹ kim lẫn cổ phiếu và trái phiếu Mỹ.
Việt Long: Nếu hiểu cho đúng ý thì phải chăng ông cho là Hoa Kỳ chưa thấy ra nhu cầu tái lập quân bình hay sao"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thị trường, tức là mọi người trong chúng ta, thì tất nhiên đã thấy ra và điều chỉnh nhưng không thể tái lập quân bình chi thu về dài nếu gặp trở lực của chính sách. Mà chính sách hiện theo đuổi mục tiêu khác và vẫn tăng chi quá mạnh nên có thể đẩy kinh tế vào trạng thái thiếu cân đối như cũ. Tôi xin giải thích chuyện này:
- Trên nguyên tắc, khi sinh hoạt sa sút làm lợi tức bị thu hẹp, người ta sẽ hạn chế tiêu thụ làm thị trường nhập cảng suy giảm; khi Mỹ kim xuống giá thì hàng Mỹ sẽ rẻ hơn và dễ xuất cảng hơn; và khi nhập cảng ít đi thì dân Mỹ sẽ tìm mua hàng nội nhiều hơn. Ba yếu tố ấy có góp phần điều chỉnh tự phát những thất quân bình lưu cữu từ lâu.
- Nhưng cùng với sự vận hành nhất thời đó của thị trường, Chính quyền vẫn gây bội chi nặng, lại đưa ra nhiều chương trình cải tạo xã hội - sắp tới là dự án cải tổ chế độ bảo hiểm sức khoẻ rất tốn kém - và có khi lại tung tiền kích cầu nữa vì thấy kế hoạch trị giá 787 tỷ đô la ban hành hồi Tháng Hai chưa công hiệu như họ dự kiến. Vì vậy, tiết kiệm gộp của cả nền kinh tế Mỹ không giảm mà còn tăng vì tăng chi của khu vực nhà nước. Một thí dụ là nếu cộng gộp các khoản chi của ngân sách liên bang, tiểu bang và địa phương thì mức bội chi từ 7,3% tổng sản lượng GDP hiện nay có thể sẽ lên tới 12% trong thời gian tới.
- Bây giờ, nếu kinh tế Mỹ phục hồi nay mai, tín dụng của tư nhân gia tăng và ngân hàng trung ương sẽ thu hồi chính sách lãi suất bằng số không hiện nay - giả dụ như tăng lãi suất từ giữa năm tới trở đi - thì việc tái lập quân bình bị cản trở vì lãi suất thật sẽ tăng cùng tỷ giá hối đoái của các ngoại tệ khác kể từ cuối năm tới trở đi. Tức là sau cơn khủng hoảng, ta lại trở về nguyên trạng.
Việt Long: Thế là mèo lại hoàn mèo hay sao" Nhưng bây giờ, dù thời giờ không còn nhiều, ta phải nói qua các nước kia. Các quốc gia kia có nhu cầu điều chỉnh để tái lập cân bằng hay không"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Chúng ta không còn thời giờ nên có khi mình sẽ tìm hiểu riêng vào một kỳ tới về hoàn cảnh của các nước này. Ở đây, nếu chỉ nói riêng về các xứ Đông Á trong đó có Việt Nam, tôi thiển nghĩ rằng khủng hoảng là cơ hội thu thập kinh nghiệm và cải tổ.
- Thứ nhất, chiến lược phát triển bằng xuất cảng, nhất là xuất cảng vào Mỹ, đã cho thấy giới hạn của nó mà đáng lẽ các nước phải thấy từ vụ khủng hoảng kinh tế Đông Á thời 1997-1998. Tôi cứ ngại là nói mãi hoá nhàm vì diễn đàn này đã đề cập tới chuyện đó từ cả chục năm rồi. Các nước Á châu sống nhờ xuất khẩu sẽ không thể kinh doanh như trước nữa khi mà "miệng túi cản khôn khép lại rồi" vì giới tiêu thụ Mỹ hết tiêu xài như Mỹ. Vì vậy, họ phải đa dạng hoá nền sản xuất.
Việt Long: Và tăng tiêu thụ nội địa" 
- Thưa vâng, trong chiều hướng đa dạng hóa như vậy thì phải chú trọng hơn đến thị trường nội địa. Với dân số rất lớn là gần 90 triệu dân, Việt Nam có hoàn cảnh phát triển thị trường này làm một lực đẩy kinh tế phụ trội. Nhưng không nên lầm lẫn chuyện ngắn hạn và dài hạn. Biện pháp kích cầu của Việt Nam vừa qua có nâng mức tiêu thụ nội địa, nhưng đấy chỉ là kết quả nhất thời để chặn đà suy thoái. Việt Nam phải nghĩ xa hơn và có quyết định cải tổ từ tư duy đến cơ chế, là một tiến trình bao quát và lâu dài, hơn là một công tác món cho qua hơn hoạn nạn.
- Thứ ba, muốn nâng mức tiêu thụ nội địa thì phải cải tổ chế độ an sinh xã hội và nâng cao mức sống của đa số, vốn vẫn còn rất nghèo. Kỳ trước, chúng ta đã nói đến yêu cầu này. Và trước hết, phải nâng tỷ giá đồng bạc chứ đừng tiếp tục giữ hối suất thấp để đẩy mạnh xuất khẩu vào những nơi không có khách mua! Chúng ta sẽ còn phải trở lại chuyện này trong nhiều kỳ tới.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Những năm gần đây sự việc Trung Quốc chiếm đảo, vét cát dưới đáy biển xây dựng căn cứ quân sự, xây phi trường, đặt tên lửa tại biển Đông khiến người ta vô tâm quên mất rằng cánh tay dài của Đại Hán đã vươn qua biển thò đến tận Phnom Penh tự thuở nào. Dưới mắt nhiều quan sát viên quốc tế thì Campuchia ngày nay là một tỉnh của Trung Quốc, và Thủ tướng Hun Sen là một bí thư tỉnh ủy của Đảng Cộng sản Trung Quốc, không hơn không kém.Trung Quốc thiết lập căn cứ quân sự trên đất Campuchia là mối đe dọa nghiêm trọng cho các quốc gia khác trong vùng Đông Nam Á, và Hoa Kỳ chắc chắn không thể không nhận ra hiểm họa to lớn đó. Trong buổi tường trình lên Ủy ban Tình báo Thượng viện Hoa Kỳ hôm tháng Giêng năm 2019, Giám đốc Sở Tình báo Quốc gia, lúc đó là ông Dan Coats, đã cảnh báo rằng “Campuchia đang có nguy cơ biến thành một quốc gia độc tài, và điều đó sẽ mở đường cho Trung Quốc thiết lập các căn cứ quân sự trên miền đất ấy.”
Ngày 22 tháng 6 năm 2020, dự luật An Ninh Quốc Gia về Hồng Kông được đưa ra tại quốc hội của Đảng Cộng Sản Trung Hoa để thông qua, và đêm 30 tháng 6 rạng sáng ngày 1 tháng 7, 2020, sau một phiên họp kín của Ủy Ban Thường Vụ Đại Biểu Nhân Dân (mà thế giới gọi là quốc hội bù nhìn tại Bắc Kinh) dự luật này đã trở thành luật. Ngày mà Luật An Ninh Quốc Gia về Hồng Kông này ra đời cũng trùng ngày mà Hồng Kông được trao trả lại cho China 23 năm trước 01-07-1997 theo thể chế “một nước hai chế độ” (one country two systems). Theo đó Hồng Kông vẫn còn quyền tự trị trong 50 năm từ 1997 đến 2047, và trên lý thuyết Hồng Kông chỉ lệ thuộc vào Bắc Kinh về quân sự và ngoại giao mà thôi.
“Ngày 11/07/1995: Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton và Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt thông báo quyết định bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa 2 nước.” Với quyết định lịch sử này, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng sản đã ghi dấu “gác lại qúa khứ, hướng tới tương lai” được 25 năm vào ngày 11/07/2020. Nhưng thời gian ¼ Thế kỷ bang giao Mỹ-Việt đã đem lại những bài học nào cho hai nước cựu thù, hay Mỹ và Việt Nam Cộng sản vẫn còn những cách biệt không hàn gắn được ?
Trước 1975, ở bùng binh ngã Sáu (kế góc đường Gia Long và Lê Văn Duyệt) có cái biển nhỏ xíu xiu: Sài Gòn – Nam Vang 280 KM. Mỗi lần đi ngang qua đây, tôi đều nhớ đến cái câu ca dao mà mình được nghe từ thưở ấu thơ: Nam Vang đi dễ khó về… Bây giờ thì đi hay về từ Cambodia đều dễ ợt nhưng gần như không còn ma nào muốn hẻo lánh tới cái Xứ Chùa Tháp nghèo nàn này nữa. Cũng nhếch nhác ngột ngạt thấy bà luôn, ai mà tới đó làm chi… cho má nó khi. Thời buổi này phải đi Sing mới đã, dù qua đây rất khó và về thì cũng vậy – cũng chả dễ dàng gì.
Càng gần ngày tranh cử, càng nhiều người biểu lộ yêu mến Tổng thống Donald Trump và ngược lại cũng lắm người bày tỏ chán ghét ông Trump. Có những người ghét ông chỉ vì họ yêu chủ nghĩa xã hội, yêu chủ nghĩa vô chính phủ, lợi dụng cơ hội ông George Floyd bị cảnh sát đè cổ chết đã chiếm khu Capitol Hill, nội đô Seattle, tiểu bang Washington, trong suốt ba tuần trước khi bị giải tán. Nhân 244 năm người Mỹ giành được độc lập từ Anh Quốc, và sau biến cố George Floyd, thử xem nền dân chủ và chính trị Hoa Kỳ sẽ chuyển đổi ra sao?
Tôi có dịp sống qua nhiều nơi và nhận thấy là không nơi đâu mà những từ ngữ “tổ quốc,” “quê hương,” “dân tộc” … được nhắc đến thường xuyên – như ở xứ sở của mình: tổ quốc trên hết, tổ quốc muôn năm, tổ quốc anh hùng, tổ quốc thiêng liêng, tổ quốc bất diệt, tổ quốc muôn đời, tổ quốc thân yêu, tổ quốc trong tim … “Quê hương” và “dân tộc” cũng thế, cũng: vùng dậy, quật khởi, anh dũng, kiên cường, bất khuất, thiêng liêng, hùng tráng, yêu dấu, mến thương …
Nhà xuất bản sách của Bolton, chắc sẽ nhận được khoản thu nhập lớn. Riêng Bolton, chưa chắc đã giữ được hai triệu đô la nhuận bút, nếu bị thua kiện vì đã không tôn trọng một số hạn chế trong quy định dành cho viên chức chính quyền viết sách sau khi rời chức vụ. Điều này đã có nhiều tiền lệ. Là một luật gia, chắc chắn Bolton phải biết. Quyết định làm một việc hệ trọng, có ảnh hưởng tới đại sự, mà không nắm chắc về kết quả tài chính, không phải là người hành động vì tiền. Hơn nữa, nếu hồi ký của Bolton có thể giúp nhiều người tỉnh ngộ, nhìn ra sự thật trước tình hình đất nước nhiễu nhương, thì cũng có thể coi việc làm của ông là thái độ can đảm, được thúc đẩy bởi lòng yêu nước. Không nên vội vàng lên án Bolton, khi ông từ chối ra làm chứng trước Hạ Viện, nếu không bị bắt buộc. Nếu có lệnh triệu tập, ông đã tuân theo. Không có lệnh, ông không ra, vì thừa biết, với thành phần nghị sĩ Cộng Hòa hiện tại, dù ra làm chứng, ông cũng chẳng thay đổi được gì. Dân Biểu Schiff nói: “John Bolton,
Thưở sinh thời – khi vui miệng – có lần soạn giả Nguyễn Phương đã kể lại lúc đưa đám cô Năm Phỉ, và chuyện ông Chín Trích đập vỡ cây đàn: “Ngày cô Năm Phỉ mất, người đến viếng tang nghe nhạc sĩ Chín Trích đàn ròng rã mấy ngày liên tiếp bên quan tài… Ông vừa đờn vừa khóc. Đến lúc động quan, trước khi đạo tỳ đến làm lễ di quan, nhạc sĩ Chín Trích đến lậy lần chót, ông khóc lớn:’ Cô Năm đã mất rồi, từ nay Chín Trích sẽ không còn đờn cho ai ca nữa…’ Nói xong ông đập vỡ cây đờn trước quan tài người quá cố. “Việc xảy quá đột ngột và trong hoàn cảnh bi thương của kẻ còn đang khóc thương người mất, mọi người im lặng chia sẻ nỗi đau của gia đình người quá cố và của nhạc sĩ Chín Trích. Khi hạ huyệt thì người nhà của cô Năm Phỉ chôn luôn cây đàn gãy của nhạc sĩ Chín Trích xuống mộ phần của cô Năm Phỉ.” (Thời Báo USA, số 321, 18/02/2011, trang 67)
Đai sứ Mỹ, Daniel Krintenbrink, phát biểu chiều ngày 2/7 tại Hà Nội, nhân kỷ niệm 25 năm binh thường hóa quan hệ ngoại giao Việt-Mỹ: “Washington sẽ triển khai các hoạt động ngoại giao, hàng hải, và quân sự để bảo đảm hòa bình, ổn định Biển Đông”. Đại Sứ Kritenbrink cho hay, Mỹ sẽ triển khai các hoạt động theo 3 hướng: 1- Tăng hoạt động ngoại giao với các nước trong khu vực, trong đó có ASEAN. 2- Hỗ trợ các nước tăng cường hàng hải, để bảo vệ lợi ích của mình. 3- Phát triển năng lực quân sự Mỹ, trong đó có các hoạt động bảo vệ hàng hải.
Theo các hãng thông tấn và truyền hình lớn của Hoa Kỳ, vào ngày 27/6/2020, Đảng Dân Chủ Quận Hạt Orange đã thông qua nghị quyết khẩn cấp yêu cầu Ban Giám Sát Quận Hạt đổi tên Phi Trường John Wayne (tài tử đóng phim cao-bồi Miền Tây) vì ông này theo chủ nghĩa Da Trắng Là Thượng Đẳng và những tuyên bố mù quáng (bigot). Sự kiện gây ngạc nhiên cho không ít người. Bởi vì đối với các kịch sĩ, ca sĩ, nhạc sĩ, văn-thi-sĩ, họa sĩ, nhất là các tài tử điện ảnh…họ đều có cuộc sống cởi mở, đôi khi phóng túng, buông thả và ít liên hệ tới chính trị. Và nếu có bộc lộ khuynh hướng chính trị thì thường là cấp tiến (Liberal). Vậy tại sao John Wayne lại “dính” vào một vụ tai tiếng như thế này?
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
Người Việt Phone
Không còn nghi ngờ gì nữa, khẩu trang đã đóng một vai trò trung tâm trong các chiến lược đối đầu với dịch bệnh COVID-19 của chúng ta. Nó không chỉ giúp ngăn ngừa SARS-CoV-2 mà còn nhiều loại virus và vi khuẩn khác.
Hôm thứ Hai (06/07/2020), chính quyền Mỹ thông báo sinh viên quốc tế sẽ không được phép ở lại nếu trường chỉ tổ chức học online vào học kỳ mùa thu.
Đeo khẩu trang đã trở thành một vấn đề đặc biệt nóng bỏng ở Mỹ, nơi mà cuộc khủng hoảng Covid-19 dường như đã vượt khỏi tầm kiểm soát.
Trong khi thế giới đang đổ dồn tập trung vào những căng thẳng giữa Mỹ với Trung Quốc, thì căng thẳng tại khu vực biên giới Himalaya giữa Trung Quốc và Ấn Độ vào tháng 05/2020 đã gây ra nhiều thương vong nhất trong hơn 50 năm.
Ủy ban Tư pháp Hạ viện Mỹ cho biết các CEO của 4 tập đoàn công nghệ lớn Amazon, Apple, Facebook và Google đã đồng ý trả lời chất vấn từ các nghị sĩ Quốc hội về vấn đề cạnh tranh trong ngành công nghệ.