Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Tế Hanh, Một Đời Thơ Nặng Tình Sông Nước

20/07/200900:00:00(Xem: 5532)

Tế Hanh, một đời thơ nặng tình sông nước

Đỗ xuân Tê
Quê hương ta tự ngàn xưa vốn là một vùng sông nước. Mỗi miền mỗi vẻ, trải qua thăng trầm của lịch sử, các dòng sông vẫn là chứng nhân kiên trì gắn bó với người dân Việt qua bao thế hệ, đem lại miếng cơm manh áo, nguồn nước tưới tiêu tô bồi cho ruộng đồng bát ngát. Rồi theo thời tiết, vào những mùa lũ tràn nước nổi, các mạch sông cũng có lúc cuồng sôi thác đổ gây cảnh đói kém cho bà con trăm họ, nhưng đa phần các dòng chảy đều trong xanh tươi mát chứa chan những kỷ niệm êm đềm cho bao tâm hồn từ thuở ấu thơ đến tuổi về chiều.
Quả thật mỗi con người Việt nam phải nói ai lớn lên đều ít nhiều có những kỷ niệm ấp ủ về một dòng sông, hoặc đã một thời làm quen với sông nước. Ký ức tiếng trống ngũ liên của những ngày lũ lụt, tiếng hò buồn qua mùa nước nổi, cảnh bến phà chiều mưa,  cầu tre vắt vẻo, cây đa bến cũ, con đò năm xưa cùng những ấn tượng về các cuộc hẹn hò giao lưu thơ ấu, bắt cá ven sông, trồng ngô đất bãi, thả diều trên đê...gợi nhớ những điệu hò miền nam, những câu chèo miền bắc, những khúc hát nam ai cùng tiếng ru con ời ợi của các bà mẹ ven sông đã là những âm hưởng không thể nào quên cho những người con dù xa quê biệt xứ.
Chẳng thế mà những người làm thơ hay ‘tức cảnh sinh tình’ bắt nguồn từ những dòng sông quê hương, gần như các nhà thơ tên tuổi đa phần đều có gốc gác vùng quê sông nước. Tôi muốn nhắc đến nhà thơ tiền chiến Tế Hanh, một người vừa vĩnh viễn ‘trở về với dòng sông quê hương’ ở tuổi 89, một nhà thơ điển hình cho dòng văn học luôn gắn bó trăn trở với những dòng sông, một người mà những bài thơ mang tình tự quê hương đã nằm trong các sách giáo khoa ngữ văn qua nhiều thế hệ, tiêu biểu là hai bài Nhớ con sông quê hương và Quê hương. 


Xuất thân từ vùng sông Trà (Quảng Ngãi), Tế Hanh lấy nguyên tên mình làm bút hiệu cho thơ. Tên ông làm người ta gợi nhớ đến thi sĩ Tế Xương (Tú Xương) cũng họ Trần do giai thoại cụ thân sinh của ông cũng là một thi sĩ nghèo vốn hâm mộ ông Tú thành Nam nên đặt tên con cùng mang chữ lót, ngẫu nhiên sau này cậu bé cũng đi vào con đường thơ từ lúc tuổi đời còn rất trẻ. Mười bảy tuổi đã có tuyển tâp thơ Nghẹn ngào gây tiếng vang trong phong trào Thơ mới vì đoạt được một giải của Tự Lực văn đoàn hồi cuối thập niên ’30. Có điều cái bút hiệu dây mơ rễ má với cụ Tú Xương cũng ‘quẩn’ theo ông khiến cả cuộc đời có hanh thông trên đưòng văn học với cả ngàn bài thơ, vài ba chục thi tập thì cảnh bần hàn, bệnh tật, lận đận đường đời vẫn theo đuổi chân ông. Bù lại ông vẫn giữ được sĩ khí của một nhà thơ dù phải sống trong một xã hội thói đời hai mặt theo suốt chiều dài của những năm tháng đất nước điêu linh qua tới thời hòa bình lập lại. Tên tuổi ông cứ như nhà phê bình văn học Hoài Thanh đánh giá trong cuốn “Thi nhân Việt nam” thì, “Tế Hanh là một người tinh lắm. Ông đã ghi được đôi nét thần tình về cảnh sinh hoạt chốn quê hương. Người nghe thấy được cả những điều không hình sắc, không thành âm như mảnh hồn làng, trên cánh buồm giương, như tiếng hát của  hương đồng quyến rũ, con đường quê nho nhỏ.. Thơ Tế Hanh đưa ta vào một thế giới rất gần gũi...”  và mới đây đài BBC đã vinh danh ông như một trong các khuôn mặt thơ tiêu biểu của thi ca Việt nam trong thế kỷ 20. Ta hãy nghe Tế Hanh trải lòng mình với bao kỷ niệm ân tình của dòng sông quê mẹ, qua bài thơ tiêu biểu ‘Nhớ con sông quê hương’: chẳng biết nước có giữ ngày giữ tháng/giữ bao nhiêu kỷ niệm giữa dòng trôi/hỡi con sông đã tắm cả đời tôi/tôi giữ mãi mối tình mới mẻ. Từ thuở ấu thơ niềm ấp ủ hình ảnh của sông nước hình như lúc nào cũng lưu luyến đan quyện dấu chân ông, tôi giơ tay ôm nước vào lòng/sông mở nước ôm tôi vào dạ... dù phải xa quê lưu lạc nơi chân trời góc bể thì hồn người lữ thứ ‘vẫn trở về lưu luyến bên sông’.  Một đời thơ nặng tình quê hương sông nước trọn gần thế kỷ, Tế Hanh đã phủi bụi trần gian để một cõi đi về mà ông hằng mơ ước, tôi sẽ đến nơi tôi hằng mơ ước/tôi sẽ về sông nước của quê hương/Tôi sẽ về sông nước của tình thương. Những người yêu thơ Tế Hanh, những người đồng cảm khi cũng có một dòng sông ấp ủ trong tim như Tế Hanh không phải chỉ thế hệ này mà còn nhiều thế hệ sau sẽ mãi mãi tưởng nhớ ông như một nhà thơ nhân bản, đôn hậu, giàu tình tự sông nước quê hương, đã một đời sống cho thơ và vì thơ mà sống.
Đỗ xuân Tê
Cali tháng 7/09

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Liên quan đến cuộc bầu cử Quốc Hội Đức 2021 trước đây tôi đã giới thiệu lần lượt ba ứng cử viên: Scholz của SPD, Laschet (CDU) và Baerbock (Xanh). Nhưng trong những tháng qua có khá nhiều tin giật gân nên để rộng đường dư luận tôi lại mạn phép ghi ra vài điểm chính bằng Việt ngữ từ vài tin tức liên quan đến cuộc bầu cử 2021 được truyền thông và báo chí Đức loan tải.
Năm 17 tuổi, đang khi học thi tú tài, tôi bỗng nhiên bị suyễn. Căn bệnh này – vào cuối thế kỷ trước, ở miền Nam – vẫn bị coi là loại nan y, vô phương chữa trị. Từ đó, thỉnh thoảng, tôi lại phải trải qua vài ba cơn suyễn thập tử nhất sinh. Những lúc ngồi (hay nằm) thoi thóp tôi mới ý thức được rằng sinh mệnh của chúng ta mong manh lắm, và chỉ cần được hít thở bình thường thôi cũng đã là một điều hạnh phúc lắm rồi. If you can't breathe, nothing else matters!
Một người không có trí nhớ, hoặc mất trí nhớ, cuộc đời người ấy sẽ ra sao? Giả thiết người ấy là ta, cuộc đời ta sẽ như thế nào? Ai cũng có thể tự đặt câu hỏi như vậy và tự cảm nghiệm về ý nghĩa của câu hỏi ấy. Sinh hoạt của một người, trong từng giây phút, không thể không có trí nhớ. Cho đến một sinh vật hạ đẳng mà chúng ta có thể biết, cũng không thể tồn tại nếu nó không có trí nhớ. Trí nhớ, Sanskrit nói là smṛti, Pāli nói là sati, và từ Hán tương đương là niệm, cũng gọi là ức niệm, tùy niệm. Nói theo ngôn ngữ thường dùng hiện đại, niệm là ký ức. Đó là khả năng ghi nhớ những gì đã xảy ra, thậm chí trong thời gian ngắn nhất, một sát-na, mà ý thức thô phù của ta không thể đo được.
Ba mươi năm trước tôi là thành viên hội đồng quản trị của một cơ quan xã hội giúp người tị nạn trong khu vực phía đông Vịnh San Francisco (East Bay) nên khi đó đã có dịp tiếp xúc với người tị nạn Afghan. Nhiều người Afghan đã đến Mỹ theo diện tị nạn cộng sản sau khi Hồng quân Liên Xô xâm chiếm đất nước của họ và cũng có người tị nạn vì bị chính quyền Taliban đàn áp. Người Afghan là nạn nhân của hai chế độ khác nhau trên quê hương, chế độ cộng sản và chế độ Hồi giáo cực đoan.
Bà Merkel là một người đàn bà giản dị và khiêm tốn, nhưng nhiều đối thủ chính trị lại rất nể trọng bà, họ đã truyền cho nhau một kinh nghiệm quý báu là “Không bao giờ được đánh giá thấp bà Merkel”.
Hai cụm từ trọng cung (supply-side) và trọng cầu (demand-side) thường dùng cho chính sách kinh tế trong nước Mỹ (đảng Cộng Hòa trọng cung, Dân Chủ trọng cầu) nhưng đồng thời cũng thể hiện hai mô hình phát triển của Hoa Kỳ (trọng cầu) và Trung Quốc (trọng cung). Bài viết này sẽ tìm hiểu cả hai trường hợp. Trọng cung là chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hoà từ thời Tổng Thống Ronald Reagan nhằm cắt giảm thuế má để khuyến khích người có tiền tăng gia đầu tư sản xuất. Mức cung tăng (sản xuất tăng) vừa hạ thấp giá cả hàng hóa và dịch vụ lại tạo thêm công ăn việc làm mới. Nhờ vậy mức cầu theo đó cũng tăng giúp cho kinh tế phát triển để mang lại lợi ích cho mọi thành phần trong xã hội. Giảm thuế lại thêm đồng nghĩa với hạn chế vai trò của nhà nước, tức là thu nhỏ khu vực công mà phát huy khu vực tư.
Gần đây, chỉ một tấm ảnh của nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ – Nicole Gee – ôm em bé người Afghan với thái độ đầy thương cảm thì nhiều cơ quan truyền thông quốc tế đều phổ biến và ca ngợi! Nhân loại chỉ tôn trọng sự thật, trân quý những tâm hồn cao thượng và những trái tim biết rung động vì tình người – như nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ, Nicole Gee – chứ nhân loại không bao giờ thán phục hoặc ca ngợi sự tàn ác, dã man, như những gì người csVN đã và đang áp đặt lên thân phận người Việt Nam!
Tôi vừa mới nghe ông Trần Văn Chánh phàn nàn: “Cũng như các hội nghề nghiệp khác, chưa từng thấy Hội nhà giáo Việt Nam, giới giáo chức đại học có một lời tuyên bố hay kiến nghị tập thể gì liên quan những vấn đề quốc kế dân sinh hệ trọng; thậm chí nhiều lần Trung Quốc lấn hiếp Việt Nam ở Biển Đông trong khoảng chục năm gần đây cũng thấy họ im phăng phắc, thủ khẩu như bình…”
Thế giới chưa an toàn và sẽ không an toàn chừng nào các lực lượng khủng bố trên thế giới vẫn còn tồn tại, một nhà báo, cựu phóng viên đài VOA từ Washington D.C. nói với BBC News Tiếng Việt hôm thứ Năm. Sự kiện nước Mỹ bị tấn công vào ngày 11 tháng 09 năm 2001 đã thức tỉnh thế giới về một chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan đang tồn tại trong lòng các nước Trung Đông. Giờ đây, sau 20 năm, liệu người Mỹ có cảm thấy an toàn hơn hay họ vẫn lo sợ về một cuộc tấn công khủng bố khác trên đất nước Hoa Kỳ hay nhằm vào công dân Mỹ ở nước ngoài.
Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, những kẻ khủng bố Hồi giáo thuộc tổ chức mạng lưới Al-Qaida đã dùng bốn phi cơ dân sự làm thành một loại vũ khí quân sự để tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới ở New York và Lầu Năm Góc ở Washington D.C. Các sự kiện không tặc loại này là lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh của nhân loại và đã có hậu quả nghiêm trọng nhất trong lịch sử cận đại.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.