Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Gs. Nguyễn Tiến Hưng: “mở Cửa Bắc Kinh, Đóng Cửa Sàigòn”(3)

09/04/201000:00:00(Xem: 5561)

Gs. Nguyễn Tiến Hưng: “Mở Cửa Bắc Kinh, Đóng Cửa Sàigòn”(3)
Kissinger Và 3 Bước Chôn Sống VNCH

Tổng Thống Nixon hết sức tự hào về chuyến viếng thăm Trung Hoa của ông bắt đầu từ ngày 21 đến 28 tháng 2, 1972, một tuần lễ mà ông gọi là "Tuần lễ thay đổi cục diện thế giới" (The week that changed the world). Đối với Miền Nam thì thay đổi thật, vì trong dịp này, Nixon đã nói với ông Chu Ân Lai: "Nếu tôi ngồi đối diện với bất cứ ai là nhà lãnh đạo của Bắc Việt, và nếu hai bên có thể thỏa hiệp ngưng bắn và hoàn trả các tù binh chiến tranh (POWs) của chúng tôi, thì tất cả quân đội Hoa Kỳ sẽ rút khỏi Việt Nam trong vòng sáu tháng kể từ ngày ấy." (13)
Như vậy rõ ràng là Nixon đã tiết lộ ông sẵn sàng rút quân khỏi Việt Nam chỉ cốt đổi lấy việc trao trả tù binh và một cuộc ngưng bắn. Và ông chỉ viết có vậy. Nhưng những điều gì mà Nixon không viết trong hồi ký về cuộc họp này thì rút cuộc cũng đã lộ ra hết.
* "Sẽ không để lại
cái đuôi nào ở Việt Nam."
Theo tài liệu mới giải mật thì trong buổi họp làm việc đầu tiên với phía Trung Hoa tại Bắc Kinh (ngày 22 tháng 2, 1972), Tổng Thống Nixon đã nói thẳng thừng về ý định của ông là rút quân hoàn toàn khỏi Việt Nam mà không để lại một "cái đuôi"  (lực lượng tàn dư - residual force):
"Chúng tôi đã tự nguyện rút hết quân mà không để lại cái "đuôi" nào - như lời ông Thủ Tướng đã nói - và chúng tôi sẽ có ngưng bắn trên toàn cõi Đông Dương miễn là chúng tôi lấy lại được tù binh. Sau đó, chúng tôi sẽ để cho dân chúng ở đó tự mình quyết định lấy (mọi việc)."
["We have offered to withdraw all Americans, with no   "tail"  behind -to use the Prime Minister's expression- and you have a ceasefire throughout Indochina provide we get our prisoners back. Then we would let the decision be made by the people there."]
Trường hợp ở Đại Hàn sau cuộc chiến tranh Triều Tiên cũng như ở Âu Châu sau Thế Chiến II, sau bao nhiêu chục năm và cho tới ngày nay, Hoa Kỳ vẫn đóng lại một lực lượng tượng trưng. Chính Tướng Creigton Abrams, Tư Lệnh Quân Lực Mỹ ở Việt Nam, cũng luôn nói là sẽ có một "residual force" đóng tại Miền Nam khoảng 25.000 người cộng với số nhân viên tiếp vận. (14) Tổng Thống Thiệu cũng luôn hy vọng là sau cùng thì Mỹ sẽ để lại một lực lượng nhỏ giống như ở Đại Hàn. Sau này, Tướng Abrams đã phải phàn nàn về việc Hoa Kỳ đã bỏ đi lập trường từ bao nhiêu năm như vậy.
Nixon cũng than phiền về việc Bắc Việt cứ... "khăng khăng đòi chúng tôi giải quyết không những vấn đề quân sự mà còn muốn chúng tôi phải áp đặt một tương lai chính trị bằng cách triệt bỏ chính quyền hiện tại và áp đặt một chính quyền do họ lựa chọn. Điều này chúng tôi không thể làm được vì vừa rút quân vừa thông đồng với phía địch để lật đổ một đồng minh thì từ nay không quốc gia nào sẽ tin cậy Hoa Kỳ nữa." Rồi dường như muốn nhắn nhủ Hà Nội, Nixon thêm: "Chúng tôi sẽ không ra đi mà không có một hiệp định." Phải có một hiệp định thì mới có thể ra đi trong danh dự.

* "Tôi đang gỡ bỏ
cái nhức nhối này đi."
Bây giờ việc Hoa Kỳ giao hảo với Trung Hoa mới là chính yếu, và Việt Nam đã trở thành một chướng ngại vật trong cuộc giao hảo, Nixon cam đoan với ông Chu, lại còn đổ cho tiền nhiệm là Tổng Thống Johnson là người đã mang quân vào Việt Nam, còn ông mới là người rút quân đi:
"Chúng ta có thể rất thành thật trong buổi nói chuyện này... Tôi muốn cam đoan với Thủ Tướng rằng tôi đang gỡ bỏ cái nhức nhối này đi, nhanh chóng nhất như một người ở địa vị tôi có thể làm được. Vị tiền nhiệm của tôi gửi 500.000 quân sang Việt Nam. Tôi đã rút đi 500.000 quân. Việc tôi sẽ chấm dứt sự can dự của Hoa Kỳ chỉ là vấn đề thời gian. Về điểm này tôi có thể nói chắc chắn với Ngài như vậy."
["We can be very honest in this conversation... I want to assure the Prime Minister I am removing this irritant as fast as anyone in my position could. My predecessor sent in 500,000 men into Vietnam, I;ve taken 500,000 out. I will end American involvement.   it's matter of time. I can speak with certainly on this point."]
Đúng là chỉ còn vấn đề thời gian để rút nốt số quân còn lại, với điều kiện duy nhất là Hà Nội phải ký một hiệp ước. Nixon nói: "Tất cả những điều chúng ta đang nói thật ra chỉ làm sao là liệu có thể giúp cho tiến trình mau lẹ hơn, không phải bằng cách chúng tôi hấp tấp rút quân mà bằng một hiệp định."
Đó là những chuyện đã xẩy ra tại Bắc Kinh, nhưng về tới Washington, TT Nixon lại tiếp tục trấn an ông Thiệu vì cần phải làm như vậy để ông Thiệu khỏi công khai phản ứng. TT Nixon liền viết cho TT Thiệu (ngày 2 tháng 3, 1972) cam đoan: "Chúng tôi không có thương lượng bất cứ điều gì sau lưng những người bạn của Hoa Kỳ; đã không có thỏa thuận bí mật nào hết." ["We negotiated nothing behind the backs of friends of the United States; there was no secret deals."]
Để cho có trọng lượng, Nixon còn khẳng định: "Ngài có thể tin chắc là tôi sẽ làm mọi cách trong quyền hạn của tôi để bảo đảm rằng sự hy sinh to lớn của hai dân tộc Việt-Mỹ sẽ không bị uổng phí..." ["You may be certain that I will do all in my power to insure that the enormous sacrifice of the Vietnamese and American peoples do not come nothing."] Đây là những lời tâm huyết, dựa trên xương máu mà quân đội Mỹ-Việt đã đổ trên chiến trường. Đó là một đề tài mà Nixon sẽ nhắc đi nhắc lại trong những thư từ tiếp tục trao đổi với ông Thiệu.

Vận động với ông Andrei Gromyko.
Chiến lược mới của Hoa Kỳ gồm ba mũi: Hòa hoãn với Liên Xô, khai thác những mâu thuẫn Nga-Hoa, và bình thường hóa quan hệ với Trung Hoa. Bởi vậy, đang khi lôi kéo Trung Hoa vào một quan hệ có tính cách xây dựng và rút lui khỏi chiến trường Việt Nam, Nixon cũng muốn nhờ sự giúp đỡ của Liên Xô để thuyết phục Bắc Việt.
Trong những ngày 20 tới 25 tháng 4, 1972, đang khi Quân Lực VNCH nỗ lực đẩy lui cuộc tấn công của quân đội Bắc Việt vào dịp Lễ Phục Sinh (Easter Offensive) - Mùa Hè Đỏ Lửa của miền Nam - thì ông cử Kissinger bí mật sang Moscow. Nixon đã chỉ thị Kissinger đòi cho bằng được một sự thỏa hiệp với Brezhnev về Việt Nam như một điều kiện tiên quyết để thảo luận về bất cứ vấn đề gì trong cuộc họp thượng đỉnh sắp tới. "Sẽ không có thỏa ước nào cho đến khi Moscow thuyết phục được Bắc Việt chấm dứt chiến tranh bằng thương thuyết."
Lệnh là như vậy nhưng Kissinger lại xin xỏ.
Trong các cuộc hội đàm mật với Brezhnev tại Dom Pryomov, nhà khách chính phủ trên đồi Lênin nhìn xuống sông Moscow, Kisinger lại không cứng rắn như chỉ thị của Tổng Thống mà lại nhờ cậy Nga Xô đề nghị với Bắc Việt một loạt nhượng bộ của Hoa Kỳ (sau này sẽ trở thành căn bản của Hiệp Định Paris tháng Giêng 1973). Kissinger nói với Brezhnev rằng Hoa Kỳ bằng lòng chấp nhận một cuộc ngưng bắn tại chỗ để đổi lấy việc Bắc Việt rút quân, nhưng chỉ rút những lực lượng vừa mới xâm nhập vào Miền Nam kể từ khi có cuộc tấn công bắt đầu ngày 31 tháng 3 (gạch dưới là do tác giả) còn những lực lượng nào đã xâm nhập vào Nam trước cuộc tấn công, ước lượng khoảng 200.000 người, sẽ có thể ở lại.
Đây là lần đầu tiên Hoa Kỳ đã minh thị thỏa thuận cho quân đội Bắc Việt ở lại Miền Nam. Vì trước đó, Hoa Kỳ chỉ nói tới đồng ý là Mỹ sẽ rút quân đơn phương chứ chưa nói rõ là quân đội Bắc Việt được quyền đóng ở lại. Thí dụ như cho tới ba tháng trước đó, ngày 25 tháng 1, trong kế họach Tám Điểm trước khi đi Bắc Kinh, Tổng Thống Nixon vẫn còn dùng lời lẽ mơ hồ nói về cuộc rút quân: Hoa Kỳ kêu gọi "các lực lượng ngọai nhập (hay 'nước ngoài'  foreign troops) rút khỏi Đông Dương". Từ ngữ "ngoại nhập" tuy là mơ hồ nhưng nó cũng có thể được giải thích là bao gồm cả quân đội Bắc Việt (nghĩa là từ bên ngoài xâm nhập vào Miền Nam Việt Nam).
Ngày 21 tháng 4, 1972, Kissinger nói với Brezhnev: "Chúng tôi có hai mục tiêu, thứ nhất là thể hiện một cuộc rút quân toàn bộ trong danh dự, và thứ hai là đặt để một khoảng thời gian giữa việc rút quân và tiến trình chính trị sau đó."
Như vậy, Hoa Kỳ lại gởi một thông điệp dứt khoát cho Hà Nội, lần này là qua ngả Moscow.
Sau chuyến đi này, Kissinger tháp tùng Nixon đi dự hội nghị thượng đỉnh ở Moscow. Trong dịp này, Kissinger tỏ ra rất cởi mở và đề cập tới một "tiến trình lịch sử" sẽ khai triển sau khi Mỹ rút quân. Ông hay thích dùng cụm từ "tiến trình lịch sử" hay "diễn biến" với ý nghĩa là để mặc cho người Việt Nam tự thương thảo với nhau theo nguyên tắc "dân tộc tự quyết" không có sự can thiệp của Mỹ.
Mời độc giả theo dõi tài liệu mới giải mật (2005) về cuộc đàm thoại giữa ông Kissinger và Ngoại trưởng Liên Xô Gromyko (15):


-issinger: "Người Việt miền Bắc là một dân tộc anh hùng và về bản thân rất quyến rũ. Mặc khác họ không muốn tin vào một tiến trình lịch sử. Họ muốn mọi việc đều được viết ra trên giấy trắng mực đen và ngay bây giờ... Tôi nghĩ rằng sự diễn biến tình hình còn quan trọng hơn là những sự thỏa hiệp. Nếu Bắc Việt khôn ngoan -tôi xin nói tình thật- thì giờ đây họ nên thỏa hiệp với chúng tôi và đừng tranh cãi từng chi tiết làm gì nữa, bởi vì một năm sau khi thỏa hiệp sẽ có một tình huống mới, một thực tế mới,... Nếu họ không muốn một... thỏa hiệp toàn diện, thì chúng ta hãy cứ thỏa thuận về một cuộc ngưng bắn, thỏa thuận về việc trao đổi tù binh, và chúng tôi sẽ rút hết quân, rồi để họ thương thảo với Miền Nam về một giải pháp chính trị. Khi đó chúng tôi sẽ cam đoan, ngoại trừ về kinh viện và quân viện, sẽ không nhứng tay vào nữa, chúng tôi sẽ giữ thái độ trung lập trong tiến trình lịch sử."
- Gromyko: "Đôi lúc cảm tưởng của tôi sau khi nghe Tổng Thống và Tiến sĩ Kissinger trình bày về lập trường chính thức của Hoa Kỳ là không thể để cho Việt Nam rơi vào tay một chính quyền Cộng sản hay Xã hội Chủ nghĩa. Điều này là một cái bóng che mờ những lời tuyên bố của các ngài. Có phải sự quan tâm chính yếu của các ngài chỉ là về tính cách của việc chính quyền hay không""
- Kissinger: "Đó là một câu hỏi hay, được đặt ra bởi những người biết suy luận. Điều chúng tôi muốn nói là chúng tôi sẽ không rút lui theo một cung cách để bào đảm cho Cộng sản chiến thắng. Tuy nhiên, chúng tôi sẵn sàng rút lui để không loại trừ một cuộc chiến thắng của Cộng sản, mặc dầu không có bảo đảm. Tôi không biết sự phân biệt này có ý nghĩa gì đối với ông Ngoại trưởng hay không... ngài hiểu ý chúng tôi muốn nói gì chứ""
Điều mà Kissinger muốn nhắn gửi Hà Nội đã rõ ràng: không bảo đảm nhưng cũng không loại trừ một cuộc chiến thắng của Hà Nội.
Đạo diễn những bước để quân đội Bắc Việt tiến vào Sàigòn.
Cũng theo tài liệu mới giải mật, khi đi Moscow về, trong hai ngày 21 và 22 tháng 6, 1972, Kissinger lại đi Bắc Kinh gặp Chu Ân Lai để nói rõ hơn về chính sách Hoa Kỳ đối với Miền Nam. (16)

* Ngày 21 tháng 6, 1972: Chỉ cần một thời gian vừa đủ:
Ông Kissinger nói với ông Chu:
"Tôi tin rằng nếu có một khoảng thời gian vừa đủ giữa lúc chúng tôi rút quân và những gì xẩy ra sau đó thì vấn đề gần như chắc chắn có thể khoanh gọn như chuyện nội bộ của Đông Dương. Điều quan trọng là phải có một khoảng thời gian hợp lý giữa thỏa hiệp ngưng bắn và một cơ hội hữu lý để thương thảo chính trị...
Lý luận của tôi là chúng tôi muốn đặt ra một khoảng thời gian giữa kết cuộc quân sự và kết cuộc chính trị. Không ai có thể tưởng tượng được rằng lịch sử sẽ kết thúc ở bán đảo Đông Dương với chỉ một cuộc ngưng bắn."

* Ngày 22 tháng 6, 1972:
Ba bước đi.
Ngay hôm sau, để đánh tan mọi nghi ngờ, Kissinger đã phác thảo một kịch bản theo đó Bắc Việt có thể toàn thắng. Mặc dầu Hoa Kỳ không thể tự mình làm cho điều ấy xẩy ra, nhưng ông nói không úp mở (giải mật ngày 26 tháng 5, 2006):
"Nếu do kết quả của diễn biến lịch sử mà chuyện đó xẩy ra trong một khoảng thời gian thì nếu chúng tôi sống được với chính phủ Cộng sản ở Trung Quốc, chúng tôi cũng có thể chấp nhận như thế ở Đông Dương."
Ông cũng nhắn qua ông Chu rằng Hoa Kỳ tôn trọng Hà Nội như một "thực thể thường trực" (permanent entity) và có thể là một "thực thể mạnh nhất" trong vùng. Ông thêm: "Và chúng tôi không có ý tiêu diệt hay thậm chí đánh bại họ."
Khi ông Chu hỏi vặn thêm cho rõ hơn, Kissinger thừa nhận rằng Mỹ có thể chấp nhận cho Cộng sản tiếm quyền bằng võ lực nếu điều này xẩy ra một thời gian khá lâu sau khi Mỹ đã rút lui:
"Nếu nội chiến xẩy ra một tháng sau khi có hiệp ước hòa bình để Mỹ rút quân và trao đổi tù binh thì Hoa Thịnh Đốn có lẽ sẽ coi đó là một mưu mẹo và sẽ quay trở lại...
Mặc khác, nếu Bắc Việt nghiêm chỉnh thương thảo với Nam Việt Nam và nếu sau một thời gian lâu dài chuyện đó xẩy ra sau khi chúng tôi đã không còn can dự nữa thì theo xét đoán của cá nhân tôi, có rất ít khả năng chúng tôi sẽ quay trở lại, rất ít khả năng."
Như vậy, kịch bản này có ba giai đoạn:
1- Ký kết một hiệp định để Hoa Kỳ triệt thoái trong danh dự;
2- Tôn trọng một khoảng thời gian giữa triệt thoái và sự sụp đổ sẽ xẩy ra (thời gian này phải   coi cho được   chứ không phải là một tháng); và sau đó,
3- Mỹ có thể chấp nhận một chính quyền Cộng sản ở Sàigòn.

* Cứ đổ cho Miền Nam bất lực là xong chuyện.
Tài liệu mới được giải mật vào tháng 6, 2006 cho ta thấy phần nào cách thức Kissinger đã dùng để thuyết phục Nixon vào màn chót trong thời gian mật đàm. Mời độc giả theo dõi cuộc đàm luận, tính toán giữa hai người tại Tòa Bạch Ốc ngày 3 tháng 8, 1972 (có ghi âm, xem bản in lại trong chương này):
- Nixon: [Nghe không rõ-các giọng nói trùng nhau] Cần phải có - nếu chúng ta có thể có những bảo đảm rằng họ không... anh biết đấy, xét về tiến trình chính sách ngoại giao, mặc dầu tôi muốn nói, anh phải - Henry, anh cũng phải biết rằng thắng cử là vô cùng quan trọng. Nó vô cùng quan trọng năm nay, nhưng liệu chúng ta có được một chính sách ngoại giao vững bền [nếu] một năm hay hai năm kể từ bây giờ Bắc Việt nuốt trọn Nam Việt" Đó đích thực là vấn đề.
- Kissinger: Nếu một hay hai năm kể từ bây giờ mà Bắc Việt nuốt trọn Nam Việt, chúng ta vẫn có một chính sách ngoại giao vững vàng nếu điều đó xem như là hậu quả của sự bất lực của Miền Nam. Nếu bây giờ mà chúng ta bán đứng (Miền Nam) ví dụ như trong vòng ba, bốn tháng, nếu như chúng ta đẩy ông Thiệu xuống - do chính bàn tay chúng ta -  tôi nghĩ rằng sẽ có (hậu quả và) - đến ngay bọn Tàu cũng không ưa như thế. Tôi muốn nói rằng tuy ngoài miệng họ vẫn nói là họ thích như thế.
- Nixon: Nhưng họ sẽ lo ngại.
- Kissinger: Ai cũng sẽ lo ngại điều đó. Và đối nội thì về lâu về dài, cái đó không có lợi cho mình bởi vì đối thủ của chúng ta sẽ nói rằng lẽ ra chúng ta đã phải làm chuyện đó từ ba năm trước.
- Nixon: Tôi hiểu.

* Rồi Việt Nam sẽ thành bãi hoang vu.
- Kissinger tiếp lời: "Vậy chúng ta phải tìm ra một công thức nào đó để làm cho yên bề mọi chuyện trong một hay hai năm, sau đó thì - một năm sau, thưa Tổng Thống, Việt Nam sẽ là một bãi hoang vu. Nếu chúng ta kết thúc được, ví dụ, trong tháng 10 này, thì đến tháng 1, 1974, chẳng ai cần đếch gì nữa." (xin lỗi độc giả nhưng phải dịch như vậy mới đúng tinh thần của câu nói: "So we got to find some formula that holds the thing together a year or two, after which - after a year, Mr President, Vietnam will be back water. If we settle ít, say, this October (1972), by January 74 no one will give a damn.")
- Nixon: "Chúng ta hãy hoàn toàn sắt máu trong chuyện này. Nếu đứng trên quan điểm trò chơi của chúng ta với Nga và Tàu mà xét vấn đề, trên quan điểm quản trị xứ sở này, tôi nghĩ rằng chúng ta có thể, theo ý tôi, làm hầu như bất cứ điều gì, nói cho ngay, để bắt ép ông Thiệu. Hầu như bất cứ điều gì. Tôi đã đi tới kết luận như thế. Anh biết tôi muốn nói gì rồi..."
Nixon nhắc đi nhắc lại câu "hầu như bất cứ điều gì" như vậy chắc có ý nói là nếu cần thì có thể sẽ đảo chính, dẹp cả ông Thiệu đi cho xong. Làm sao ta có thể dung hòa được những ngôn từ tàn bạo trong cuộc đàm thoại giữa hai người như thế này với những lời lẽ cương quyết thúc giục ông Thiệu "Chúng ta phải tin vào nhau hoàn toàn." trong suốt thời gian có mật đàm (xem chương 14).
Thấy Nixon cứ lo lắng về hậu quả bỏ rơi Miền Nam đối với uy tín của Hoa Kỳ, Kissinger đã thuyết phục thành công: "Chúng ta phải tìm ra một công thức nào đó để làm cho yên bề mọi chuyện trong một hay hai năm sau, sau đó thì... chẳng ai cần đếch gì nữa."
Vì sao" Vì lúc ấy "Việt Nam sẽ chỉ còn là một bãi hoang vu."
Thào nào sau một ngày ký tắt vào bản hiệp định Paris và về tới Washington, Đổng lý Văn phòng Tổng Thống là John Erlichman gặp Kissinger đứng trước cửa văn phòng Lincoln trong Tòa Bạch Cung nên có hỏi:
- "Theo ông, Miền Nam VN có thể tồn tại được bao lâu nữa."
- "Tôi nghĩ rằng nếu họ may mắn thì được một năm rưỡi." Kissinger đáp.
Bốn năm sau lúc hạ màn, Kissinger vẫn còn ngang nhiên viết trong hồi ký - có thể vì lúc ấy (1979) tất cả mọi chuyện còn đang ém nhẹm, chưa có gì được giải mật:
"Chúng tôi đã đi tìm không phải chỉ một khoảng thời gian trước khi sụp đổ, nhưng một nền hòa bình lâu dài và danh dự."
NGUYỄN TIẾN HƯNG
(trích sách mới “Tâm Tư Tổng Thống Thiệu” sắp phát hành)

Ghi chú:
(13) Richard Nixon, sđđ, trang 568-568
(14) Nguyễn Phú Đức, sđđ, trang 226
(15) Jeffrey Kimball, December 2003 Newsletter
http://www.shafr.org/newsletter/2003/december/kimball.htm, p.10
(16) Như trên
(17) Henry Kissinger, sđđ, trang 1470.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Chiến tranh ở Việt Nam sôi động nhất là vào thập niên 70. Nam ký giả nhà binh thì nhiều, nhưng nữ ký giả chỉ có Phan Trần Mai, thuộc binh chủng Nhảy Dù, sau khi giải ngũ về làm cho nhật báo Trắng Đen. Chúng tôi gặp nhau vào mùa hè đỏ lửa, lúc ở địa đầu giới tuyến, tỉnh Quảng Trị.
Hôm nay công sở và trường học cùng một số hãng xưởng đã được nghỉ lễ ngày Martin Luther King Jr. Day để đón mừng sinh nhật và tưởng niệm ông. MLK sinh ngày 15 tháng Một năm 1929 nhưng ngày MLK Day được chọn là ngày thứ Hai thứ ba trong tháng Một hàng năm, tức hôm nay. Ngoại trừ sinh nhật tổng thống George Washington và Abraham Lincoln được kết hợp và đón chào như một ngày lễ liên bang qua Ngày Tổng Thống - President Day, ông là công dân Hoa Kỳ duy nhất có ngày sinh đã được Quốc Hội chuẩn thuận và tổng thống Ronald Reagan thông qua vào năm 1983, trở thành ngày lễ liên bang chính thức, nhằm tưởng niệm và vinh danh một nhân vật lịch sử vĩ đại của nước Mỹ. Người mà cái tên hầu như hiện diện khắp nước Mỹ qua những bảng tên đường, các trung tâm, tổ chức, phong trào xã hội dân sự.
Bạn tôi, tất cả, phần lớn đều là lính ráo. Chúng tôi không chỉ có chung những năm cầm súng, và một quãng đời tù, mà còn chia chung rất nhiều … cố tật! Hễ gặp nhau là uống, và câu chuyện trên bàn rượu trước sau gì rồi cũng xoay quanh kỷ niệm về đám chiến hữu hồi còn chinh chiến: những thằng đã chết, những đứa đang vất vưởng ở quê nhà, hay lưu lạc (đâu đó) nơi đất lạ xứ người.
Đọc các bản tin về ngày lễ nhậm chức của Tổng Thống tân cử Joe Biden cùng Phó TT Kamala Harris với chủ đề Nước Mỹ Đoàn Kết (America United), bên cạnh những thông tin áp đảo về vấn đề an ninh, có thể nhiều người còn thấy con số 191,500 lá cờ đủ kích cỡ tượng trưng cho người dân không thể đến tham dự cùng 56 bệ đèn được cắm và dựng quanh khu vực tổ chức.
Kết quả bầu cử tại Georgia cho thấy quyền lực chính trị ở Mỹ thay đổi chỉ vỏn vẹn 10 ngàn lá phiếu nhất là đến từ dân thiểu số. Cho nên đảng Dân Chủ dưới thời Biden sẽ gấp rút đẩy mạnh các chính sách nhập cư và an sinh xã hội nhằm biến đỏ thành xanh ở các tiểu bang như Arizona, Georgia hay ngay cả Florida và Texas vốn là những thành trì của đảng Cộng Hòa cho đến nay.
Bao lâu nữa thì hệ thống môi sinh nơi quê hương tôi sẽ bị hủy hoại, đến độ không sinh vật nào có thể sống được ở nơi này? Khi cái vòng sống liên tục vô thủy vô chung đó có một mắt xích bị hỏng, khi môi trường sinh thái ở một nơi nào đó bị mất quân bằng, có bao nhiêu sinh vật sẽ bị ảnh hưởng – và bị ảnh hưởng tận cùng rốt ráo ra sao?
Tôi đã phỏng vấn các nhà tư tưởng hàng đầu về 101 đề tài riêng biệt – từ tiền bạc tới nợ nần, các hệ thống cung cấp tới mậu dịch, việc làm tới máy robots, báo chí tới chính trị, nước tới thực phẩm, biến đổi khí hậu tới nhân quyền, thương mại điện tử tới an ninh mạng, tuyệt vọng tới tinh thần lành mạnh, giới tính tới kỳ thị chủng tộc, nghệ thuật tới văn học, và ngay cả hy vọng và hạnh phúc.Những người tôi phỏng vấn gồm chủ tịch của Viện Khoa Học Quốc Gia Hoa Kỳ, cựu giám đốc CIA, cựu tư lệnh đồng minh tối cao NATO, cựu thủ tướng Ý và nhà thiên văn học hoàng gia Anh. Tôi đã “Zoom” – chữ này đã trở nên một động từ chỉ sau một đêm – với Kishore Mahbubani tại Singapore, Yolanda Kakabadse tại Quito, Judith Butler tại Berkeley, California, Alice Ruhweza tại Nairobi và Jeremy Corbyn tại London. Đối với tập mới nhất của chúng tôi, cựu Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-moon từ Hán Thành. Đối với tôi, đó thật sự là lý do của điều tôi học được. Trong số những thứ khác, nó giúp tôi hiểu tại sao
Nước Mỹ đang phải đối diện với những thử thách nghiêm trọng, kể từ khi người biểu tình ủng hộ Tổng thống Donald Trump tràn vào chiếm toà nhà quốc hội ở Thủ đô Washington chiều ngày 6/1 vừa qua. Trong bốn tiếng đồng hồ bị chiếm đóng, các dân cử có lúc đã phải nằm xuống ghế, chui xuống bàn để tránh bị thương do bạo loạn, trước khi được sơ tán đến một nơi an toàn. Vụ bạo loạn hôm 6/1 làm cho 5 người chết trong đó có một cảnh sát, mấy chục người bị thương gồm hơn chục nhân viên an ninh tại quốc hội. Lịch sử đã lập lại, sau hơn hai trăm năm. Năm 1814 quân lính Anh tấn công và đốt phá nhiều nơi kể cả toà nhà quốc hội đang được xây dựng. Đó là lúc có cuộc chiến tranh mang tên “1812 War”.
Mọi người ai cũng hi vọng qua năm mới 2021 Huê kỳ thoát ra khỏi một năm đen tối : có hơn 300 000 người chết vì corona vũ hán, kinh tế khủng hoảng do đại dịch nghiêm trọng không thua hồi năm 1929 tác hại, dân da đen bị kích động vấn đề chủng tộc, cận ngày bầu cử, nổi loạn ở nhiều Tiểu bang, biến Huê kỳ trở thành một nước khủng hoảng và chia rẽ.
Hãy hỏi những người đã mang Cờ Vàng-3 sọc đỏ đi tham gia biểu tình bạo động có biết nhiều người Mỹ và báo chí Mỹ đã cáo buộc những người tấn công vào điện Capitol là “quân khủng bố nội địa” (Domestic Terrorists), hay những kẻ phá hoại (Rioters)? Vì vậy thật khó biết, khi hình ảnh một người leo lên sân thượng của Capitol phất cờ Việt Nam Cộng hòa chiều tối ngày 6/01/2021 được truyền đi khắp Thế giới, trong khi những người biểu tình khác đập phá bên trong, có khiến ai chua xót và đau lòng vì là cờ đã bị xúc phạm ?
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
Người Việt Phone
Giá dầu thế giới tăng cùng với thị trường chứng khoán Mỹ trong phiên giao dịch hôm thứ Ba (19/01/2021), một ngày trước lễ nhậm chức của Tổng thống đắc cử Joe Biden,
Tổng thống Mỹ Donald Trump kêu gọi người dân "vượt lên trên thù hận đảng phái", ca ngợi thành tựu dưới thời ông, chúc chính quyền mới may mắn trong thông điệp tạm biệt
Hôm thứ Hai (18/01/2021), một ủy ban độc lập về chuẩn bị và ứng phó đại dịch, do cựu thủ tướng New Zealand Helen Clark và cựu tổng thống Liberia Ellen Johnson Sirleaf dẫn đầu, đã công bố đánh giá về sự khởi đầu khủng hoảng ở Trung Quốc
Hôm thứ Hai (18/01/2021), ông Trump đã duyệt gỡ bỏ lệnh cấm đi lại từ Anh, Châu Âu và Brazil vào Mỹ, quyết định dự kiến có hiệu lực từ ngày 26/01/2021.
Các đồng minh và cộng sự thân thiết của Tổng thống Mỹ Donald Trump bị cáo buộc đã thu hàng chục nghìn USD từ những người xin ông ân xá.