Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Giảm Thiểu Hâm Nóng Toàn Cầu: Bón Phân Đại Dương

12/04/200800:00:00(Xem: 4836)

Đứng trước vấn nạn thán khí hay khí carbonic CO2 ngày càng thải vào không khí nhiều hơn qua phát triển, mặc dù thế giới, ngoại trừ Hoa Kỳ, đã bắt đầu áp dụng Nghị định thư Kyoto vào tháng hai năm 2007, trong đó mỗi quốc gia phải giảm thiểu mức khí CO2 phát thải ở năm 2012 thấp hơn lượng khí thải hồi trong năm 1990.

Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để giảm lượng khí CO2 trong khi nhu cầu phát triển ngày càng tăng và lượng năng lượng cần thiết cho nhu cầu trên cũng phải tăng theo.

Để giải quyết tình trạng trên, hiện nay, các nhà khoa học và quản lý quốc gia đã đi đến nhiều kết luận và những phương pháp giảm thiểu đang áp dụng như sau:

- Cải thiện quy trình sản xuất sạch hơn và ít dùng năng lượng so với những phương pháp cũ đã lỗi thời;

- Cải thiện quy trình sản xuất để tạo ra nhiều của cải vật chất hơn, do đó mức năng lượng dùng cho một đơn vị sản xuất sẽ ít hơn;

- Nghiên cứu và áp dụng các nguồn năng lượng mới ít/không tạo ra khí thải CO2 như: Năng lượng gió, hạch nhân, hydrogen, mặt trời, năng lượng sinh khí, năng lượng từ rong, từ thực vật, năng lượng Ethanol. Methanol v.v… (xin đọc các bài viết nầy trên web www.vastvietnam.org);

Và từ năm 1993, khoa học gia trên thế giới đã nghĩ và đang thí nghiệm làm thế nào để hấp thụ, hay tiêu thụ lượng khí carbonic trong không khí. Và câu hỏi đã có giải đáp là dùng đại dương để làm việc nầy.

Trên thế giới, đại dượng đã chiếm hơn 4/5 diện tích và theo ước tính của các nhà khoa học, các loại đơn bào phytoplankton đã điều chỉnh hàng năm trên 50 tỷ tấn carbon qua việc hấp thụ khi CO2 trong không khí để phát triển. Đơn bào phytoplankton muốn phát triển phải cần ánh sáng và thức ăn “nutrients” để sinh sôi nẩy nở trong quá trình quang tổng hợp (photosynthesis). Sự phát triển biến đổi đơn bào thành nhị bào (diatom) và các nhị bào nầy sẽ chìm xuống đáy biển.

Và thức ăn chính làm tăng quá trình phát triển trên là sắt (Iron) dưới dạng muối sulphate FeSO4.

Căn nguyên của sự suy nghĩ

Có thể nói đến Moss Landing Marine ở Moss Landing,CA là nơi phát xuất suy nghĩ cho sắt vào đại dương để hấp thụ khí carbonic trong không khí theo chiều hướng giải quyết sự hâm nóng toàn cầu. TS John Martin (1935-1993), một nhà đại dương học là người đã gợi ý đầu tiên trong việc phát triển phytoplankton trong nước biển để nuôi các sinh vật biển. Một trong những luận án do T. Mai  Đại học US Davis thực hiện, nhằm mục đích tăng nguồn thức ăn biển phytoplankton cho tôm cá bằng cách cho sulphate vào nước biển. Phương pháp nầy hiện đang được những công ty chăn nuôi biển áp dụng. Và từ suy nghĩ trên, TS quay sang việc giải quyết nạn hâm nóng toàn cầu bằng cách hấp thụ khí CO2 trong không khí khắp nơi sau khi nhận biềt và quan sát là lượng sắt ở dưới đáy biển trong thời đại băng giá cao hơn trong giai đoạn trái đất nóng trong hiện tại.

Ông suy luận rằng, cần phải rãi lượng sulphate sắt vào một số vùng trong đại dương có nguồn thức ăn cao (nutrients), nhưng ít xảy ra sự đồng hoá diệp lục tố; phản ứng sẽ tạo ra nhiều đơn bào kết hợp lại thành rong (algae). Nếu những vùng nầy được “bón” bằng phân sắt trên, sự tăng trưởng của rong sẽ kéo theo carbon qua việc hấp thụ khí carbonic trong không khí  và hiện tượng nầy có khả năng làm đão lộn hiệu ứng nhà kính và làm cho trái đất nguội lại. Ông  đoan chắc điều trên dựa theo lý thuyết: vi sinh vật biển có chứa diệp lục tố sẽ hấp thụ khí CO2 để tạo thành khối sinh khí (biomass) và khối sinh khí nầy sẽ chìm sâu dưới đáy biển.

Lý thuyết trên đã tạo nên nhiều tranh luận sôi nổi, binh và chống lại. Nhưng dù muốn dù không cần phải thử trên một diện tích đại dương rộng lớn mới có thể cho kết luận sau cùng được. Nhưng sau cùng TS Martin đã khơi động được sự chú ý của các nhà khoa học trên thế giới với câu nói bất hủ :“ Cho tôi nửa xe bồn sắt (tức là sulphate sắt) tôi sẽ đem lại cho anh thời băng giá của trái đất”. Từ đó ông có thêm biệt danh là “Ông Sắt” (Iron man).

Giấc mộng của ông theo ông xuống tuyền đài. Nhưng chỉ vài tháng sau khi ông mất, lý thuyết của ông lại được các cộng sự viên trong phòng thí nghiệm Moss Landing Marine điều chỉnh sau và đã chứng minh thành công sau khi rãi sulphate sắt trong vùng quần đão Galapagos gây chấn động trên thế giới.

Và từ đó cho đến năm 2005, có thêm 12 vùng biển được “bón phân” từ 1 đến 3 tấn phân sắt trên một diện tích khoảng 100 Km2, trong đó có vùng cực nam Phi Châu, Úc Châu, một số vùng ở Nam cực, và Bắc cực.

Những nghi vấn cần có giải đáp

 Cho đến hôm nay, 2008, sau sự thành công mỹ mãn của 12 vùng thử nghiệm, các nhà khoa học dự định làm những cuộc thử nghiệm trên một vùng biển lớn hơn vào năm 2009 và đã chọn Ecuador vào tháng 5 tới đây làm địa điểm hội nghị để lấy quyết định đồng thuận sau cùng.

Các quan điểm binh và chống lý thuyết trên giai đoạn sinh dựa theo một số căn bản khoa học và luật lệ chung toàn cầu qua Thượng đỉnh Rio de Janerio vào năm 1993 tại Brazil, áp dụng cho đại dương.

Một số khoa học gia căn cứ vào chu kỳ sinh học của đại dương gọi là “giai đoạn sinh học đại dương hoạt động” (ocean’s biological pump). Ở chu kỳ nầy phytoplankton hấp thụ khí carbonic nhiều hơn do đó sẽ chuyển vận carbon của CO2 và chìm vào đáy biển. Sự gia tăng khí carbonic trong không khí sẽ làm thay đổi trạng thái sinh học biển và nếu trong giai đoạn nầy, thêm sulphate sắt vào trong biển sẽ kích thích tiến trình hấp thụ nhanh hơn. Theo ước tính của Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia Hoa Kỳ (National Research Council), chỉ cần tiêu tốn một tỷ Mỹ kim để giải quyết 1 tỷ tấn Carbon của khí CO2.

Tuy nhiên vấn đề then chốt trong tranh cãi là, liệu một khi sắt cùng với carbon đi vào lòng biển sâu, và sau đó 100 năm sau, chuyện gì sẽ xảy ra" Và cũng đã có nhiều câu hỏi về đạo đức khoa học trong việc sư dụng nguồn biển và liên quan đến nhiều điều luật quốc tế khi phát thải (dump) hoá chất vào đại dương.

Vào tháng 9/2007, hàng chục khoa học gia trên thê giới, quản trị xí nghiệp và những nhà làm luật đã thảo luận trong 2 ngày tại Woods Hole Oceanographic Institution (WHOI) nhằm mục đích cải thiện hiệu năng và an toàn đại dương trên bình diện thí nghiệm trên một diện tích lớn. Những điểm cần lưu ý đến là:

- Làm thế nào để ứơc tính diện tích biển được khoanh vùng để “bón phân”;

- Làm thế nào để xác định và tính toán lượng oxy trong khí carbonic được phân phối;

- Làm thế nào để quan sát chu kỳ của các khí lồng kính khác như khí methane và các oxid nitrogen trong không khí sau khi một lượng lớn khí carbonic bị hấp thụ xuống biển.

Do đó, một cuộc thí nghiệm dài hạn cần phải giải đáp những câu hỏi trên và thiết lập những mô hình toán cùng kết quả thăm dò thường trực. Trong năm 2009, các nhà hải dương học dự định tìm nguồn vốn và thực hiện hai thí nghiệm rộng lớn kết hợp liên quốc gia gồm Đức, Ấn Độ, Ý, Pháp, Chí Lợi để thành lập cuộc nghiên cứu mang tên Lohafex (Loha, từ Ấn Độ nghĩa là sắt). Thí nghiệm nầy sẽ thực hiện ở vùng biển Scotia Sea nằm ở phía nam Nam Mỹ và Nam cực.

Mục tiêu của cuộc thí nghiệm là trên một vùng biển rộng 2.000 Km2   sẽ rãi 20 tấn sulphate sắt. Sau đó sẽ theo dõi mọi chuyển biển trong nước biển và không khí trong vùng trong vòng 7 tuần lễ, phân tích hàm lượng sắt thay đổi theo thời gian cũng như theo dõi lượng phytoplankton trong trầm tích v.v…

Vấn đề được đặt ra là, nếu rãi sulphate sắt xuống biển với quy mô lớn, hệ sinh thái biển có thể bị ảnh hương như thế nào" Và vùng không khí bao bọc bên trên, khi bị mất nhiều khí carbonic có thể có những hệ quả như thế nào đối với sinh vật sống trong không khí" Đó là hai khía cạnh về đạo đức khoa học cần lưu tâm.

Thêm nữa, căn cứ theo Quy ước London 1972, luật quốc tế về biển quy định phải bảo vệ môi trường biển để tránh sự lạm dụng của con người qua việc phát thải tất cả  các loại hoá chất vào lòng biển. Nghị định thư London vào năm 2006, chỉ cho phép “nhốt” (trap) CO2 vào lòng biển mà thôi.

Vì vậy, cũng có một số khoa học gia bảo thủ đặt nhiều nghi vấn về giài pháp giảm thiểu sự hâm nóng toàn cần bằng phương pháp bón phân trên. Trước hết một số nhà hoá học lưu ý rằng nếu sử dụng sulphate sắt thì hoá chất nầy phải được tinh chế, vì nếu không các tạp chất trong đó sẽ ảnh hưởng không nhỏ lên hệ sinh thái biển. Và một số yêu cầu khác là cần phải nghiên cứu những hệ quả tiêu cực của phương pháp hơn là áp dụng với quy mô lớn một khi chưa thõa mãn được những câu hỏi cần có giải đáp trên. Vì chúng ta chỉ có một Đại Dương duy nhất mà thôi theo như lời của một nhà đại dương học lớn của thế giới, GS Leinen.

Qua những thông tin trên đây, chúng ta nhận thức được rằng, ngày hôm nay, con người đã, đang, và sẽ không ngừng làm ô nhiễm môi trường sống của chính mình dưới hình thức nầy hay hình thức khác. Một hành động dù vô tình hay cố ý, có ý thức hay không ý thức của chúng ta cũng có thể gây ảnh hưởng tai hại đến môi trường sống chung quanh. Một thí dụ nhỏ là nếu chúng ta thay dầu hay rữa radiator tại nhà, nước rữa cùng dầu nhớt sẽ theo đường cống “run off” chảy thẳng vào biển mà không qua xử lý. Do đó, đã đến lúc cần phải báo động là mỗi người trong chúng ta cần phải tự cảnh giác để cứu thiên nhiên, tức là tự cứu lấy chính mình.

Mai Thanh Truyết

West Covina, 4/2008

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Tôi tha phương cầu thực đã lâu nên tiếng mẹ đẻ không khỏi có phần giới hạn. Bữa qua, đứng xếp hàng ở chợ chờ trả tiền thùng bia, chợt nghe loáng thoáng dăm câu đối thoại của mấy người đồng hương mà không khỏi có đôi chút băn khoăn: Vậy chớ chị thuộc diện gì? Nào có “thuộc diện” gì đâu. Mình chỉ là loại … ăn theo thôi mà! Về nhà, xem qua tự điển thì thấy Soha định nghĩa (“ăn theo”) thế này: Khẩu ngữ: Được hưởng hoặc có được nhờ dựa theo cái khác, người khác, không phải do tự bản thân có hoặc làm nên: “Nước lên cá đuối ăn theo, Lái buôn hết gạo bỏ neo cầm chừng.” (Cdao)
Lời người dịch: Các lý giải của Jude Blanchette và Richard McGregor về sự ra đi và kế vị của Tập Cận Bình trong tương lai là một đóng góp hữu ích cho độc giả quan tâm đến sự nghiệp chính trị của Nguyễn Phú Trọng và sự thống trị của ĐCSVN, vì không có sự khác biệt to lớn trong hệ thống chính trị của Trung Quốc và Việt Nam. Nhưng hai tác giả không nêu lên một khía cạnh thời sự đang tác động cho tình thế là dịch bịnh COVID-19. Cả hai ĐCSTQ và ĐCSVN đều luôn tự hào về các thành tích kinh tế toả sáng mà không cần cải cách tự do chính trị và tự tuyên dương là “cường quốc chống dịch bịnh” hữu hiệu hơn các nước dân chủ phương Tây. Hiện nay, biến chuyển thảm khốc về dịch bịnh tại Việt Nam cho thấy một sự thật khác hẳn và giúp cho người dân có một cơ hội để nhận định đúng đắn hơn về sự lãnh đạo của ĐCSVN.
Ở độ cao hơn 46,000 feet tức là cao hơn 14 kilomets trên vùng sa mạc khô cằn của tiểu bang New Mexico, chiếc phi thuyền không gian màu trắng và bạc đã được hỏa tiễn phóng lên hướng về bầu khí quyển của Trái Đất, cỡi lên một chòm khói khí đốt và nhiên liệu cao su cứng đang cháy rực, theo ký giả Michael Greshko của báo National Geographic. Một vài phút sau, 2 phi công và 4 hành khách của phi thuyền, gồm tỉ phú Richard Branson, đã trôi trên bề mặt của hành tinh chúng ta hơn 53 dặm, tức hơn 85 cây số là độ cao đủ để nhìn thấy độ cong của Trái Đất và trượt qua mối ràng buộc của hấp lực, trong vòng ít nhất vài phút. Chiếc phi thuyền lấp lánh đó -- Virgin Galactic’s V.S.S. Unity – được phóng vào không trung từ một chiếc máy bay lớn hơn để đạt tới độ cao hơn 53 dặm trên bầu trời. Khi nó hoàn tất đường phóng lên, nó xoay cặp đuôi của nó lại, sắp xếp lại hình dạng chiếc phi thuyền để cho phép nó rơi trở lại thượng tầng khí quyển như một trái banh vũ cầu. 15 phút sau khi tách khỏi phi thuyền mẹ,
Câu chuyện của Giannis Antetokounmpo cũng là câu chuyện của những người di dân Mỹ. Bất kể đến từ đâu, bất kể màu da, bất kể chủng tộc, giá trị của người di dân chỉ có thể được đánh giá trên sự phấn đấu và những đóng góp của họ cho quê hương mới.
Như vậy, thì “mạng xã hội” đã lũng đoạn thành công và làm tha hóa đảng Cộng sản chưa, hay là, nói như lời để lại ngày 15/09/2017 của Cố Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên Đại sứ của CSVN tại Bắc Kinh (Trung Cộng) rằng: ”ĐCSVN nay đã hoàn toàn biến chất, trở nên quá hư hỏng, khó có thể sửa chữa được! Đảng đã đánh mất mình, không còn xứng đáng là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội nữa.”
Sóng radio, sóng ánh sáng lan tỏa trong không gian như thế nào ta đã biết. Chỉ còn một thắc mắc: Nguyên do nào khiến một vi phân tử, thí dụ như photon, “bay” nhanh đến thế – có thể nhanh nhất trong Vũ Trụ. Theo truyền thống, trước hết, thỉnh ý tiền nhân. Lên Gúc, tra cứu sách báo khoa học, không thấy các ngài – như Einstein, Newton – dạy bảo gì rõ ràng, dứt khoát về vụ này. Đành trông chờ ở các bậc cao minh của thời đại chúng ta.
Trong bóng hậu trường đàm phán có các sự thật khác mà hồi ký của Khrushchev hé lộ một phần trong chi tiết. Khrushchev kể lại nội dung trao đổi giữa Chu Ân Lai với Hồ Chí Minh. Về diễn tiến trận Điện Biên Phủ, Hồ Chí Minh cho biết tình hình chiến sự là tuyệt vọng, nếu không ngừng bắn sớm, Việt Minh không thể chống Pháp trong lâu dài. Trước nguy cơ này, Viêt Minh, khi cùng đường, có thể tháo chạy qua biên giới tìm nơi trú ẩn và xin Trung Quốc tiến quân sang Việt Nam, như đã làm ở Triều Tiên.
Với riêng những người dân Việt Nam, còn có thêm câu trả lời rằng, chính phủ Mỹ của tổng thống Joe Biden hiện nay cũng là một ân nhân khi đã viện trợ và chấp thuận các hãng chế tạo thuốc ngừa Covid của Mỹ được phép bán thuốc cho Việt Nam vì nội các tiền nhiệm của Trump đã từ chối tham gia chương trình viện trợ nhân đạo COVAX cho thế giới. Chích mũi thuốc Pfizer hay Moderna, hy vọng người dân Việt Nam sẽ nhớ đến điều này.
Đạo đức của thị trường không phải kinh doanh lương thiện mà chính ở chổ đầu tư khôn ngoan và chính chắn sẽ được thị trường tưởng thưởng, bằng ngược lại liều lỉnh hay lảng phí sẽ bị đào thải. Bàn tay vô hình thường xuyên tẩy sạch các sai lầm thì thị trường mới sinh hoạt tự do và lành mạnh. Sách báo kinh tế Hoa Kỳ lại nhắc đến “moral hazard” hay là rủi ro đạo đức. Giống như cháu hư tại bà tức có can thiệp từ bên ngoài - thường là do bàn tay hữu hình của nhà nước – dung dưỡng bao che khiến thị trường trở nên ỷ lại không cải sửa thói hư tật xấu. Thị trường không tự sửa sai sẽ có ngày vấp ngã giết chết nền kinh tế.
“Các ‘đại gia’ đó đã trở về Việt Nam từ thập niên 1990 khi đất nước bắt đầu mở cửa để đổi mới. Họ đầu tư chủ yếu vào bất động sản và xây dựng quan hệ là hai thứ tài sản có lợi nhất trong thời quá độ. Với túi tiền và kinh nghiệm tham nhũng ở Liên Xô và Đông Âu cũ, họ là những người cơ hội (như ‘carpetbaggers’) đặc trưng của thời kỳ tích tụ tư bản hoang dã.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.