Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Bí Ẩn Về Nhân Duyên: Nên Chọn Lựa Tùy Duyên Số

20/09/200800:00:00(Xem: 15072)

Phong Thủy & Tử Vi Gia Song Lộc

(Ký sự, tham luận về Phong Thủy: Tử Vi lý số và huyền học của Song Lộc (626) 289-8467.)

Trước đây trong bài "ly dị: một căn bệnh xã hội có thể chữa trị", tôi đã trình bày sơ lược những điểm chính  dựa trên lý số và tập tục xã hội Việt Nam để đem lại cho các bạn trẻ những cuộc hôn nhân hạnh phúc va trọn vẹn.

Trong bài này, với phần trình bày chi tiết hơn, tôi hy vọng sẽ giúp các bạn trẻ có cơ sở suy ngẫm, có thể tự chọn cho mình một người bạn đường, một cuộc hôn nhân hạnh phúc để có một mái ấm gia đình hoàn tòan như ý.

Lẽ dĩ nhiên trong hoàn cảnh hiện tại phong hóa và môi trường khác biệt với đất nước ta, ta không thể câu nệ và quá khắt khe trong việc chọn người phối ngẩu. Chúng ta sống phân tán trên 50 tiểu bang, chỗ thì "trai thiếu gái thừa"; chỗ thì "trai thừa gái thiếu", ta không thể "chọn dâu" với điều kiện phải:

- Môn đăng hộ đối: lá ngọc cành vàng

- Đủ "tam tòng tứ đức"

Hoặc "kén rể" với tiêu chuẩn:

- Văn võ toàn tài: "Xuống Đông, Đông tĩnh lên Đoài, Đoài tan".

- Có chí khí hiên ngang: "gươm đàn nửa gánh non sông một chèo".Nhưng chắc chắn chúng ta cũng nên xem xét kỹ càng đối tượng trước khi chọn lựa: lấy vợ: Lấy vợ xem tông; lấy chồng xem giống". Thực tế, không lui tới để biết rõ về gia đình "đối tượng", ta có thể "lấy" phải một người có bệnh di truyền như bệnh run, điên loạn hoăc tứ chướng nan y…lúc đầu thì không sao, nhưng chỉ năm mười năm sau là run đi không nổi, hoặc hò hét tối ngày…thì làm sao mà có hạnh phúc được, mà caí là "nghiệp quả" phải gánh chịu hãy cẩn thận.

Ngày trước, ngoài việc tìm hiểu về gia đình cô dâu, chú rể, các bậc trưởng bối trong gia đình như Ông Bà, Cha Mẹ…thường kiếm một cây trầu làm lễ vật với "Bát Tự Niên Canh" (năm, tháng, ngày, giờ sanh) đến nhờ các bậc thâm nho hoặc khoa bảng…so đôi tuổi, có nghĩa là xem xét kỹ càng xem cô dâu chú rể có hợp với nhau không, và chọn năm, tháng, ngày, giờ tốt cho việc nạp thái và vu quy (hỏi, cưới):

1/ So tuổi:

A. Tuổi: tuổi chia ra can và chi (gồm 10 căn: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý, và 12 chi: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.

a- Can: Phải chọn "hợp" và tránh "phá"

Hợp:

Giáp  hợp Kỷ

Ất hợp Canh

Bính --> Tân

Đinh --> Nhâm

Mậu -->  Quý

* Phá: Giáp  phá Mậu

Ất --> -  Kỷ

Bính -->  Canh

Đinh  -->  Tân

Mậu  --> Nhâm

Kỷ --> Quý

Canh --> Giáp

Tân --> Ất

Nhâm -->  Bính

Quý -->  Đinh

b- Chi: phải chọn hợp và tránh xung.

1/- Hợp: gồm tam hợp và nhị hợp.

* Tam Hợp: 1- Dần, Ngọ, Tuất

2- Thân, Tý, Thìn.

3- Tỵ, Dậu, Sửu

4- Hợi, Mão, Mùi

*  Nhị Hợp:  (hay lục hợp)
 
1- Tý hợp Sửu

2- Dần hợp Hợi

3- Mão hợp Tuất

4- Thìn hợp Dậu

5- Tỵ hợp Thân

6- Ngọ hợp Mùi.

2/- Xung:

1- Dần xung Thân

2- Tỵ xung Hợi

3- Tý xung Ngọ

4- Mão xung Dậu

5- Thìn xung Tuất

6- Sửu xung Mùi.

Cần lưu ý: có quan niệm cho là: Nam kỵ xung Nữ kỵ hợp.

- Thìn+ Tuất và Sửu+ Mùi hòa nhau vì cùng hành thổ.

B- Ngũ Hành: Phải "tương sinh" tránh "tương khắc"

a- Tương sinh:

1- Kim sanh Thủy

2- Thủy dưỡng Mộc

3- Mộc sanh hỏa

4- Hỏa sanh Thổ

5-Thổ sanh Kim

b- Tương khắc:

1- Kim khắc Mộc

2- Mộc khắc Thổ

3- Thổ khắc Thủy

4-Thủy khắc Hỏa

5- Hoả khắc Kim

Cần lưu ý: có quan niệm cho là: hành của chồng khắc với hành của vợ là thuận hợp. Nhưng trên thực tế khắc nhau vẫn không tốt.

- Như xét đoán ngũ hành trong một gia đình nên dùng cả ngũ hành phản sinh và phản khắc.

c- Bát Trạch: cung phi và cung sinh. Bát trạch chia ra:

- Đông tứ trạch: khảm, ly, chấn, tốn.

- Tây tứ trạch: Càn, Khôn, Cấn, Đoài.

a.Kkhi so đôi phải coi kỹ phi cung và kiểm lại bằng sanh cung (cung phi xấu mà cung sanh tốt cũng đỡ xấu phần nào).b. Người Đông Tứ Trạch phải kết hôn với người Đông tứ trạch mới tốt. Tây tứ trạch cũng thế.

c. Cung phi và cung sanh đều tính ra từ tuổi. Nam, nữ khác nhau. Thí dụ: Tuổi Tân Mùi.

- Cung phi: Nam= Càn; Nữ = Ly.

- Cung sanh: Nam= Chấn; Nữ= Ly

d. Xem bảng ghi  dưới đây, các cung có dấu 0 là tốt và dấu X là xấu.

Hai tuổi được thiên y, sinh khí, phước đức và phục vì là tốt. Nếu gặp ngũ quỹ, Tuyệt mạng, Lục sát và Hoạ hại là xấu. (nhờ anh Huy scan khung vào)

Tuyệt mạng (âm khắc dương) gồm: Càn/ Ly; Đoài/Chấn; Khôn/Khảm; Cấn/ Tốn.

Ngũ Quỹ (dương khắc âm) gồm có:  Càn/Chấn; Tốn/ Khôn; Khảm/Cấn; Đoài/Ly.

- Tuyệt mạng thì hẳn lo âu

Nhược bằng kết hợp, lấy nhau chẳng bền.

Hoặc:

- Ngũ quỹ thì ắt phải nhường

Vợ chồng nghịch ý, tai ương cận kề.

D. Sau khi so sánh hai tuổi, ta sẽ có kết quả:

a- Cả 3 đều tốt là rất tốt. Tuy nhiên mức độ tốt cũng khác nhau; tùy theo sự sinh xuất hoặc nhập về nũ hành và sự kết hợp về cung phi.

Thí dụ: Tuổi 2 vợ chồng gặp phước đức:

- Phước đức giàu sang ai bì.

b- Hai tốt, một xấu là tốt nhưng không được hoàn hảo, cần được hóa giải điểm xấu đi bằng bí pháp của lý số và Bút trạch chánh tông.

c- Một tốt hai xấu là tốt nhưng cũng cần được hóa giải như trên và cân nhắc bằng tử ti và tướng pháp.

d- Cả 3 đều xấu. Nếu kết hợp thì chỉ là cái "nghiệp số", không thể hạnh phúc, thành công và có cuộc sống trọn vẹn.

E. Tử Vi và tướng pháp

Nhiều gia đình chọn dâu và kén rễ rất kỹ lưỡng. Họ chấm "tử vi" hoặc "coi mặt" xem tướng để chọn người hôn phối cho con, em. Thêm vào đó, các thanh niên nam nữ cũng đều muốn có có một "ý trung nhân" hoàn hảo:

- Gái thì mong:

Lấy chồng cho đáng tấm chồng.

Bõ công chỉnh mũi nâng cằm niềng răng.

- Hoặc có ngày:

Ngựa anh đi trước

Võng nàng theo sau.

- Các cậu trai cũng mong có được người "tề gia nội trợ" có thể giúp mình làm nên sự nghiệp và thay mình "nuôi già, dạy trẻ", hầu có thể an lòng dấn thân "vì dân vì nước"

a- Do đó, tử vi các cô mà có:

- Thai, hào

- Đào, Hồng

- Tham, sát, nhàn

Hoặc tử vi của các cậu mà có:

- Phá quân Thìn Tuất

- Tham, kiêm, Tỵ, Hợi

- Linh, hỏa, , kình đá.

Thường thì bị loại. Cho dù đẹp đẽ, giỏi giang, hoặc gia đình giàu có.

b- Còn về tướng pháp thì trong nhân gian thường có những nhận xét về trai gái như sau:

1- Con gái:

- Tốt:

"Những người neo néo lưng ong

Vừa khéo chiều chồng, vừa khéo nuôi con."

Hoặc:

"khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang

Hoa cười, ngọc thốt đoan trang"

- Xấu

"những người béo trục, béo tròn

Ăn vụng như chớp, cấu con cả ngày"

2/ Con trai:

- Tốt:

"Phong tư tài mạo tuyệt vời

Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa"

Hoặc:

"Trông mặt mà bắt hình dong

Con lợn có béo, cỗ lòng mới ngon"

- Xấu: Nói năng thô lỗ như "dùi đục chấm mắm cáy".

- Mắt lợn luộc, láo liên

- Lộ

- Tham ăn, tục uống….

Trên thực tế, trong cuộc sống giao tiếp hàng ngày, có những người mới gặp lần đầu, ta đã thấy quí trọng và có cảm tình ngay. Ngược lại, có người chỉ nghe họ nói một câu là ta đã muốn xa lánh họ. Nhưng:

"Thức lâu mới biết đêm dài

Ở lâu, mới biết lòng người ra sao""

Do đó, bên cạnh sự quan sát của ta như đã nói trên, ta vẫn cần có "tham vấn" các vị cao thâm về lý số và tướng pháp để khỏi có sự nhận xét sai lầm ảnh hưởng tai hại đến hạnh phúc và tương lai của chính ta.

II- Năm, Tháng, Ngày, Giờ nạp thái, Vu Quy:

Sau khi so đôi tuổi, chôn được dâu,rễ tốt rồi, thì việc kế tiếp không kém phần quan trọng là: Chọn được năm, tháng, ngày và giờ tốt cho việc nạp thái. Hỏi (dẫn lễ), và vu quy (cưới). Có những gia đình không tin vấn đề này nên đã gặp tai nạn, rạn nứt và đổ vỡ:

- Cưới vợ cho con vào năm xung kỵ, tuổi, tháng phạm chu chủ, ngày không phòng và giờ kỵ tuổi. Kết quả bi thảm là vài ngày sau tiệc cưới, chú rễ được cử đi cứu cấp và không trở về nữa.

- Cưới dâu vào tháng "phòng công cô" ngày "nguyệt yểm" và giờ "sát thủ". Sau một thời gian ngắn, cha chồng đột nhiên mắc bệnh và qua đời.

- Hoặc là cuộc sống đang yên lành, hạnh phúc, cưới dâu về là xẩy ra đủ chuyện và đưa đến tan cửa nát nhà.Như thế, hôn nhân là việc hệ trọng, có quan hệ đến hạnh phúc cả cuộc đời, không thể khinh xuất:

1- Năm: nên kết hôn vào những năm không kỵ tuổi dâu (nữ), cũng như tuổi rể (nam)

Tuổi-->Nam kỵ năm-->Nữ kỵ năm

Tí-->Mùi--> Mão

Sửu -->Thân--> Dần

Dần-->Dậu--> Sửu

Mão-->Tuất--> Tý

Thìn-->Hợi--> Hợi

Tỵ-->Tý--> Tuất

Ngọ-->Sửu--> Dậu

Mùi-->Dần--> Thân

Thân-->Mão--> Mùi

Dậu-->Thìn --> Ngọ

Tuất-->Tỵ--> Tỵ

Hợi-->Ngọ--> Thìn

2- Tháng: một năm (theo tuổi cô dâu) chỉ có 4 tháng xuất giá tốt.

1/ Đại lợi: Xuất giá tốt, đem lại may mắn, hạnh phúc cho đôi tân hôn.

2/ Tiểu lợi: Xuất giá tốt nhưng kỵ người mai mốt. Người làm mai không nên dự lễ cưới.

3/ Phòng công cô: bất lợi cho mẹ chồng.

4/ Phòng nhạc thân: Bất lợi cho cha mẹ vợ.

5/ Phòng Phụ chủ: Bất lợi cho chú rể.

6/ Phòng thê chủ: bất lợi cho cô dâu.

- Lưu ý:  nếu mồ côi cha mẹ thì có thể tổ chức cưới, hỏi vào các thágn ở cột 3 và 4.

- các tháng đều tính theo âm lịch và tiết khí.

- Về chi tiết, nên tham khảo nơi các vị túc nho, hoặc các nhà lý số chuyên nghiệp.

3 - Ngày: thông thường thì các niên lịch đều có ghi các ngày nên hoặc kỵ đính hôn, cưới gã nhưng không phải áp dụng chung cho mọi người, nên cần phải xemkỹ cvaà tránh các ngàyxấu, kỵ, và khắc hành của cặp tân hôn.

Dưới đây là sơ lược các ngày xấu cần biết để tránh:

a- Ngày trăn sự như sát chủ, thọ tử, bảng vong, nguyệt kỵ, tam nương, đại bại.

b- Thêm vào đó có những ngày kỵ riêng việc cưới gã rất quan trọng:

- phòng không: phải tuyệt đối tránh vì

Nam đáo nữ phòng, nam tắc tử

Nữ đáo nam phòng, nữ tắc vong.

- Không sàng: kỵ đặc gương và hợp cẩn

- Nguyệt yểm: Bất lợi cho cha chồng

- Nguyệt đối: bất lợi cho mẹ chồng

- Nguyệt phá: gia đình tan nát

- Hồng sa sát: đại hung, bất lợi cho cha mẹ chồng, cha mẹ vợ và dâu rể.

- Ngưu lang chức nữ: vợ chồng ly tán.

c- Tinh đẩu: phải tránh các sao nhóm lục bại tinh

- Xem niên lịch để biết sao nhật. Và cũng cần tránh các ngày thục đoan:

- Ngày  Tí gặp sao Hư

Sửu--> Đẩu

Dần--> Thất

Mão--> Nữ

Thìn--> Cơ

Tỵ--> Phòng

Ngọ--> Giác

Mùi--> Tương

Thân--> Quý

Dậu--> Chủy

Tuất--> Vị

Hợi--> Bích

d- Trực- tránh các ngày thuộc Trực Thâu, Phá, Bình. Nên chọn Trực Chấp, Định, và Thành. Các kiết tinh như thiên đức hiệp, nguyệt đức hiệp, thiên đế, thiên hậu, nhơn nguyên, trực tinh sát cống…

4- Giờ: Tuy trên các niên lịch có ghi giờ tốt và giờ xấu nhưng không thể áp dụng chung cho các tuổi. Cần chọn giờ tốt hợp tuổi cô dâu, chú rễ, tránh giờ kỵ tuổi tứ hành xung, hình, lục hại, và giờ sát chủ, thọ tử. Thí dụ: Tuổi Dần hợp với giờ Ngọ, Tuất nhưng kỵ với các giờ Thân, Tỵ, Hợi.

a/ Tứ xung: xem mục "Tránh xung" ở các trang trước.

b/ Lục hại: Tý  hại  Mùi

-->Sửu--> Ngọ

-->Dần--> Tỵ

-->Mão--> Thìn

-->Thân--> Hợi

-->Dậu--> Tuất

c/ Hình: gồm

- Nhị  hình: Tý hình  Mão

- Tam hình: Dần, Tỵ,  Thân

Sửu, Tuất, Mùi

- Từ hình: Thìn, Ngọ, Dậu, Hợi

d/ Sát chủ:

- Tháng: 1+7: giờ Dần

2+8: giờ Tỵ

3+9: giờ Thân

4+10: giờ Thìn

5+11: giờ Dậu

6+12: giờ Mão

e/ Thọ Tử:

- Ngày Tý thọ Tử giờ Sửu

Sửu-->Ngọ

Dần, Thân, Mão, Dậu Mão

Thìn, Tuất Tỵ

Ngọ Mùi

Mùi Ngọ

Tỵ, Hợi -->Mão, Ngọ.

f/ Ngày xưa, ngaòi giờ cưới hỏi, người  ta còn lựa ngày giờ may hoặc mướn áo cưới cho cô dâu chú rể. Ngày giờ đóng hoặc mua giường cho cặp tân hôn, ngày giờ an sàng (kê giường) và nhờ cặp vợ chồng đông con và hạnh phúc trãi chiếu nữa.

h/ Điều cần lưu ý là: đồ cưới của cặp tân hôn phải hợp màu với hành cới cô dâu và chú rể.

Giường của cặp tân hôn cũng phải đặt hợp với phi cung của chủ rễ.

III- Nói Chung: nhờ sự chọn lựa và chuẩn bị chu đáo như trên nên hầu hết các cuộc hôn nhân (không kể tảo hôn và tục hôn) đều thành công, tạo cho họ một mái ấm gia đình hạnh phúc. Mới đầu thì chỉ ràng buộc vì tập tục nhưng rồi họ sống với nhau trong yêu thương, gắn bó, vợ giúp chồng thành công và làm nên sự nghiệp.

Ngược lại, nếu vì hoàn cảnh phải tùy tiện cho xong chuyện, thì chắc chắn sẽ thất bại, sẽ suy vong, hoặc tan vỡ. Dưới đây là một câu chuyện có thực mà tôi đã chứng kiến và có thêm kinh nghiệm về vấn đề hôn nhân của đôi lứa.

Tôi có một thân chủ, ông ta tuổi Tân Mùi, mồ côi cha mẹ, sống với ông bà nội. Năm 1953, gia đình suy  sụp vì giặc giã, ông nội lại lâm trọng bệnh. Thấy vậy bà nội liền lo cưới vợ cho cháu ngay. Cụ  thấy 2 gia đình "môn đăng hộ đối", cô dâu cũng ưa nhìn nên tiến hành hôn lễ ngay. Không theo tập tục như đã trình bày trong phần trên của bài nầy. Cô dâu tuổi Đinh Sửu.Phân tích ra ta thấy Tân Mùi & Đinh Sử

1- Phần tuổi:

a/ Về can: Ta thấy Đinh phá Can

b/ Về chi:  Ta thấy Sửu sung Mùi

2- Phần ngũ hành

a/ Đinh/ hỏa khắc Tân/ Kim

b/ Tân Mùi/ Thổ khắc Đinh Sửu/Thủy

3- Bát Trạch: Tuy cả hai cùng một trạch- Càn/ càn được phục vì. Nhưng vì tuổi ngũ hành và Can Chi xung khắc. Nên vẫn không tốt.

4- Tử Vi: Tân Mùi- Cung Thê có phục binh Thái Tuế, Thiên hình.

Cung nô có Đào hoa.

Hoa Đào nở trái Nô cung

Thiếp thê mang lấy bất trung, bất nghì.

Hai tuổi tốt ít xấu nhiều. Cuộc hôn nhân tiến hành vội vã,
không được sắp xếp về chi tiết để hóa giải bớt cái xấu đi nên kết quả như ta sẽ thấy:

Một tuần sau ngày cưới, ông nội mất, giặc giã lan tràn. Gia đình ở trong vùng xôi đậu, đủ chuyện khổ đau. Tháng 10 năm đó ông ta nhập ngũ. Năm 1954, tốt nghiệp và phục vụ tại …Tiểu đoàn Khinh chiến VN. Cô vợ được bà nội và gia đình sắp xếp nên gặp lại được chồng và vợ chồng theo đơn vị di cư vào Nam.Họ sống với nhau gần 22 năm (1954-1975) nhưng công danh lận đận, không con cái, và không tạo được tài sản đáng kể. Tháng

5-1975, ông chồng đi tù và bị đưa ra tận miền Bắc (gần Yên Bái) nơi xa xôi hẻo lánh. Năm 1979, bà vợ được bà con bên chồng dắt díu vượt biên và định cư tại Hoa Kỳ năm 1980. Sau đó, bà ta đi làm, giúp việc nhà và trông trẻ cho một gia đình Việt Nam khá giả. Đang khổ cực trong xã hội cộng sản, nay "nhất nhật tiểu yến, thất nhật đại yến", bà ta đã quên tất cả và sa tay một gã đàn ông phong lưu, nhưng con cái đùm để, không biết tương lai ra sao!!! Ông chồng thì sau nhiều năm trong ngục tù Cộng Sản, đã đến được bến bờ tự do vaò cuối năm 1990, theo danh sách H.O. Với niềm tin tưởng tràn trề hạnh phúc. Nhưng than ôi! Họ gặp nhau như người xa lạ. Sống gần nhau ít lâu như mặt trời với mặt trăng. Đâu còn đằm ấm, keo sơn như cũ. Âu cũng là số mạng. Ở tuổi 60, bà ta đòi ly dị với người xưa. Và, họ đã ly dị. Thất vọng vì thời thế. Vì tình đời, tình người, ông ta đã 2 lần tìm cái chết. Nhưng tử thần vẫn chê, có lẽ nghiệp căn chưa dứt. Mệnh thân có Tham, Vũ, Thai tọa, Quang Quí, xương khúc và Hào khoa, lại gặp Lộc Quyền, âm dương, tã hửu, số ông ta còn thọ lắm.Qua câu chuyện bi thảm điển hình trên, ta thấy việc so đôi tuổi và chôn n ăm tháng, ngày và giờ cho việc cưới hỏi của lứa đôi thật là quan trọng. Xin hãy cẩn trọng.

Qua bốn ngày năm văn hiến, tổ tiên ta đã dầy công xây dựng, bảo vệ….mở mang bờ cõi và đã để lại cho ta nhiều kinh  nghiệm, kiến thức, và thuần phong mỹ tục. Cuộc đời dâu bể đổi thay. Đến nay, có thể có những quan niệm không hoàn toàn hợp thời nữa nhưng trên căn bản đa số vẫn là "khuôn vàng, thước ngọc" để hậu thế noi theo. Tam cương và tam tùng có thể khác biệt với quan niệm hiện hữu nhưng Ngũ thường (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín) và Tứ Đức (Công Dung Ngôn Hạnh) vẫn là mực thước để hướng dẫn, giáo dục và chọn lựa con người khi cần thiết, kể cả "chọn dâu, kén rể". Tiền nhân cũng đã để lại các kiến thức có tính cách khoa học về "phong thủy" lý số, giúp chúng ta nếu biết áp dụng, sẽ có thể tạo dựng sự nghiệp cho bản thân và cho hậu thế cũng như "Tri bỉ, tri kỷ" để có thể ứng xử trong cuộc sống hàng ngày.

Gia đình là căn bản của xã hội, của cộng đồng và là nền tảng của quốc gia. Gia đình sẽ vững chãi hạnh phúc, nếu…chọn lựa và xây dựng đúng cách.

Phong Thủy & Tử Vi Gia Song Lộc

1501 S. 4th Street, Apt# F,

Alhambra, CA 91803 Tel: (626) 289-8467

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Trước đây, các cuộc đụng độ giữa Israel và Palestine đã thường diễn ra tại Jerusalem và Dải Gaza. Các yếu tố tác động khẩn thiết cho mối xung đột là tình trạng đe dọa cưỡng chế trục xuất các gia đình Palestine hoặc các buổi lễ kỷ niệm của Do Thái giáo tại Tempelberg. Thực ra, chiến cuộc còn bắt nguồn từ các sự kiện lịch sử khác mà các xung đột về thành phố Jerusalem và điện thờ Tempelberg đóng một vai trò chính cho sự leo thang.
Vô lượng vi phân tử, sóng radio của điện thoại di động mang theo những lời thủ thỉ thân yêu, gay gắt tranh luận, ầm ầm giận dữ, đắng cay nhiếc móc, nỉ non than thở, tiếng khóc, tiếng cười, nỗi bi thương, cơn cuồng nộ – đủ món hỉ nộ ái ố – … điệp điệp, trùng trùng lướt qua giọt sương liên miên từ lúc nó chào đời cho tới khi tan biến.
Các cuộc xung đột giữa Do Thái với Palestine cùng khối Ả Rập là vấn đề nan giải cho Hoa Kỳ lẫn thế giới bởi Do Thái không hề nhượng bộ, luôn có những hành động cứng rắn và trả đũa tàn bạo. Cuộc xung đột hiện nay xảy ra khi Do Thái trục xuất sáu gia đình Palestine tại Đông Jerusalem, là điều mà Do Thái từng bước thực hiện với người dân Palestine từ nhiều năm qua.
Tôi yêu những nông dân thôn Hoành, tôi yêu những nông dân Dương Nội. Yêu cái hồn của đất – nơi con người đang phải đối mặt với phong ba bão táp; nơi con người bước trên nghịch cảnh bằng sự cao quý và khí phách của riêng mình. Tôi có một niềm tin vững chắc rằng lòng tử tế và sự dũng cảm của họ sẽ lan toả và lan rộng.
Từ Văn phòng Viện Tăng Thống, tuy chỉ tồn tại trên danh nghĩa, trong phận sự bảo trì ấn tín của Viện Tăng Thống, kế thừa tâm nguyện của Đức Đệ Ngũ Tăng Thống qua phú chúc di ngôn của Ngài trước ngày thị tịch; chúng tôi trên nương tựa uy đức Tăng già và đạo lực gia trì của Chư tôn Trưởng lão, kính gởi đến Chư tôn Hòa Thượng, Chư Thượng tọa, Đại đức Tăng-già nhị bộ, cùng tất cả bốn chúng đệ tử, tâm nguyện Bồ-đề được thể hiện qua các kỳ họp đã nêu, ước mong tất cả bằng Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành, bằng đức lực, trí lực, và tài lực, với hằng tâm và hằng sản, đồng tâm nhất trí góp phần công đức vào sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh mà Chư Thánh Đệ tử, Lịch đại Tổ sư, bằng hùng lực và trí tuệ, bằng từ bi và nhẫn nhục, khoan dung, trải qua vô vàn gian nan chướng duyên trở ngại, đã mang ngọn đèn chánh pháp đến những nơi tăm tối, cho những ai có mắt để thấy, dựng dậy những gì đã sụp đổ, dựng đứng những gì đang nghiêng ngả.
Ngày Phật đản sanh là ngày vui, ngày thiêng liêng và trọng đại của nhân loại. Dù là với truyền thống nào, tông môn pháp phái nào, dù ở quốc độ nào… Người con Phật cũng đều hoan hỷ và thanh tịnh thân tâm để tưởng niệm đức Phật.
Thì tôi cũng nói cho hết lẽ như thế. Chớ bao nhiêu lương dân ở Văn Giang, Dương Nội, Thủ Thiêm, Lộc Hưng… đang sống yên lành mà Đảng & Nhà Nước còn có thể nhẫn tâm biến họ thành những đám dân oan (vật vã khắp nơi) thì cái chính phủ hiện hành có xá chi đến những khúc ruột thừa ở Cambodia.
Bàn về kinh tế không thể không nhắc đến tiền. Tiền không mua được hạnh phúc nhưng không có tiền thì…đói. Tiền mang lại tự do (có tiền mua tiên) hay biến con người thành nô lệ đồng tiền. Con nít lên 3 đã biết tiền dùng để mua bánh kẹo, vậy mà các kinh tế gia giờ này vẫn không đồng ý chuyện tiền để làm chi!
Sau ngày 30/4/1975, nếu phe chiến thắng đã có những chính sách mang lại sự hoà giải quốc gia, đối xử nhân bản với bên thua trận, thay vì cải tạo học tập, càn quét và thiêu huỷ văn hoá miền Nam, đánh tư sản mại bản, thì đã không có hàng triệu người bỏ nước ra đi và người Việt sẽ chẳng mấy ai còn nhớ đến một đất nước của quá khứ, tuy chưa hoàn toàn tự do dân chủ nhưng so với Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì người dân đã được tự do hơn bây giờ rất nhiều.
Tất nhiên phải “thành công” vì đảng một mình một chợ, không có ai cạnh tranh hay đòi chia phần. Nhưng việc đảng chọn cho dân bầu chỉ để tuyên truyền cho phương châm “ý đảng lòng dân”, trong khi người dân không có lựa chọn nào khác mà buộc phải đi bỏ phiếu để tránh bị làm khó trong cuộc sống.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.