Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Kuku, Nhật Ký Dọc Đường...

08/07/200900:00:00(Xem: 3996)
Kuku, nhật ký dọc đường...
Lưu Dân (Sydney - Australia)
Bài 5 và hết
Ngày 8 (17.04 Galang - Singapore): Ngưỡng cửa Tình người
Buổi điểm tâm "hoành tráng" trong phòng ăn lịch sự tại khách sạn thuộc hạng xịn này làm chúng tôi nhớ da diết món mì xào ớt mấy ngày qua. Lạ thật, mới hôm qua chớ đâu, mọi người vẫn còn mình trần chân đất, ăn nói bạt mạng như chỗ không người mà bây giờ lại áo quần bảnh bao, cử chỉ lịch sự ra phết! Ai nấy cũng đều gắp nhỏ nhẹ, ăn nhỏ nhẹ, uống nhỏ nhẹ - thậm chí đến rủ nhau vào phòng vệ sinh cũng... nhỏ nhẹ, chả bù lúc "trên trời mây trắng như bông, ở giữa cánh đồng mông trắng như mây" ì xèo trên hoang đảo. Họ làm như một tiếng cười ré lên không đúng chỗ sẽ trở thành mục tiêu cho hàng trăm ánh mắt nhíu lại khó chịu. Té ra, cái đời sống "văn minh đô thị" đã... điều kiện hóa người ta như vậy. Nhưng dường như chẳng có ai lẩm cẩm triết lý về những chuyện ruồi bu đó. Mọi người còn mải mê "gỡ" những tấm hình cuối cùng trước khi chia tay với nhóm từ Pháp (anh chị niên trưởng Tôn Thất Vinh - Vân Hải và cặp sam biển dính nhau khít rịt Chung - Thúy) vì nhóm này sẽ phải bay lên thủ đô Jakarta trong ngày để về lại Paris.
Màn "Lên xe tiễn nhau đi, chưa bao giờ... mừng thế" diễn ra khá... rươm rướm (gớm, chẳng biết mấy bà mấy cô lấy đâu ra thứ chất lỏng quý hiếm này dễ dàng thế!) nhưng cũng gọn nhẹ vì chúng tôi còn phải tranh thủ ngày cuối cùng của chuyến đi để thăm trại tỵ nạn Galang, nơi từng là trạm dừng chân của nhiều cựu Kuku trước khi lên đường định cư.
Thật ra, chặng Galang không nằm trong chương trình ban đầu nhưng theo yêu cầu của nhiều người trong đoàn, Trần Lão Gia đã thu xếp với công ty du lịch để chúng tôi trở lại nơi từng được đặt tên là "Ngưỡng cửa của Tự do và Tình người" chỉ cách Batam hơn một tiếng lái xe.
Dù chỉ trong vài giờ ngắn ngủi, chúng tôi đã đến được các địa điểm ghi dấu nhiều kỷ niệm trong đời tỵ nạn như Cầu tàu và Chùa Quan Âm ở Galang I, Nghĩa trang Galang III, Miếu Ba Cô và Nhà thờ Đức Mẹ Vô Nhiễm ở Galang II... Tại những nơi này, chúng tôi cũng đã thực hiện những buổi lễ cầu siêu cho hương linh đồng bào nằm lại trước khi trở lại bến phà Batam về Singapore vào buổi chiều.
Buổi ăn tối chia tay trên cầu tàu Boat Quay ở Singapore tuy dập dìu tài tử giai nhân, đèn màu rực rỡ cả một khúc sông và nhiều món ăn hấp dẫn nhưng không khí trong nhóm dường như trầm hẳn xuống. Mấy tay "quậy" cũng nín khe không moi ra được một câu bông đùa thường ngày khi chúng tôi uống cạn hớp bia cuối cùng và đứng dậy ôm nhau hát khẽ bài tạm biệt "Gặp nhau đây, rồi chia tay..." lúc đồng hồ chỉ quá nửa đêm.
Vài giờ nữa, nhóm Mỹ (Mimi, Anh Huy, David và bác Hồ... tặc) sẽ lim dim trên đoạn đường bay mười mấy giờ về nhà. Nhóm Đức (anh chị Văn Nam - Xuân Hương) còn tiếp tục giang hồ thêm vài ngày cho bõ công. Những người còn lại trở về khách sạn... chờ sáng.
Ngày 9 (18.04 Singapore - Home): Gặp nhau đây, rồi chia tay...
Buổi sáng, băng 3T Triệu - Tài - Tước và anh em Nhà họ Huỳnh đã ra ngồi lại quán cà-phê lề đường ở vùng Geylang từ sớm. Trần Lão Gia, út Tuấn Hùng và tôi cũng lục tục tấp vào. Ly cà-phê sữa tổ chảng (chỉ 80 xu Sing) đã giúp chống lên đôi mí mắt lúc nào cũng chực sụp xuống vì thiếu ngủ. Lác đác những cô gái ăn sương thức sớm ghé lại ăn sáng, gương mặt không son phấn trông phờ phạc, mệt mỏi...
Thấm thoát mà đã 10 ngày. Mười ngày trước, chúng tôi cũng đã ngồi ở đây, chưa biết đoạn đường sắp tới sẽ ra sao nhưng mọi người đều háo hức, nôn nả. Bây giờ, gia tài tinh thần của từng người phong phú hơn, tình cảm với nhau mặn mà hơn nhưng không tránh khỏi tâm trạng bồi hồi, quyến luyến trước giờ giã từ.
Ngoài những người sắp cất cánh về nhà, Út Tuấn Hùng (từ Thụy Điển) sẽ trở lại Galang trong ngày để trùng tu lại Miếu Ba Cô như lời khấn nguyện. Anh Trưởng đoàn ngày mai sẽ tiếp tục lên đường đi Mã Lai đến Hội Hồng Nguyệt ở thủ đô Kuala Lumpur để thu xếp việc scan lại hàng trăm ngàn thẻ thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam từng ghé lại đất nước này. Riêng tôi lại lòng vòng mò đến trại tỵ nạn xưa và tìm thăm những bạn cũ ở Singapore.
Mọi người xốc ba-lô lên vai, xiết tay nhau cú chót và chúc nhau "bảo trọng".
Lời kết:
Thế đấy, chúng tôi 22 người từ 6 quốc gia, hầu hết chưa quen biết nhau trước, đã sống với nhau trọn vẹn trong gần 10 ngày của chuyến đi để đời này. Chúng tôi đã chia sẻ với nhau những món hải sản tươi rói mới vớt lên từ lòng biển trong veo hoặc những tô mì gói nguội ngắt giữa đêm khuya, trong những khách sạn đầy đủ tiện nghi ở thành phố hoặc những phòng trọ qua đêm ở vùng quê được ngăn bởi tấm vách không đủ độ dày để đẩy lùi tiếng ngáy của... mấy ông thợ kéo gỗ, với những quyến luyến không rời giữa những người bạn mới quen mà đã trở thành tri kỷ, với những nén nhang thành tâm lung linh trước các mộ phần vô danh của thuyền nhân Việt Nam ở nơi cùng trời cuối đất này.
Trong chuyến đi, không ai trong đoàn tiên đoán được hết những bất ngờ dọc đường. Chương trình được linh động điều chỉnh liên tục vì sự thay đổi ngoài dự tính. Chúng tôi đã di chuyển bằng mọi phương tiện có thể thu xếp được tại chỗ; từ những phi cơ hiện đại của các hãng hàng không quốc tế đến các chuyến bay nội địa bằng phi cơ cánh quạt thời... Đệ nhị Thế chiến, từ những chiếc ca-nô cao tốc đến các chiếc tàu khách chậm rì, từ những xe du lịch rì rào máy lạnh êm như ru đến các chiếc xe đò cởi hết cả áo vẫn còn chảy mồ hôi (thật là... tội nghiệp cho các bà các cô!), từ các đoạn "xe ôm" từng cặp bất đắc dĩ đến những cuốc... xe dép mỏi nhừ đôi chân. Vậy mà chẳng ai thốt ra một lời than. Vậy mà chỉ nghe tiếng cười, câu hát, chuyện vui rộn ràng trên những đoạn đường tìm về kỷ niệm...

Chúng tôi đã hưởng thụ - theo nghĩa đúng nhất - những phong cảnh kỳ vĩ của thiên nhiên và thổ sản địa phương độc đáo mà những du khách dư dã tiền bạc chưa chắc đã mua được. Làm sao bạn có thể ngắm được ánh nắng chiều ráng đỏ trên đường chân trời giữa chập chùng hải đảo" Làm sao bạn có thể ngâm mình dưới làn nước trong veo như thủy tinh trên bãi cát trắng mịn ở bãi biển mà người địa phương đặt tên là "Nước của Trời", uống ngụm nước dừa mới hái và ăn ngay tại bãi những con tôm hùm còn quẫy đuôi tanh tách do các ngư dân mang đến trên những chiếc ghe độc mộc chèo tay" Và làm sao có được những đêm văn nghệ ngẫu hứng vui nhộn bằng các ngôn ngữ Anh, Pháp, Đức, Việt và Nam Dương được trình diễn bởi "những giọng hát quốc tế chưa hề cầm micro chuyên nghiệp" nhưng hay chẳng kém bất cứ siêu sao ca nhạc nào"
Chúng tôi cũng đã sớt chia với nhau những dòng nước mắt rưng rưng hạnh phúc khi cùng các bạn đồng hành tìm thấy mộ phần quạnh hiu nhang khói từ hàng chục năm qua của người thân nằm lại trên đảo, nhặt từng chiếc dép, sợi neo, mảnh chén... còn vương mùi dâu bể của cuộc hành trình gian truân và bi thảm nhất trong lịch sử dân tộc.
Nhưng thú vị và cảm động nhất vẫn là những ân tình đậm đà với những người mà chúng tôi một thời đã chịu ơn, hoặc với những người đương thời mà chúng tôi đang mắc nợ.
Trước hết phải kể đến người dân địa phương hiền hòa và chất phác ở Matak, Terempah, Letung, Air Raya, Keramut... Nhớ lại trước đây, họ đã đón tiếp các đợt thuyền nhân Việt Nam trôi dạt đến vùng quần đảo Anambas này bằng những bàn tay nâng đỡ, những nồi cháo hồi sinh, những tấm áo lành lặn tạm che tấm thân tơi tả vì sóng gió hoặc hải tặc. Bây giờ, cũng chính họ phá rừng mở lối, hướng dẫn tìm mộ, cùng san sớt niềm vui nỗi buồn trong câu chuyện xưa với những người họ từng một thời cưu mang. Dưới lưng áo bạc trắng muối biển và làn da đen sạm nắng gió nhiệt đới, trái tim của họ vẫn đỏ tươi một tình người thủy chung, bất biến. Họ tiếp đón chúng tôi bằng bàn tay nắm chặt và nụ cười hồn nhiên như những bác Ba, chú Tư, cô Năm, dì Sáu... ở miền Trung, miền Tây của quê hương Việt Nam trong lòng những kẻ xa quê lâu lắm mới có dịp trở về - không phân biệt đoàn "du khách quốc tế" này ngày xưa là chén sành bây giờ là chén kiểu.
Chúng tôi cũng đã có cơ duyên hạnh ngộ với những ân nhân thầm lặng của thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam như Adnan Nala, người đã dành trọn tuổi thanh xuân cho lý tưởng nhân đạo cao thượng mà hy sinh cả tương lai sự nghiệp của mình.
Và chúng tôi cũng đã gặp gỡ các ngư dân Việt Nam bị tù giam ở Terempah trong một hoàn cảnh bẽ bàng, buồn tủi vì bị bỏ rơi bởi chính những kẻ vẫn luôn miệng rêu rao là "chính quyền nhân dân". Có sống những giây phút tận cùng mâu thuẫn và nghịch lý ấy mới thấy thấm thía ý nghĩa của những chữ đồng bào và đồng hương.
Sau cùng là anh chàng hướng dẫn viên xuề xòa dễ mến Edi Surbakti, xếp của một công ty du lịch ở Thành phố Batam. Suốt chuyến đi, hầu như anh chỉ ngủ mỗi đêm vài giờ nhưng phải thường trực đối phó với "những việc không tên" nặng như búa tạ mà có lẽ rất ít người trong đoàn biết được. Ngày từ giã chúng tôi, Edi đã không cầm được nước mắt. Anh đã nhiều lần đích thân phụ trách hướng dẫn các đoàn của VKTNVN về thăm các trại tỵ nạn ở Nam Dương từ năm 2005, mỗi lần đối với anh là một kỷ niệm khó quên, nhưng dường như anh chưa hề bộc lộ sự xúc động cao độ như lần này.
Là một người hoạt bát và thích bông đùa, Edi lại trở nên lúng túng nghẹn ngào khi nói lời chia tay với một giọng sũng nước. Nhân danh một công dân Nam Dương bình thường và biết xấu hổ, anh đã xin lỗi mọi người về hành vi quấy nhiễu và hối lộ của "những thằng chó chết" (các quan chức tham ô ở địa phương) trong một số chặng đường chúng tôi đã qua. Thật ra, nhiều người trong đoàn hoàn toàn không biết gì về những chuyện ấy cho đến ngày cuối cùng vì anh đã chịu đựng nín nhịn để gìn giữ không khí thoải mái của chuyến đi. Nghe được chuyện, tôi chỉ ao ước phải chi những kẻ đang cầm quyền cai trị đất nước Việt Nam cũng biết xấu hổ như một công dân bình thường Edi ở Nam Dương...
Có vài độc giả khi đọc bài phóng sự lê thê này đã hỏi tôi một câu rất thực tế: Đi như vậy tốn bao nhiêu tiền" Tôi hiểu câu hỏi này xuất phát từ sự quan tâm chính đáng vì, ngoài nhu cầu tâm linh và mục đích rõ ràng như vậy, họ cũng phải chuẩn bị về khả năng tài chánh để tham dự chuyến đi. Những người tham dự chuyến đi vừa qua cũng đã từng đặt câu hỏi như thế. Và, như vài đoạn viết vui về "anh chàng trùm sò" trong bài, mọi người đều nhẩm tính rằng họ đã "lời to" sau chuyến đi, không những trong ý nghĩa vật chất mà còn cả về phương diện tinh thần.
Nhân đây, xin được kể một câu chuyện ngoài lề để kết thúc bài phóng sự này: Sau hàng chục năm "cày sâu cuốc bẩm", anh Triệu (từ Melbourne - Úc) dành dụm được ít tiền dằn túi để cố gắng thực hiện lời hứa đưa di hài của vợ từ Kuku về gia đình. Anh từng dự tính thực hiện một chuyến đi riêng (trước khi biết đến Văn khố Thuyền nhân VN) với chi phí ước chừng... vài chục ngàn đô-la (xin lỗi anh Triệu, tôi phải nói ít đi một chút cho độc giả tin, chứ nói cả trăm ngàn thì sợ... trộm viếng nhà anh!) vì nó bao gồm các phương tiện di chuyển và giấy tờ rất nhiêu khê, tốn kém; như thuê tàu bè, trực thăng chuyên dụng, nhân công địa phương, thủ tục bốc mộ và mang tro cốt về nước v.v... Nhưng khi được bạn bè và gia đình hỏi về chi phí cho chuyến đi vừa qua với kết quả tốt đẹp ngoài sự mong đợi, anh cho biết toàn bộ chỉ tốn khoảng 6000AUD cho cả ba anh em 3T, kể cả những chi phí riêng. Ai cũng cho là... "quá bèo", dù so với giá cả và mức sống ở Việt Nam!
(Bài đến đây đã dài. Cám ơn các bạn đã theo dõi. Nếu hưỡn, các bạn có thể xem thêm tin tức và hình ảnh của chuyến đi tại www.vktnvn.com.)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Tại sao trong “toa tàu” vũ trụ đông chật cứng, đám hành khách phân tử, vi phân tử vẫn được tự do chạy tới chạy lui nhanh như chớp? Tìm tòi, suy nghĩ mãi mới thấy lời giải đáp. Nó nằm trong cái hình thể tuyệt hảo của các vi phân tử, phân tử. Hình thể chứa đựng “bí mật” của Tạo Hóa ấy không bị giấu ở chỗ kín đáo, khó tìm. Nó được rải khắp một phòng triển lãm lớn rộng bằng cả bầu trời. Nó là hình dạng của hầu hết các vì sao: Hình cầu.
Báo chí tự phong “cách mạng” của Cộng sản ở Việt Nam đã hiện nguyên hình là cái loa tuyên truyền cho đảng để phủ nhận quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí của dân. Việc này đã, một lần nữa, được chứng minh vào dịp kỷ niệm 96 năm của điều gọi là “ngày báo chí cách mạng Việt Nam” (21/6/-1925 – 21/6/2021). Ngày 21/6 được chọn để đánh dấu việc ông Hồ Chí Minh đã một mình thành lập và biên tập Báo Thanh niên - cơ quan của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh Niên - tại Quảng Châu (Trung Quốc) để truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào Việt Nam.
Sartre là con người hoài nghi muôn thuở nổi trôi giữa hai cực Hiên Hữu và Hư Vô- L'Être et Le Néant. Chủ thuyết Existentialisme của Jean Paul Sartre là hiện thân của nước Pháp và Châu Âu ở hậu bán thế kỷ thứ XX. Charles De Gaule có lý khi ông bảo Sartre là nước Pháp- "Sartre, c'est la France"./.
Chúng ta nên công nhận rằng "cuộc tranh luận về lạm phát" hiện nay như là những gì mà nó đang là: một dấu vết sai lầm được đặt ra bởi những người tìm cách cản trở những nỗ lực của chính quyền Biden để giải quyết một số vấn đề cơ bản nhất của Mỹ. Thành công đòi hỏi nhiều công chi. Cuối cùng, Hoa Kỳ cũng may mắn có được giới lãnh đạo kinh tế mà họ sẽ không chịu khuất phục trước nỗi sợ hãi.
Trước khi hạ cánh an toàn, Bộ Trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh đã không quên bầy tỏ sự quan ngại sâu sắc về cái mối tình hữu nghị (rất) mong manh giữa nước ta và nước bạn: “Tôi thấy lo lắng lắm, không biết tuyên truyền thế nào, chứ từ trẻ con đến người già có xu thế ghét Trung Quốc.”
Hôm nay tôi và quý vị là người được đón nhận ngày lễ quốc gia đầu tiên để ghi nhớ ngày Juneteenth. Chúng ta hãy cùng nhau đi vào lịch sử để ôn và tìm hiểu thêm về ngày này và hi vọng từ đó chúng ta sẽ có những bài học sẽ làm cho cuộc sống ta thêm phần ý nghĩa về tình người cũng như đạo đức.
Cuộc họp thượng đỉnh giữa hai tổng thống Biden và Putin được báo chí quốc tế quan tâm và tin tức về cuộc họp này được loan tải rộng rãi. Phần tóm lược sau dựa vào các bản tin và bình luận của các cơ quan truyên thông Anh, Pháp, Nga và Trung Quốc về cuộc họp này.
Một tiểu tiết khá thú vị được ghi nhận trong cuộc gặp gỡ này là TT Biden đã đến biệt thự Villa La Grande, nơi tổ chức cuộc họp sau Putin. Theo bản tin của VOA Anh ngữ, dù Putin đã đến khá đúng giờ, nhưng đây là sắp xếp chu đáo của các nhân viên Bạch Ốc nhằm ngừa sự tái diễn như TT Donald Trump đã bị Putin cho đợi đến 30 phút trong cuộc họp thượng đỉnh tại Helsinki vào năm 2018, dù trước đó Trump đã đến muộn khi đến họp với NATO hay yết kiến Nữ Hoàng Anh.
Nền âm nhạc Việt Nam đã mất đi những khuôn mặt tài hoa, nhân cách… nhưng, rất may đã gởi lại những ca khúc bất tử. Nhạc sĩ tài hoa của nhân loại Johann Sebastian Bach (1865-1750) cho rằng “Âm nhạc có thể giúp tinh thần rũ sạch mọi bụi trần của cuộc sống thường ngày” nên khi “đầu óc vẩn đục” hãy lắng nghe ca khúc của tác giả đã quý mến để rũ sạch bụi trần.
Tôi đã được đọc rất nhiều bài trong “Hoa Cỏ Bên Đường” trước khi chúng được chọn cho vào tuyển tập này. Mấy năm nay, cô Kiều Mỹ Duyên luôn dành cho Bút Tre hân hạnh đăng những bài viết ngắn của cô. Bài nào cũng được độc giả khen tặng, đặc biệt bài “Cho Nhau Thì Giờ” gây tác động sâu sắc đến người đọc.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.