Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Trần Bình Nam Trả Lời Rfa: Khéo Với Tq, Hay Nhu Nhược?

11/09/201000:00:00(Xem: 6036)

Trần Bình Nam Trả Lời RFA: Khéo Với TQ, Hay Nhu Nhược"

LTS. Khôn khéo hay nhu nhược" Có lợi hay bất lợi" Bài này nguyên khởi là do Thanh Quang, phóng viên đài Á Châu Tự Do, phỏng vấn Trần Bình Nam Chung quanh lời tuyên bố của ông Nguyễn Chí Vịnh.
Phát sóng trên RFA lần đầu tiên sáng Thứ Năm 9/9/2010 giờ Việt Nam. Bài lưu ở: http://www.tranbinhnam.com/binhluan/NguyenChiVinhBaKhong.htm.
*
Thanh Quang: Thưa ông, tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ QPVN, bị nhiều chỉ trích về hành động sai trái của ông ta trong quá khứ, nhất là liên quan vụ Tổng Cục 2 và T4. Đặc biệt là gần đây nhất, ngay sau diễn tiến tốt đẹp về mối quan hệ quốc phòng Việt-Mỹ được nâng lên cấp thứ trưởng lần đầu tiên, qua đó tướng Nguyễn Chí Vịnh gặp gỡ Thứ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Shers, thì ông Vịnh sang Bắc Kinh nhấn mạnh rằng VN “ủng hộ và vui mừng” trước sự phát triển quốc phòng của TQ, và cam kết chính sách quốc phòng “3 không” của VN mà chúng ta sẽ đề cập ở phần sau. Điều này khiến nhiều ý kiến phẩn nộ, cho rằng tướng Vịnh nói riêng và Hà Nội nói chung luồn cúi, nhu nhược trước Bắc Kinh và bỏ qua cơ hội khai thác sức mạnh của Mỹ để bảo vệ tổ quốc.
Nhưng trong bài viết hồi đầu tháng 9 này tựa đề “Một cách nhìn khác về Nguyễn Chí Vịnh – Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng”, ông đã mở đầu rằng “…trong sự chuyển hướng chính sách trước mắt, ông Nguyễn Chí Vịnh đã thi hành công tác ngọai giao/chính trị của Bộ Chính trị đảng CSVN một cách hòan hảo xứng hợp với chức vụ thứ trưởng Bộ Quốc phòng của ông”.
Xin ông cho biết lý do ông lập luận như vậy"
Trần Bình Nam: Tôi không có ngạc nhiên gì khi thấy có một số báo chí và một số nhà bình luận hải ngoại chỉ trích tướng Nguyễn Chí Vịnh, là vì ông ta từng mang tiếng là thân Trung Quốc. Thân Trung Quốc đã trở thành cái nhãn hiệu của ông ta. Nhưng nếu chúng ta tạm quên cái nhãn hiệu đó để quan sát và phân tích động thái và lời lẽ của ông qua cuộc họp báo tại Bắc Kinh ngày 25 tháng 8 vừa rồi thì chúng ta phải công nhận rằng trước những câu hỏi hắc búa của báo giới, ông Vịnh đã trả lời rất khôn khéo và rất ngoại giao. Nội dung các câu trả lời của ông Vịnh đã xác định được cái lập trường của Chính Phủ Việt Nam là không thiên về phe nào trong hai phe Hoa Kỳ và Trung Quốc.
Thanh Quang: Trong thời gian gần đây ngày càng có nhiều dấu hiệu khá rõ nét và đáng ngại là giới lãnh đạo Hà Nội tỏ ra quá mềm yếu, không bảo vệ được ngư dân Việt Nam, rồi sẵn sàng nặng tay đối với người dân dám công khai phản đối Phương Bắc ngang ngược lấn lướt Việt Nam, nhưng qua bài viết vừa nói của ông thì ông lưu ý rằng có dấu hiệu từ nhiều năm qua họ - tức cấp lãnh đạo chóp bu của Đảng CSVN - trăn trở tìm một con đường thoát nanh vuốt của Trung Quốc.
Xin ông giải thích về điểm này ạ.
Trần Bình Nam: Vâng, có một điều chúng ta cần nhận thấy là thế nước nhỏ đôi khi rất khó khăn, nhất là giữa nước nhỏ như Việt Nam chúng ta bên cạnh một nước lớn như Trung Quốc đang vươn lên để trở thành siêu cường. Nước nhỏ cạnh nước lớn như vậy muốn yên thân thì phải khôn khéo, giống như ông cha chúng ta trong quá khứ có lúc rất mạnh có thể đánh Trung Quốc nhưng vẫn phải khôn khéo với Trung Quốc như thường.
Và càng phải khôn khéo khi không có một đối trọng nào với Trung Quốc bên cạnh. Nhưng đôi khi khéo quá thì cũng trở thành nhu nhược như chúng ta đã thấy. Hà Nội có vẻ nhu nhược đối với Trung Quốc trong các vụ tranh đất, tranh biển, vụ nhượng mỏ bô-xít, vụ ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc bắt nạt và không được bảo vệ một cách thích đáng, vụ Hoàng Sa - Trường Sa, v..v.
Nhưng dưới cái bề ngoài rắc rối mọi bề đó chúng ta cũng ghi nhận được là Hà Nội cũng đã từng trăn trở tìm con đường thoát hiểm. Về vấn đề này thì giữa năm 2008 ông Giáo Sư Carl Thayer, thuộc Viện Nghiên Cứu Quốc Phòng Úc Châu, có viết một tài liệu, mà theo nội dung tài liệu đó thì các hoạt động tìm đường thoát hiểm của Việt Nam đối với Trung Quốc được bắt đầu ngay sau khi Việt Nam tái thiết lập bang giao trong tư thế cầu cạnh Trung Quốc, sau khi Khối Liên Xô sụp đổ, không còn chỗ dựa vào năm 1991. Và sự tìm đường thoát hiểm này chuyển biến theo một nhịp độ nhanh hơn kể từ Đại Hội X của Đảng CSVN năm 2006, nhất là sau chuyến thăm viếng của Tổng Thống Bush và Việt Nam gia nhập Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới (WTO).
Theo tài liệu đó, nói về nỗ lực thoát hiểm trong lĩnh vực ngoại giao thì từ tháng 11-1991 khi Việt Nam tái thiết lập bang giao với Trung Quốc cho đến năm 2004 Việt Nam đã nỗ lực tối đa tìm kiếm đồng minh và làm thân với nhiều nước trên thế giới như Ấn Độ, Liên Bang Nga, Hoa Kỳ, Pháp, Nam Dương (Indonesia), Singapore, Nhật Bản, Úc, ngay cả những nước rất là nhỏ như Miến Điện (Myanmar), Ukraine, Ba Lan, v.v. và đặc biệt trong láng giềng của mình Việt Nam thắt chặt quan hệ quốc phòng với các nước trong Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN), nhất là với Thái Lan và Phi Luật Tân (Philippines).
Về mặt quốc phòng thì từ năm 1991Việt Nam đã bắt đầu lo trang bị vũ khí và mua khá nhiều vũ khí của Nga, và chẳng những của Nga mà còn mua vũ khí của Do Thái, của Nam Hàn (Hàn Quốc).
Và khởi điểm từ Đại Hội X của Đảng CSVN tháng Tư năm 2006, nhất là khi Tổng Thống Mỹ George W. Bush đến Hà Nội dự hội nghị thưởng niên APEC cuối năm đó và sau khi Việt Nam vào WTO, theo tài liệu của GS Carl Thayer, thì trong nội bộ giới lãnh đạo Hà Nội đã xuất hiện hai khuynh hướng, một khuynh hướng bảo thủ tức là khuynh hướng cảnh giác chính sách diễn biến hòa bình của Hoa Kỳ, và một khuynh hướng khác gọi là khuynh hướng hội nhập chủ trương hòa mình nhanh chóng vào kinh tế toàn cầu, mà trong đó Hoa Kỳ là một đối tác quan trọng.


Và mới đây nhất, từ tháng 7, sau hội nghị ARF tại Hà Nội, Ngoại Trưởng Hillary Clinton đến đó và công bố chính sách mới của Hoa Kỳ tại Biển Đông, nhìn những động thái của Việt Nam thì thấy ngay rằng Việt Nam hết sức phấn khởi trong sự thay đổi chính sách của Hoa Kỳ, chứng tỏ rằng Việt Nam từng trăn trở tìm đường thoát hiểm khỏi nanh vuốt của Trung Quốc. Và đến thời điểm này là thời điểm thuận lợi nhất vì có thêm một đồng minh Hoa Kỳ, mặc dù Hoa Kỳ hành động vì quyền lợi của Hoa Kỳ. Nhưng khi hai bên có những quyền lợi như nhau thì có thể hợp tác và thỏa thuận với nhau trong các công việc chung.
Thanh Quang: Trở lại chính sách ba không mà Việt Nam cam kết với Bắc Kinh, gồm (1) không tham gia các liên minh quân sự hoặc là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, (2) không cho bất kỳ nước nào đặt căn cứ quân sự tại Việt Nam, và (3) không dự vào nước này để chống nước kia.
Theo ông, chính sách quốc phòng “ba không” đó liệu có gây trở ngại cho sự hợp tác quân sự Việt - Mỹ không, và có mở đường cho Bắc Kinh dễ lấn chiếm Việt Nam hơn hay không"
Trần Bình Nam: Tôi không nghĩ như vậy. Chúng ta nên nhớ rằng trong thời gian Chiến Tranh Lạnh, các quốc gia trên thế giới, nhất là các nước nhỏ phải sắp hàng dưới hai chiếc dù, hoặc là chiếc dù Liên Bang Xô Viết, hoặc là chiếc dù Hoa Kỳ, vì vậy cho nên trong thời gian đó liên minh quân sự là chuyện thông thường, Nhưng 20 năm qua, sau khi Chiến Tranh Lạnh chấm dứt chúng ta thấy vấn đề liên minh quân sự rất ít được đặt ra vì không có nhu cầu đó. Trong bối cảnh đó chính sách “ba không” của Việt Nam hoàn toàn không có tính chất gì chống Hoa Kỳ cả. Nó chỉ là một chính sách thực tế, phù hợp với thực trạng thế giới hôm nay mà thôi.
Chính sách "ba không" đó theo tôi nhận xét là một chính sách cân đối, khôn ngoan, phù hợp với thế đứng và quyền lợi của Việt Nam hiện nay. Việt Nam không cần phải chính thức liên minh quân sự với Hoa Kỳ mới được bảo vệ. Nếu bị Trung Quốc tấn công một cách vô cớ thì Hoa Kỳ và thế giới với lời yêu cầu chính thức của Việt Nam vẫn có thể đến giúp đỡ như thường.
Và chúng ta nên để ý cách phát biểu của ông Nguyễn Chí Vịnh khi ông nói về chính sách "ba không" . Ông Vịnh đã nói như thế này: "Về phần Việt Nam, chúng tôi sẽ không bao giờ trở thành đồng minh quân sự của Mỹ", nhưng ngay sau đó ông nhấn mạnh rằng "không chỉ với Mỹ mà Việt Nam sẽ không trở thành đồng minh quân sự với bất kỳ quốc gia nào", thì rõ ràng ý của ông Nguyễn Chí Vịnh là chính sách "ba không" là không với cả Hoa Kỳ và Trung Quốc, và do đó chính sách này không thể được xem là chính sách chống Hoa Kỳ mà cũng không nên xem đây là chính sách thân Trung Quốc.
Chính sách "ba không" sẽ không gây trở ngại cho các chương trình trao đổi quân sự hiện có giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, và cũng không tạo thêm điều kiện nào dễ dãi để cho Bắc Kinh lấn chiếm Việt Nam cả.
Thanh Quang: Và sau cùng, thưa ông, khi lên tiếng với Đài Tiếng Nói Việt Nam thường trú tại Bắc Kinh thì Tướng Nguyễn Chí Vịnh có nói rằng Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng có quan hệ đại cục tốt đẹp cho nên trước sự phát triển của Trung Quốc, trong đó có phát triển quốc phòng, Việt Nam ủng hộ và vui mừng, sự ủng hộ ấy phát xuất từ mong muốn và niềm tin rằng Trung Quốc sẽ không sử dụng sức mạnh của mình để làm phương hại tới chủ quyền và lợi ích của các nước khác, và cũng không sử dụng sức mạnh ấy làm phương hại tới hòa bình và ổn định của khu vực và thế giới. Thưa ông, liệu sự mong muốn và niềm tin như vậy của Tướng Nguyễn Chí Vịnh có mâu thuẫn với thực tại là Trung Quốc đã và đang gây phương hại tới chủ quyền và lợi ích của Việt Nam và sẵn sàng xử dụng sức mạnh khiến đe dọa tới hòa bình và ổn định trong khu vực và trên thế giới không ạ"
Trần Bình Nam: Vâng, tôi nghĩ lời ông Nguyễn Chí Vịnh dùng là "mong muốn và tin tưởng" một nước lân bang có nền quốc phòng vững mạnh để bảo vệ hòa bình, thì đó là ngôn ngữ ngoại giao thông thường thôi, không có tính cách gì gọi là xu phụ hay là làm yếu kém tư thế của Việt Nam. Hơn nữa, khi nói về sức mạnh quốc phòng của Trung Quốc có thể đóng góp cho những công việc hữu ích của thế giới thì ông Vịnh nói rằng ông mong muốn Trung Quốc sẽ dùng sức mạnh quốc phòng này để tham gia tích cực vào các việc cứu hộ, cứu nạn, cứu trợ thảm họa.
Ông Vịnh nghĩ rằng đó quả thực là một điều tốt cho cả Trung Quốc lẫn khu vực. Việc dùng sức mạnh quốc phòng như vậy thật sự hữu ích cho hòa bình thế giới và ổn định khu vực, như chúng ta nhớ Hoa Kỳ đã từng làm, đặc biệt trong vụ sóng thần tsunami đánh vào Indonessia và Thái Lan cách đây vài năm. Hoa Kỳ đã triển khai quân đội để tiếp tế lương thực, thuốc men, mùng mền cho các nạn nhân ở đó.
Và Việt Nam, theo cách phát biểu của ông Nguyễn Chí Vịnh, chỉ mong muốnTrung Quốc sử dụng sức mạnh quốc phòng như vậy mà thôi.
Nhân đây tôi cũng muốn nói rộng một điều là trong câu trả lời của ông Nguyễn Chí Vịnh ông dùng từ là "phát triển quốc phòng của Trung Quốc" và "quan hệ quốc phòng giữa Việt Nam và Trung Quốc", nhưng rất tiếc trong bản tin sớm nhất bằng Anh Ngữ của Tân Hoa Xã phổ biến ngay trong ngày hôm đó, ngày họp báo, tức ngày 25 tháng 8, thì Tân Hoa Xã đã cố tình viết chệch ra là "phát triển quân sự" và làm cho dư luận thế giới hiểu lầm quan điểm của Việt Nam.
Trong ngôn ngữ ngoại giao thì "phát triển quốc phòng" và "phát triển quân sự" có ý nghĩa khác nhau. Phát triển quốc phòng có thể bao gồm các lãnh vực ngoại giao, kinh tế, quân sự và nó có tính tự vệ, trong khi phát triển quân sự có tính “phóng tầm sức mạnh” ra ngoài và đe dọa lân bang.
Qua sự cầm nhầm chữ này trong bản tin Anh Ngữ của Tân Hoa Xã rõ là Trung Quốc cố ý nhập nhằng để cho thế giới thấy Việt Nam chỉ "ba không" với Hoa Kỳ nhưng lại ủng hộ sự phát triển sức mạnh quân sự của Trung Quốc. Tôi nghĩ đây là một sự cầm nhầm cần phải được đính chính.
Thanh Quang: Xin cảm ơn nhà bình luận Trần Bình Nam.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Sartre là con người hoài nghi muôn thuở nổi trôi giữa hai cực Hiên Hữu và Hư Vô- L'Être et Le Néant. Chủ thuyết Existentialisme của Jean Paul Sartre là hiện thân của nước Pháp và Châu Âu ở hậu bán thế kỷ thứ XX. Charles De Gaule có lý khi ông bảo Sartre là nước Pháp- "Sartre, c'est la France"./.
Chúng ta nên công nhận rằng "cuộc tranh luận về lạm phát" hiện nay như là những gì mà nó đang là: một dấu vết sai lầm được đặt ra bởi những người tìm cách cản trở những nỗ lực của chính quyền Biden để giải quyết một số vấn đề cơ bản nhất của Mỹ. Thành công đòi hỏi nhiều công chi. Cuối cùng, Hoa Kỳ cũng may mắn có được giới lãnh đạo kinh tế mà họ sẽ không chịu khuất phục trước nỗi sợ hãi.
Trước khi hạ cánh an toàn, Bộ Trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh đã không quên bầy tỏ sự quan ngại sâu sắc về cái mối tình hữu nghị (rất) mong manh giữa nước ta và nước bạn: “Tôi thấy lo lắng lắm, không biết tuyên truyền thế nào, chứ từ trẻ con đến người già có xu thế ghét Trung Quốc.”
Hôm nay tôi và quý vị là người được đón nhận ngày lễ quốc gia đầu tiên để ghi nhớ ngày Juneteenth. Chúng ta hãy cùng nhau đi vào lịch sử để ôn và tìm hiểu thêm về ngày này và hi vọng từ đó chúng ta sẽ có những bài học sẽ làm cho cuộc sống ta thêm phần ý nghĩa về tình người cũng như đạo đức.
Cuộc họp thượng đỉnh giữa hai tổng thống Biden và Putin được báo chí quốc tế quan tâm và tin tức về cuộc họp này được loan tải rộng rãi. Phần tóm lược sau dựa vào các bản tin và bình luận của các cơ quan truyên thông Anh, Pháp, Nga và Trung Quốc về cuộc họp này.
Một tiểu tiết khá thú vị được ghi nhận trong cuộc gặp gỡ này là TT Biden đã đến biệt thự Villa La Grande, nơi tổ chức cuộc họp sau Putin. Theo bản tin của VOA Anh ngữ, dù Putin đã đến khá đúng giờ, nhưng đây là sắp xếp chu đáo của các nhân viên Bạch Ốc nhằm ngừa sự tái diễn như TT Donald Trump đã bị Putin cho đợi đến 30 phút trong cuộc họp thượng đỉnh tại Helsinki vào năm 2018, dù trước đó Trump đã đến muộn khi đến họp với NATO hay yết kiến Nữ Hoàng Anh.
Nền âm nhạc Việt Nam đã mất đi những khuôn mặt tài hoa, nhân cách… nhưng, rất may đã gởi lại những ca khúc bất tử. Nhạc sĩ tài hoa của nhân loại Johann Sebastian Bach (1865-1750) cho rằng “Âm nhạc có thể giúp tinh thần rũ sạch mọi bụi trần của cuộc sống thường ngày” nên khi “đầu óc vẩn đục” hãy lắng nghe ca khúc của tác giả đã quý mến để rũ sạch bụi trần.
Tôi đã được đọc rất nhiều bài trong “Hoa Cỏ Bên Đường” trước khi chúng được chọn cho vào tuyển tập này. Mấy năm nay, cô Kiều Mỹ Duyên luôn dành cho Bút Tre hân hạnh đăng những bài viết ngắn của cô. Bài nào cũng được độc giả khen tặng, đặc biệt bài “Cho Nhau Thì Giờ” gây tác động sâu sắc đến người đọc.
Dưới thời Việt Nam Cộng hòa ở trong Nam, chuyện tranh luận giữa Chính quyền và người dân về những ưu, khuyết điểm của chế độ chính trị là việc bình thường. Các Dân biểu và Nghị sỹ tại lưỡng viện Quốc hội có quyền chất vấn Thủ tướng và các Bộ trưởng Chính phủ bất kỳ lúc nào thấy cần. Nhưng ở Việt Nam Dân chủ Công hòa miền Bắc trước năm 1975 thì khác. Phê bình đảng cầm quyền là tự mở cửa vào tù. Đại biểu Quốc hội và các Hội đồng Nhân dân các cấp chỉ biết làm việc theo lệnh của Bộ Chính trị và cấp trên.
Nước Úc đã bước vào tiết Thu, khí trời lạnh, những chiếc lá đang đổi sang màu, cơn mưa đầu mùa làm lòng người se lại. Nhận tin báo từ quê nhà Thầy đã viên tịch, lòng con đau nhói vì không về được để đảnh lễ Kim Quan nhục thân Thầy, thọ tang Ân Sư Giáo Dưỡng. Nơi phương trời viễn xứ, con hướng về ngôi Chùa Bình An, Giác Linh Đài tâm tang thọ phục.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.