Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Đọc “nửa Thế Kỷ Việt Nam” Bút Ký Của Tác Giả Song Nhị

07/08/201000:00:00(Xem: 5318)

Đọc “Nửa Thế Kỷ Việt Nam”  Bút Ký Của Tác Giả Song Nhị

Đoàn Thanh Liêm
Tôi sinh sống cùng với gia đình tại miền Nam California, nhưng cũng hay có dịp lên thăm gia đình con gái và cháu ngoại tại San Jose, nên được gặp gỡ sinh hoạt khá thường xuyên với anh chị em trong giới văn nghệ sĩ tại miền Bắc California.
 Trong số đông văn nghệ sĩ tại đây, tôi chú ý nhiều đến sinh hoạt của Cơ sở Thi Văn Cội Nguồn do các anh Diên Nghị, Song Nhị và các chị Huệ Thu, Ngọc Bích, Cung Diễm, Diễm Hương… chủ trương và kiên trì theo đuổi đã trên 15 năm nay. Cơ sở đã cho xuất bản được trên 40 tác phẩm thơ, văn và đến 50 cuốn tạp chí Nguồn, và đặc biệt là điều hành được một tờ báo điện tử “Cội Nguồn”, cung ứng cho độc giả khắp nơi những bài vở thật đa dạng khởi sắc, những thông tin thật là phong phú, kịp thời trên internet.
Vào cuối năm 2009 vừa đây, lúc đang ở San Jose, tôi được tác giả Song Nhị đích thân trao tận tay cuốn sách mới nhất của anh, nhan đề thật trịnh trọng : “Nửa Thế kỷ Việt Nam – Bút ký & Tự truyện”. Sách trình bày trang nhã, dễ đọc, dài tới trên 450 trang với khổ chữ đủ lớn phù hợp với thị giác đã suy yếu của lớp độc giả cao niên như người viết bài này.
 Nói chung, thì cuốn sách này chứa đựng khá nhiều chứng từ khả tín về những sự việc, mà chính bản thân tác giả đã trải qua, đã đích thân chứng kiến như là một nạn nhân, nhiều hơn là một người khách bàng quan, ngoại cuộc vô tư. Cụ thể như là các vụ đấu tố địa chủ trong chiến dịch Cải cách Ruộng đất hồi giữa thập niên 1950 tại làng quê của gia đình tác giả trong tỉnh Hà Tĩnh thuộc Liên khu IV, ở phía bắc vĩ tuyến 17. Cả người cha và mẹ của tác giả đều bị đưa ra đấu tố và bị cầm tù trong hoàn cảnh rất tàn bạo, khắc nghiệt. Những mô tả này ăn khớp với nhiều chứng từ khác mà chúng ta đều biết đến suốt trên 50 năm nay, kể cả những chuyện của các bà con thân thiết trong gia đình, mà bị kẹt lại ở miền Bắc sau năm 1954 và khi vào nam sau 1975 đã kể lại chi tiết cho các bà con ruột thịt của họ.
Đáng thương tâm hơn cả là trường hợp của người anh (con ông bác và là người đỡ đầu) của tác giả, tên là Trần Kim Phú đã bị chính quyền cộng sản “xử tử hình”, sau khi anh cầm đầu toán Biệt kích nhảy dù về Bắc, bị bắt khi vừa đặt chân xuống tọa độ. Trước đó, anh từng nhiều lần vượt biên giới Lào-Việt về Việt nam để đưa một số gia đình địa chủ vượt biên tị nạn. Có lần quân đội Pathet Lào (Lào cộng) bắt dẫn độ anh trở lại quê nhà và trao anh vào tay chính quyền địa phương xử lý. Những chuyện đau thương như thế tại một vùng nông thôn ở Hà Tĩnh đều được mô tả với giọng văn bình tĩnh, khách quan mà trung thực, thì càng có sức lôi cuốn và thuyết phục đối với số đông độc giả muốn tìm hiểu sự thực trong giai đoạn lịch sử đen tối ảm đạm này, tại miền Bắc Việt nam hồi thập niên 1950-60.
Nhờ sự bố trí khôn khéo và cương quyết của người cha, mà cả gia đình đã trốn thoát được sang bên quốc gia láng giềng là nước Lào, rồi cuối cùng vào đầu thập niên 1960, thì tới định cư được tại miền Nam Việt nam. Nơi đây, tác giả đã có cơ hội tiếp tục việc học tập lên tới bậc Đại học và đã tham gia sinh hoạt khá sôi nổi trong các lãnh vực văn hóa xã hội và giáo dục.
Vào cuối thập niên 1960, thì giới học sinh sinh viên miền Nam tham gia sinh hoạt chính trị xã hội rất sôi nổi, trong đó có một bộ phận rất năng nổ do cộng sản tổ chức giật dây, nên đã diễn ra nhiều cuộc trực diện đối đầu căng thẳng với cơ quan anh ninh, nhiều khi đưa đến chuyện bạo động. Tác giả vừa là sinh viên, vừa là giáo sư dậy học tại các trường trung học, nên đã bị lôi cuốn vào trong cơn lốc xoáy của lớp thanh niên trẻ của đô thị giữa một tình huống chiến tranh đang mỗi ngày càng leo thang tàn khốc.


Tiếp theo, tác giả lại gia nhập hàng ngũ quân đội theo tiếng gọi Tổng động viên đối với các thanh niên còn ở dưới tuổi 33. Và với lập trường quốc gia vững chắc, được trui rèn qua bao nhiêu năm sống trong lòng chế độ cộng sản ở quê nhà tại Hà Tĩnh, viên sĩ quan trẻ tuổi này đã phân biệt thật rõ ràng được những thủ đoạn thâm độc, tinh vi khôn khéo của các tổ chức ngoại vi của cộng sản, mà được ngụy trang dưới chiêu bài đấu tranh cho tự do dân chủ, hòa giải hòa hợp nhằm tiến tới hòa bình, với sự chủ động của giới lãnh đạo chóp bu ở Hanoi. Nhờ vậy mà anh đã không để cho mình bị biến thành quân cờ bung xung cho phía Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt nam, như một số người nhẹ dạ khác đã từng bị ngả theo.
Nhưng phần chứng từ quan trọng với đày đủ chi tiết “bi hài” ngộ nghĩnh nhất, lại là những đoạn viết về tình hình sinh hoạt của các tù nhân trong các “ trại cải tạo “ dành riêng cho giới sĩ quan và viên chức của Việt nam Công hòa bị bắt đi “trình diện học tập” kể từ sau ngày 30 Tháng Tư 1975 oan nghiệt đau thương đó.
 Các mẩu chuyện mô tả ở phần này rất là sinh động, đôi khi hóm hỉnh, nhưng chủ yếu là rất trung thực trong cố gắng tường thuật những chi tiết rất đáng ghi nhớ trong cách đối xử của “ cán bộ quản giáo coi tù” đối với “các học viên” là “ tù nhân, phạm nhân”. Cũng như tác phong của một thiểu số những “học viên vì quá hèn nhát, nên đã tiếp tay với lũ cai tù để mà hành hạ, phản bội anh em đồng cảnh ngộ với mình”.
Tác giả rất bình tĩnh, nương nhẹ chứ không có giọng điệu khắt khe hận thù gì đối với những con người yếu đuối hèn nhát này. Tuy vậy, các chứng từ rải rác trong khắp cuốn sách đều phù hợp với các tài liệu về tù nhân chính trị vốn được coi là có giá trị khả tín rất cao, mà đã được công chúng biết đến từ nhiều năm qua.
Vắn tắt lại, dù đây chưa phải là một tài liệu lịch sử được biên soạn theo phương pháp nghiêm ngặt, chặt chẽ của khoa sử học, thì cuốn sách “Nửa Thế kỷ Việt nam” của tác giả Song Nhị rõ rệt là một đóng góp rất có giá trị cho những ai muốn tìm hiểu về cái thời đại nhiễu nhương của dân tộc chúng ta trong suốt trên nửa thế kỷ qua. Tác giả vừa là một chứng nhân và cũng là một nạn nhân của cái nền độc tài chuyên chế tệ hại nhất trong lịch sữ 4000 năm của đất nước ta vậy. Nên đã viết ra những chứng từ rất chính xác và chân thực.
Có thể nói trong đại gia đình dân tộc Việt nam chúng ta, thì phải có đến hàng chục triệu người vừa là nạn nhân bất hạnh, vừa phải đích thân chứng kiến những cảnh man rợ tàn bạo do người cộng sản gây ra, trong suốt trên 60 năm qua tại quê hương đất nước ta. Nhưng ít có người đã trung thực và bình tĩnh kể lại chi tiết những chuyện đau thương khổ ải, đọa đày mà rất ư là tàn tệ độc ác, như tác giả Song Nhị đã ghi lại trong cuốn sách quý giá này. Người viết xin được ghi nơi đây lời cảm ơn chân thành đến với tác giả vì đã cống hiến cho các bạn đọc một tác phẩm biên soạn rất công phu, gọn gàng chu đáo, mà lại hết sức trung thực như vậy.
 Sau cùng, về phương diện hình thức văn học, tác giả đã sử dụng thể loại “Bút ký – Tự truyện”, với một bút pháp khá nhẹ nhàng, bình thản để chuyên chở đến người đọc những điều tai nghe mắt thấy, những nỗi nhục nhằn vất vả của một tù nhân, cùng với những cảm nghĩ chân thực đày tính nhân đạo, khoan dung của mình, ngay cả đối với kẻ đã hành hạ áp chế tập thể những tù nhân như mình. Thái độ cao khiết như thế có thể gọi là “Can trường trong chiến bại”, là một từ ngữ đã được dùng như là một nhan đề cho cuốn sách của một vị sĩ quan thuộc binh chủng Hải quân vừa xuất bản vài ba năm gần đây vậy./
California, Tháng Ba 2010
Đoàn Thanh Liêm
(GHI CHÚ: Ra Mắt Sách Nửa Thế Kỷ Việt Nam của tác giả Song Nhị lúc 1 PM - 5 PM, Chủ Nhật 22/8 tại Hội trường báo Người Việt, 14771 Moran St, Westminster, CA 92683. L/L Lý Kiến Trúc (714) 331-8393, Lê Văn Hải (408) 531-8639.)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Sau ngày 30/4/1975, nếu phe chiến thắng đã có những chính sách mang lại sự hoà giải quốc gia, đối xử nhân bản với bên thua trận, thay vì cải tạo học tập, càn quét và thiêu huỷ văn hoá miền Nam, đánh tư sản mại bản, thì đã không có hàng triệu người bỏ nước ra đi và người Việt sẽ chẳng mấy ai còn nhớ đến một đất nước của quá khứ, tuy chưa hoàn toàn tự do dân chủ nhưng so với Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì người dân đã được tự do hơn bây giờ rất nhiều.
Tất nhiên phải “thành công” vì đảng một mình một chợ, không có ai cạnh tranh hay đòi chia phần. Nhưng việc đảng chọn cho dân bầu chỉ để tuyên truyền cho phương châm “ý đảng lòng dân”, trong khi người dân không có lựa chọn nào khác mà buộc phải đi bỏ phiếu để tránh bị làm khó trong cuộc sống.
Âm nhạc dễ đi vào lòng người, với hình bóng mẹ, qua lời ca và dòng nhạc, mỗi khi nghe, thấm vào tận đáy lòng. Trước năm 1975, có nhiều ca khúc viết về mẹ. Ở đây, tôi chỉ đề cập đến những ca khúc tiêu biểu, quen thuộc đã đi vào lòng người từ ngày sống trên quê hương và hơn bốn thập niên qua ở hải ngoại.
Những bà mẹ Việt xưa nay rất chơn chất thật thà, rất đơn sơ giản dị cả đời lo cho chồng con quên cả thân mình. Sử Việt nghìn năm đương đầu với giặc Tàu, trăm năm chống giặc Tây. Những bà mẹ Việt bao lần âm thầm gạt lệ tiễn chồng con ra trận, người đi rất ít quay về. Những bà mẹ âm thầm ôm nỗi đau, nỗi nhớ thương da diết.
Trước công luận, Eisenhower lập luận là cuộc chiến không còn nằm trong khuôn khổ chống thực dân mà mang một hình thức chiến tranh ủy nhiệm để chống phong trào Cộng Sản đang đe doạ khắp thế giới. Dân chúng cần nhận chân ra vấn đề bản chất của Việt Minh là Cộng Sản và chỉ nhân danh đấu tranh giành độc lập cho Việt Nam; quan trọng nhất là phải xem ông Hồ chí Minh là một cánh tay nối dài của Liên Xô. Đó là lý do cộng đồng quốc tế cần phải tiếp tục hỗ trợ cho Pháp chiến đấu.
Dù vẫn còn tại thế e Trúc Phương cũng không có cơ hội để dự buổi toạ đàm (“Sự Trở Lại Của Văn Học Đô Thị Miền Nam”) vào ngày 19 tháng 4 vừa qua. Ban Tổ Chức làm sao gửi thiệp mời đến một kẻ vô gia cư, sống ở đầu đường xó chợ được chớ? Mà lỡ có được ai quen biết nhắn tin về các buổi hội thảo (tọa đàm về văn học nghệ thuật miền Nam trước 1975) chăng nữa, chưa chắc ông Nguyễn Thế Kỷ – Chủ Tịch Hội Đồng Lý Luận, Phê Bình Văn Học, Nghệ Thuật – đã đồng ý cho phép Trúc Phương đến tham dự với đôi dép nhựa dưới chân. Tâm địa thì ác độc, lòng dạ thì hẹp hòi (chắc chỉ nhỏ như sợi chỉ hoặc cỡ cây tăm là hết cỡ) mà tính chuyện hoà hợp hay hoà giải thì hoà được với ai, và huề sao được chớ!
Lời người dịch: Trong bài này, Joseph S. Nye không đưa ra một kịch bản tồi tệ nhất khi Hoa Kỳ và Trung Quốc không còn kiềm chế lý trí trong việc giải quyết các tranh chấp hiện nay: chiến tranh nguyên tử có thể xảy ra cho nhân loại. Với 8000 đầu đạn hạt nhân của Nga, khoảng 270 của Trung Quốc, với 7000 của Mỹ, việc xung đột hai nước, nếu không có giải pháp, sẽ là nghiêm trọng hơn thời Chiến tranh Lạnh.
Kính thưa mẹ, Cứ mỗi tháng 5 về, nước Mỹ dành ngày Chủ Nhật của tuần đầu tiên làm Ngày của Mẹ (Mother's Day), ngày để tôn vinh tất cả những người Mẹ, những người đã mang nặng đẻ đau, suốt đời thầm lặng chịu thương, chịu khó và chịu khổ để nuôi những đứa con lớn khôn thành người.
Khoảng 4.500 người đã được phỏng vấn, trong đó có khoảng 700 người gốc Á. 49% những người được hỏi có nguồn gốc châu Á đã từng trải qua sự phân biệt chủng tộc trong đại dịch. Trong 62 phần trăm các trường hợp, đó là các cuộc tấn công bằng lời nói. Tuy nhiên, 11% cũng bị bạo hành thể xác (koerperliche Gewalt) như khạc nhổ, xô đẩy hoặc xịt (phun) thuốc khử trùng.
Nguyệt Quỳnh: Anh còn điều gì khác muốn chia sẻ thêm? Trịnh Bá Phương: Trong cuộc đấu tranh giữ đất, nhóm chúng tôi đã tham gia các phong trào khác như bảo vệ cây xanh, bảo vệ môi trường, tham gia biểu tình đòi tự do cho các nhà yêu nước, tham gia các phiên toà xét xử người yêu nước bị nhà nước cộng sản bắt giam tuỳ tiện. Và hướng về biển đông, chống sự bành trướng của Bắc Kinh khi đã cướp Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam! Và mới đây là phản đối bè lũ bán nước đã đưa ra dự luật đặc khu và dự luật an ninh mạng.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.