Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Ảo Ảnh Đầu Tư Nước Ngoài

25/06/200800:00:00(Xem: 6811)
...Nhân công của ta làm thợ, của họ làm thầy, và họ làm chủ...

Tuần qua thị trường chứng khoán Trung Quốc lại tuột giá mất 60% từ đỉnh cao vào tháng 10 năm ngoái; nội sáu tháng thì mất 50% trị giá. Khi thế giới thấy ra sự bất trắc của kinh tế Trung Quốc, một số dư luận cho là đầu tư trực tiếp từ nước ngoài sẽ rút khỏi Hoa Lục để chảy vào xứ khác, như Việt Nam. Diễn đàn Kinh tế đài RFA sẽ phân tích hy vọng đó qua phần trao đổi sau đây của Mạc Lâm với kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa.

Hỏi: Thưa ông, câu hỏi đầu tiên của chúng tôi là giới đầu tư nước ngoài có thật rút khỏi Trung Quốc không" Nếu đúng vậy thì tại sao" Phải chăng thế giới bắt đầu thấy Trung Quốc tuột đỉnh như ông phân tích trong chương trình tuần trước"

- Thưa chưa hẳn vậy. Chúng ta cần thận trọng khi nói về nguyên nhân của các chuyển động lớn vì còn cái duyên, theo kiểu ta hay nói trên diễn đàn này, là thời điểm khi nào xảy ra, vì sao...

- Đầu tiên, khi nói đến đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào Trung Quốc, ta nên phân biệt ba loại. Thứ nhất từ Tây phương thì số lượng không thay đổi nhiều sau khi xứ này gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO. Thứ hai là nguồn đầu tư từ các lân bang Đông Á, thì quả là có tăng và nay bắt đầu giảm. Thứ ba là nguồn tài sản từ các doanh nghiệp Trung Quốc được lập ra ở bên ngoài để tìm mối lợi về thuế vụ và đầu tư ngược vào trong. Khoản tiền ấy cũng giảm và là mặt thật của nạn tẩu tán tài sản mà diễn đàn này cũng đã phân tích từ năm ngoái.

- Theo bộ Thương mại Trung Quốc, trong bốn tháng đầu năm 2008, đầu tư nước ngoài được thực hiện đã lên tới 35 tỷ đô la, tăng 60% so với cùng kỳ năm ngoái. Nhưng thực tế thì số dự án đầu tư được chấp thuận đã giảm 23% so với cùng kỳ năm ngoái. Tức là chiều hướng rút chạy mới chỉ manh nha, nhưng có thể gia tăng trong thời gian tới.

Hỏi: Nhưng vì sao lại có hiện tượng rút vốn đó"

- Tùy theo xuất xứ mà ta có thể tìm ra nhiều nguyên nhân khác nhau. Thứ nhất là tư bản nội địa là các đại gia có chức có quyền đã hết tin vào kỳ vọng sinh lời tại Hoa Lục. Thứ hai, đầu tư Đông Á và Tây phương cũng bắt đầu hoài nghi thị trường này vì nhiều lý do.

- Lý do đầu tiên là bất ổn chính trị trong nội bộ khiến lãnh đạo Trung Quốc bắt đầu có ý đổ lỗi cho tư bản và doanh nghiệp nước ngoài về khó khăn xã hội bên trong. Một thí dụ điển hình là họ dùng luật lệ lao động và công đoàn quốc doanh để gây sức ép với doanh nghiệp ngoại quốc. Lý do thứ nhì là vì mức sống có cải thiện tại các tỉnh duyên hải, lương bổng tăng làm lợi thế nhân công rẻ mất dần giá trị, trong khi ấy những đòi hỏi của công nhân về điều kiện lao động an toàn và lành mạnh hơn đã gây nhiều tranh chấp hơn trước.

- Lý do thứ ba thuộc về thời điểm là hàng loạt vấn đề mới. Từ đầu năm 2006, Trung Quốc có nâng tỷ giá Nhân dân tệ và xiết chặt luật lệ đầu tư hầu tránh nạn đầu cơ tài chánh của luồng tiền nóng dư dôi đã khai thác việc đồng bạc lên giá. Kế đó, Trung Quốc cũng giảm đặc miễn thuế vụ cho loại dự án ít giá trị gia tăng. Sau cùng, nạn nguyên nhiên vật liệu lên giá khiến sản xuất có thể bị gián đoạn vì thiếu điện và mai này sẽ còn tốn kém hơn vì hết trợ giá xăng dầu.

- Ngần ấy yếu tố tác động trước hết vào các cơ sở đầu tư hay thu mua nhỏ lẻ. Mai này có thể chi phối cả các công ty lớn, như Wal-Mart hay Home Depot, khi đó nạn tháo chạy ào ạt sẽ xảy ra. Cũng cần nói ngay là một số vấn đề Trung Quốc đã gặp thì hiện cũng có tại Việt Nam, chưa kể tâm lý khủng hoảng đang tràn lan thị trường Việt Nam. Vì vậy, câu trả lời ngắn gọn là mình đừng nên đặt quá nhiều kỳ vọng vào nguồn tiền từ Trung Quốc sẽ chảy vào nước ta.

Hỏi: Xin đi qua phần hai: ông có nói đến nhân và duyên hoặc những chuyển động xa hay gần là tùy thời điểm. Trong một giả thuyết lạc quan thì nếu vượt qua được sóng gió hiện tại, liệu Việt Nam có thể là nơi thu hút khối lượng đầu tư đang rút khỏi Trung Quốc không"

- Tôi thiển nghĩ là có, mà không nhiều, nhưng lại là nguy cơ lâu dài nếu lãnh đạo Hà Nội ước mơ điều ấy khi thấy nhập siêu tiếp tục tăng, trong sáu tháng đầu năm đã lên tới gần 17 tỷ đô la.

- Lý do thứ nhất là vì lạc quan với viễn ảnh hội nhập WTO, năm ngoái đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào Việt Nam có tăng gấp đôi so với năm kia. Rồi số cam kết trong sáu tháng đầu năm nay đã lên tới gần 32 tỷ, hơn cả năm 2007 tới 10 tỷ. Nhưng, tiến độ thực hiện các dự án thì vẫn chậm như cũ nên Việt Nam mới chỉ sử dụng được chừng một phần ba, là cỡ bảy tỷ đô la số cam kết năm ngoái. Tức là thiên hạ hồ hởi gom tiền mà Việt Nam vẫn chậm lụt. Vì vậy, nếu đầu tư nước ngoài mà có rút khỏi Trung Quốc và tràn vào Việt Nam thì chưa chắc xứ này đã kịp nuốt trôi, và nếu không trôi thì sẽ ộc qua ngả khác thành đầu cơ hay lạm phát.

Hỏi: Khi ông nói "thứ nhất" thì nghĩa là còn có nhiều yếu tố khác cũng đáng kể phải không"

- Thứ hai là Việt Nam nuôi hy vọng thay thế Trung Quốc vì lương bổng rẻ, chứ nhiều xứ nghèo hơn cũng có thể nuôi hy vọng đó. Nếu Bangladesh với dân số 150 triệu cũng xếp hàng chờ đợi thì lợi thế lương bổng rẻ của Việt Nam có thể tiêu hao, cho nên xin đừng vội lạc quan!

- Thứ ba, xã hội và môi trường đầu tư Việt Nam không khác gì Trung Quốc với ngần ấy tệ nạn tham nhũng hay ách tắc vì luật lệ rườm rà. Cả hai đều có thói chung là đề cao tinh thần dân tộc, sai khiến báo chí và sử dụng công đoàn quốc doanh làm võ khí bắt ép đầu tư. Bây giờ, khi Việt Nam cần đầu tư quốc tế thì ép công nhân khiến họ phải đình công biểu tình, nhưng sau này cũng sẽ lại áp dụng bài bản Trung Quốc để dùng công đoàn ép doanh nghiệp. Nhìn về dài, rời Hoa Lục mà vào Việt Nam thì cũng như bước vào một tỉnh lạc hậu của Trung Quốc với cùng luật chơi là không có nghiệp đoàn tự do hay công đoàn độc lập. Mà yếu tố ấy vẫn chưa là căn bản.

Hỏi: Sau khi nêu ra ba bốn yếu tố bi quan, ông còn nói rằng đấy chưa là vấn đề cơ bản! Chẳng lẽ còn nhiều lý do kém lạc quan hơn hay sao"

- Tôi thật không thích xối nước vào đám rước nhưng mình vẫn phải nói ra vài ba điều kém vui. Nhật Bản là chủ nợ và chủ đầu tư đáng kể tại Đông Á nên từ năm ngoái đã nghiên cứu kỹ việc chuyển dịch đầu tư vào Việt Nam là điều mà diễn đàn này đã nói tới với nhiều hy vọng. Gần đây, cơ quan khuếch trương ngoại thương Nhật, mà thế giới quen gọi tắt là JETRO, vửa công bố kết quả khảo sát ý kiến doanh nhân của họ về triển vọng làm ăn tại Việt Nam.

- JETRO báo cáo là năm 2006, tỷ lệ ủng hộ việc làm ăn tại Việt Nam lên tới cao điểm là 75,4%. Qua năm 2007, khi Việt Nam ăn mừng việc gia nhập WTO, tỷ lệ đó chỉ còn là 41,7%! Mà đấy là kết quả khảo sát ý kiến doanh gia Nhật trước khi khủng hoảng hoành hành tại Việt Nam và lý do chính khiến họ bớt tin tưởng là vì ách tắc hành chính quá lớn và rất bất nhất tùy tiện của Việt Nam, theo ý kiến của họ thì còn khó lường hơn Trung Quốc! Mà nhìn trong trường kỳ thì đấy vẫn chưa phải là chuyện đáng ngại nhất.

Hỏi: Ông nêu ra rất nhiều yếu tố cản trở mà vẫn kết luận là chưa đáng ngại nhất! Nếu vậy, còn lý do gì khác khiến Việt Nam không nên "hồ hởi sảng" như ông thường nói"

- Lý do đáng ngại nhất là khả năng hấp thụ tư bản để sinh lời, yếu tố chính là giới đầu tư ngoại quốc nghĩ khác với lãnh đạo Việt Nam.

- Nói về sức hấp thụ, thì Trung Quốc nhận được cỡ 84 tỷ đẩu tư nước ngoài cho một dân số một tỷ ba, gấp 15 lần Việt Nam trên một diện tích rộng gấp 33 lần. Cùng lúc đó, Việt Nam nhận được 23 tỷ cho dân số 85 triệu trên mảnh đất nhỏ hơn Hoa Lục. Về địa dư và dân số, trung bình một người Việt nhận được đầu tư nước ngoài là 270 đồng, gấp bốn người Hoa trên diện tích bằng 3% diện tích Trung Quốc. Một lối so sánh khác thì đầu tư trực tiếp vào Trung Quốc ở quãng 3% tổng sản lượng nội địa GDP, chưa bằng một phần ba tỷ lệ của Việt Nam. Đây là chưa nói tới đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng phiếu Việt Nam, cũng lên tới gần 9% GDP và đã thổi lên lạm phát và đầu cơ vì hối suất quá rẻ của Việt Nam.  Mật độ rất cao của Việt Nam là ảo giác nguy hại vì tư bản trút vào quá nhiều mà không hấp thụ nổi để đưa vào sản xuất thì sẽ chảy qua đầu cơ.

- Nói về tính toán kinh doanh, nếu muốn vào Việt Nam lập hậu cứ chế biến và tái xuất khẩu ra ngoài thì làm sao nhà đầu tư có thể sinh lời nhiều trên một khu vực có hạ tầng cơ sở vật chất thô thiển, hạ tầng luật lệ nhiêu khê như vậy" Diễn giải cho dễ hiểu hơn thì đầu tư ngoại quốc vào Việt Nam đã quá nhiều nên sớm bão hoà. Cho nên chưa chắc là các đại gia về phân phối hay chế biến như Wal-Mart hay Procter &Gamble sẽ rời Trung Quốc để dồn dập đổ bộ vào Việt Nam. Đây rõ ràng là chuyện lượng kém phẩm.

Hỏi: Chúng ta đang đi vào đoạn kết. Nếu triển vọng tiếp nhận đầu tư của Việt Nam thật ra lại thiếu sáng láng như vậy thì, thưa ông, đâu là giải pháp cho Việt Nam"

- Trước mắt, chúng ta đừng rót nước đường cho nhau uống mà nên hiểu tâm lý của giới đầu tư. Tất cả tùy vào năng suất: cùng một đồng đầu tư vào một người trên một mét vuông, nơi nào sinh lợi cao nhất thì họ tìm đến. Dựa vào lợi thế nhân công rẻ và ép lương thợ thuyền để chiêu dụ đầu tư vào ngành ráp chế thì Việt Nam thi hành một chính sách bất công và không bền vì các xứ nghèo hơn cũng sẽ làm như vậy. Chung cuộc thì vẫn không có "sản phẩm của Việt Nam" mà chỉ có sản phẩm "chế tạo tại Việt Nam", mai này sẽ ráp chế tại nơi có lương rẻ hơn.

- Giải pháp lâu dài - mà vì lâu dài nên phải khởi sự ngay - là chú trọng tới phẩm hơn lượng. Cụ thể là nâng cao tay nghề của nhân công và trình độ chuyên môn của kỹ sư Việt Nam, là ưu tiên đầu tư vào giáo dục và đào tạo, hơn là vắt lương thợ để kiếm lời.

Hỏi: Hình như là ông đang trình bày một cách nhìn khác về đầu tư.

- Thưa đúng thế, một cách nhìn và cách sống khác. Hãy nhớ tới hai trung tâm thu hút đầu tư rất lớn trên diện tích rất nhỏ với dân số cực thấp như Hong Kong hay Singapore. Sàigon đã mất vị trí xứng đáng của mình cho Singapore và nay lệ thuộc vào giới đầu tư quốc tế có trụ sở tại đấy, trên một lợi thế đau buồn là nhân công của ta rẻ hơn của họ! Nhân công của ta làm thợ, của họ làm thầy, và họ làm chủ, chỉ chia lời cho lãnh đạo là xong. Mức lời giảm là họ bỏ đi nơi khác.

- Nếu nhìn lại cho rõ, ta nên thấy môi trường kinh doanh tự do trong sạch với nguồn nhân lực có kiến thức và năng suất cao khiến hai nơi đó tiếp nhận đầu tư và trở thành trung tâm kinh doanh và dịch vụ mà ai cũng muốn bảo vệ để kiếm lời. Người dân hai nơi đó cũng không là lao nô hay mại bản cho thiên hạ tùy ý sai xử hay hành hạ. Vì vậy, Việt Nam cần thoát khỏi ảo ảnh đầu tư ngoại quốc và nhất là đừng quên nội lực đích thực là trí não và tay nghề của người dân.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Tôi rất hãnh diện đã ủng hộ đạo luật lịch sử, mang 130,000 người tị nạn đầu tiên từ các nước Việt Nam, Lào, và Campuchia đến Hoa Kỳ vào năm 1975 và đã thông qua nghị quyết chào đón họ. Tôi đã bỏ phiếu chấp thuận gia tăng ngân quỹ để giúp những người Việt mới đến định cư và sau này tôi đã đồng bảo trợ cho đạo luật dẫn đến sự hình thành của hệ thống di trú theo quy chế tị nạn hiện hành. Tinh thần cứu giúp người tị nạn, chào đón họ đến với tự do sau khi trốn thoát chế độ đàn áp, là giá trị nền tảng của chúng ta và của Hoa Kỳ. Cũng do giá trị đó mà nước Mỹ trở thành biểu tượng của tự do và hy vọng, dẫn đầu thế giới không chỉ bằng sức mạnh của một cường quốc mà bằng hành động cụ thể làm gương cho thế giới. Trong vai trò tổng thống, tôi cam kết sẽ giữ cho nước Mỹ là quốc gia luôn chào đón người tỵ nạn và di dân, và chúng ta ghi nhận sức mạnh phi thường của Hoa Kỳ đến từ xã hội đa dạng và đa sắc tộc của chúng ta.
Hai Dự thảo “Báo cáo Chính trị” (BCCT) và “Tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng nhiệm kỳ Đại hội XII”, gọi ngắn là “Xây dựng, chỉnh đốn đảng”, dành cho Đại hội đảng XIII vào đầu tháng Giêng năm 2021, đã bộc lộ bản tính tham quyền cố vị và tư duy giáo điều
Tại Hoa Kỳ, tháng 10 được chọn là tháng nâng cao hiểu biết về ung thư vú. Theo thông tin từ trang web của Hiệp Hội Ung Thư Vú Quốc Gia (National Breast Cancer Foundation), trung bình cứ 2 phút thì có một phụ nữ được chẩn đoán bị ung thư vú tại đất nước có hệ thống y tế đứng đầu thế giới này. Theo trang web của Hội Ung Thư Việt Mỹ (Vietnamese American Cancer Foundation), ung thư vú là loại ung thư thường gặp nhất ở phụ nữ người Việt nhưng lại có rất ít thông tin về những gì người mắc bệnh đã từng trải qua. Đây một tổ chức vô vụ lợi có văn phòng tại miền Nam Cali được thành lập từ năm 2002 với sứ mệnh ủng hộ và tranh đấu cho quyền lợi của bệnh nhân ung thư.
Dân Việt Nam và các dân tộc trên thế giới tùy theo ảnh hưởng môi trường của nơi cư trú, văn hóa tập tục truyền từ đời này qua đời khác, cách sinh sống, tôn giáo khác nhau, họ có các hình thức mai táng khác biệt riêng mà tôi xin dần dà trình bày ra đây để gọi là góp thêm chút ý kiến với quý vị:
Mấy ngày qua nghe tin nước lụt ngập tràn miền Trung, tôi cứ cố "giả lơ" vì biết mình không thể cầm lòng được khi đối diện thêm lần nữa cảnh hoang tàn mùa lụt lội. Tôi xem lướt qua những hình ảnh nước ngập nhiều nơi ở miền Trung trong tâm trạng bất lực vì những điều tôi mong và muốn cho quê hương vẫn còn xa quá trong tầm với của tay mình.
Chị Phạm Thị Thập làm phu vác ở chợ Đồng Xuân đã được gần 10 năm. Người phu nữ đến từ Hưng Yên có gia đình và hai con nhỏ ở quê nhà, tuy nhiên phải đôi ba tháng chị mới về một lần. Những lúc nhàn rỗi chờ việc chị lại mang kim chỉ ra thêu thùa tranh và khăn dành tặng cho chồng con ở nhà.
Bác sĩ Anthony Fauci, Giám đốc Viện Quốc gia Mỹ về các bệnh dị ứng và truyền nhiễm, cảnh báo chính sách này có thể khiến nhiều người tử vong, ngay cả khi tỷ lệ người nhiễm không triệu chứng ở mức tương đối cao. “Với nạn béo phì, cao huyết áp và tiểu đường tại Mỹ, nếu mọi người bị nhiễm Covid-19, con số tử vong sẽ rất lớn và hoàn toàn không thể chấp nhận”, bác sĩ Fauci giải thích.
Một chi tiết khá thú vị cho sự thành công ngoài mặt trân của ông mà TT. Việt từng chia sẻ, đó là khi ra trận ông luôn nghe như có tiếng trống thúc quân Mê Linh của Hai Bà Trưng, tiếng trống thúc giục lòng yêu nước của quân sĩ chiến đấu để bảo vệ bờ cõi.
Các chuyên gia Việt nhìn thấy bất cập (giàu nghèo, môi trường, bất công, thất thoát…) nhưng đối với giới đầu tư ngoại quốc thì cơ hội đầu tư lại đến từ những mất cân đối trong số này (giá lương thấp, hư hại môi trường,…) Cho nên dù hai kết luận khác nhau nhưng nền kinh tế Việt Nam vẫn còn nhiều cơ hội cất cánh trong một thời gian dài.
Người ta nghi rằng nguồn gốc của triết lý tam không nói trên có lẽ đã được một nhà sư Phật gíáo thuộc tông phái Thiên thai (?) (Tiantai Zong), Trung Quốc đề cập đến trong tác phẩm của ông ta, "Không thấy, không nghe và không nói" vào koảng thế kỷ thứ VIII.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
Người Việt Phone
Không còn nghi ngờ gì nữa, khẩu trang đã đóng một vai trò trung tâm trong các chiến lược đối đầu với dịch bệnh COVID-19 của chúng ta. Nó không chỉ giúp ngăn ngừa SARS-CoV-2 mà còn nhiều loại virus và vi khuẩn khác.
Hôm thứ Hai (06/07/2020), chính quyền Mỹ thông báo sinh viên quốc tế sẽ không được phép ở lại nếu trường chỉ tổ chức học online vào học kỳ mùa thu.
Đeo khẩu trang đã trở thành một vấn đề đặc biệt nóng bỏng ở Mỹ, nơi mà cuộc khủng hoảng Covid-19 dường như đã vượt khỏi tầm kiểm soát.
Trong khi thế giới đang đổ dồn tập trung vào những căng thẳng giữa Mỹ với Trung Quốc, thì căng thẳng tại khu vực biên giới Himalaya giữa Trung Quốc và Ấn Độ vào tháng 05/2020 đã gây ra nhiều thương vong nhất trong hơn 50 năm.
Ủy ban Tư pháp Hạ viện Mỹ cho biết các CEO của 4 tập đoàn công nghệ lớn Amazon, Apple, Facebook và Google đã đồng ý trả lời chất vấn từ các nghị sĩ Quốc hội về vấn đề cạnh tranh trong ngành công nghệ.