Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Chiến Lược Của VN Để Phòng Thủ Duyên Hải Và Biển Đông - Nguyễn Mạnh Trí

30/07/200800:00:00(Xem: 13037)
(Lời giới thiệu: Hải Quân Trung Tá Nguyễn Mạnh Trí là sĩ quan Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa khóa 10, tốt nghiệp trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang năm 1962. Ông là cháu gọi cố Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam bằng cậu ruột .

Ông từng làm Phân Đội Trưởng phân đội khinh tốc đỉnh PTF hoạt động tại duyên hải miền Bắc trong cuộc chiến Việt Nam (1965-1970). Chức vụ cuối cùng khi miền Nam Việt Nam sụp đổ là Chỉ Huy Trưởng Hải Đội I Duyên Phòng tại Đà Nẳng .

Di tản sang Hoa Kỳ 1975, trở thành kỹ sư kiểm phẩm sau 5 năm vừa đi làm vừa đi học. Trong hai năm 1996 -1997 ông trở về Việt Nam làm việc cho một dự án tài trợ  ngắn hạn của Hoa Kỳ. Từ năm 1997 trở về Nam California ông làm Giám Đốc Kiểm Phẩm cho một công ty nhỏ. Ông nghỉ hưu năm 2005.

Cuộc xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa của hải quân Trung quốc năm 1974 trong đó nhiều chiến hữu bạn ông đã hy sinh là nguyên nhân thúc đẩy ông từ khi rời nước quan tâm tìm hiểu về chiến lược của Việt Nam để sống còn trước âm mưu bành trướng của Trung Quốc.

Bài “Chiến lược của Việt Nam trong việc phòng thủ duyên hải và biển Đông” sau đây là một phần trong cái nhìn chiến lược toàn vùng ông nghĩ những người lãnh đạo Việt Nam cần quan tâm để bảo vệ đất nước .

Trong bối cảnh Trung quốc đang áp lực các hãng năng lượng trên thế giới (mới nhất là áp lực hãng ExxonMobil của Hoa Kỳ) không được giao kèo khai thác năng lượng trong biển Đông của Việt Nam với dụng tâm độc chiếm trữ lượng dầu khí tại đó, quan điểm phòng vệ của ông Nguyễn Mạnh Trí là điều những điều Hoa Thịnh Đốn và Hà nội cần quan tâm.

Trần Bình Nam

CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM TRONG VIỆC PHÒNG THỦ DUYÊN HẢI VÀ BIỂN ĐÔNG

Nguyễn Mạnh Trí

Tu chỉnh: 28/7/2008

Bài tóm tắc này dựa theo sự hiểu biết cá nhân và những điều ghi nhận được khi tôi làm việc ở Hà Nội trong hai năm 1996-1997. Những điều này được cũng cố bằng những sự kiện tuần tự xảy ra trong những năm kế tiếp cũng như những bài viết gần đây của các học giả Hoa Kỳ và Quốc Tế. Chúng ta không ở trong vị thế để biết được chi tiết những thỏa thuận chiến lược giữa Việt Nam và Hoa Kỳ nhưng những gì đã và đang xảy ra cho thấy nổ lực của Việt Nam trong cố  gắng bảo vệ quyền lợi chiến lược và sự sống còn của mình.

I. NHẬN ĐỊNH

• Hoa kỳ và các quốc gia trong vùng không thể ngăn cản Trung Quốc phát triển lực lượng quân sự của họ nhất là về Hải Quân. Ngược lại, Trung Quốc cũng không thể nào ngăn cản các nước này có biện pháp đối trọng. Trung Quốc đang dùng rất nhiều tài lực của mình lao vào một cuộc chạy đua vũ trang thay vì dùng số tiền này để phát triển kinh tế.

• Việt Nam đủ sức đứng vững mà không cần quan hệ kinh tế với Trung Quốc.

• Hoa Kỳ và các quốc gia liên hệ, vì quyền lợi chiến lược, nên giúp Việt Nam phát triển kinh tế, tăng cường quốc phòng cũng như ngoại giao.

• Nga Sô không phải là đồng minh của Trung Quốc dù rằng Trung Quốc mua rất nhiều vũ khí của Nga. Người Nga cũng hiểu rằng trong vòng 10, 20 năm nữa, khả năng kỹ thuật của Trung Quốc sẽ bắt kịp Nga Sô.

• Việt Nam không nên tạo cơ hội để Trung Quốc lấn chiếm thêm các đảo ở Trường Sa.

• Các quốc gia trong vùng, kể cả Trung Quốc, không có lợi gì cả khi biến việc tranh chấp biển Đông thành một cuộc chiến tranh toàn diện.

II. CHIẾN LƯỢC CỦA TRUNG QUỐC

• Phát triển nhanh Hạm Đội Nam Hải, nhất là lực lượng tàu ngầm để có thể đối đầu với Hải Quân Hoa Kỳ và các quốc gia trong vùng.

• Dùng áp lực kinh tế để ngăn cản không cho Hoa Kỳ, Anh Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản hợp tác với Việt Nam trong việc khai thác dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam.

• Xé lẻ, hăm dọa các quốc gia ASEAN để lấn chiếm khu vực Trường Sa.

III. CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

• CHÍNH TRỊ & NGOẠI GIAO

a) Cố gắng đạt được sự thỏa thuận với các quốc gia ASEAN về việc khai thác tài nguyên trong vùng Trường Sa theo một tỷ lệ hợp lý. Cố gắng này có thể áp dụng với cả Trung Quốc dù rằng Trung Quốc đang áp dụng chính sách đe dọa, chia cắt từng nước trong vùng để làm chậm trễ quá trình khai thác tài nguyên trong vùng.

b) Thỏa thuận hợp tác với Hoa Kỳ, Anh Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ để khai thác tài nguyên trong vùng thềm lục địa Việt Nam.

c) Đưa vấn đề ra tòa án Quốc Tế như là một giải pháp cuối cùng dù rằng trong nhiều khía cạnh Việt Nam không muốn làm như vậy.

• QUÂN SỰ

Không nên so  sánh tương quan lực lượng giữa Trung Quốc và Việt Nam nhất là Hải Quân vì Trung Quốc phát triển Hải Quân của họ không những để đối đầu với Hoa Kỳ mà còn đến các nước có quyền lợi trong vùng Nhật Bản, Ấn Độ, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan, Đại Hàn, Đài Loan. Việt Nam dù nhỏ nhưng là một mắc xích quan trọng trong nỗ lực ngăn chận Hải Quân Trung Quốc mở rộng khu vực hoạt động của họ. Việc phối hợp và nhận sự giúp đở của Hoa Kỳ và các quốc gia đồng minh là điều cần thiết vì Việt Nam là nước hứng chịu áp lực quân sự đầu tiên từ Trung Quốc.

a) Phòng thủ cận duyên:

- Phát triển hạm đội tàu đánh cá vũ trang. Các tàu này sẽ là đội quân tiên phong trong nhiệm vụ bảo vệ lãnh hải dù rằng phải hy sinh khi đối đầu với hải quân Trung Cộng.

- Phát triển hệ thống phòng thủ duyên hải với các hỏa tiễn địa đối hải tầm trung (200 km). Các hỏa tiễn này cũng có thể được trang bị trên các đảo do Việt Nam kiểm soát trong vùng Trường Sa.

- Đóng các chiến hạm hạng trung từ 700 - 2,000 tấn dựa theo thiết kế của Nga trong việc đóng các chiến hạm thế hệ mới loại Molniya, Petya, Gepard.

b) Hệ thống phát hiện và chống tàu ngầm:

- Nhờ sự giúp đỡ của Hoa Kỳ và Nhật Bản để thiết lập hệ thống các phao định vị để phát hiện các tàu ngầm Trung Quốc dọc theo bờ biển Việt Nam cũng như trong vùng biển Đông.

- Phát triển các phương tiện tấn công các tàu ngầm (chiến hạm săn tàu ngầm, phi cơ tầm xa, trực thăng).

c) Phòng thủ viễn duyên:

- Thương thuyết với Phi Luật Tân để có những cuộc tuần tiễu hỗn hợp cũng như cho phép Hải Quân Việt Nam được dùng các căn cứ của Phi Luật Tân để sửa chữa và nghỉ ngơi.

- Thương thuyết với Đại Hàn để mua các khu trục hạm trang bị hệ thống Aegis.

- Trong tương lai, viễn tượng 1 hay 2 Hải Đoàn Đặc Nhiệm Hàng Không Mẫu Hạm với các chiến hạm của Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan tuần tiễu biển Đông chung với Việt Nam và các quốc gia ASEAN là  điều có thể xảy ra.

d) Phòng thủ chiến lược:

- Hoa Kỳ giúp cho Việt Nam có được một hệ thống phòng thủ như Hoa Kỳ đã và đang thiết lập tại Tây Âu và Đông Âu cũng như Nhật Bản (bài viết của giáo sư Arthur Waldron có đề cập chi tiết hơn về vấn đề này).

- Cam Ranh sẽ biến thành một quân cảng và trung tâm sửa chữa tàu bè lớn nhất vùng Đông Nam Á. Các chiến hạm Đồng Minh có thể vào đây để nghỉ ngơi và sửa chữa.

Tài liệu tham khảo (2008):

• Bài viết của học giả Albert Rothacher, hiện làm ở Phái Bộ Ủy Hội Châu Âu tại Vienna.

• Bài viết của giáo sư Ang Cheng Guan, Viện Giáo Dục Quốc Gia Singapore.

• Bài viết của Tiến Sỉ Arthur Waldron, giáo sư Quan Hệ Quốc Tế của Đại Học Pennsylvania.

• Bài viết của Tiến Sỉ Balazs Szalontai, nhà nghiên cứu châu Á đang sống tại Hungary.

• Bài viết của giáo sư Carl Thayer, Học Viện Quốc Phòng Úc.

• Bài viết của Tiến Sỉ Edmund Malesky, đặc trách nghiên cứu về Việt Nam trường đại học Havard.

• Bài viết của giáo sư Frederick Brown, viện Chính Sách Ngoại Giao, trường SAIS thuộc đại học John Hopkins.

• Bài viết của Tiến Sỉ  Peter Navarro, gia"o sư ta"i Đa"i ho"c California-Irvine.

• Bài viết của giáo sư Ramses Amer, hiện dạy tại Khoa Chính Trị Học tại  trường đại học Umea của Thụy Điển.

• Bài viết của Tiến Sỉ Stein Tonnesson, Giám Đốc Viện Nghiên Cứu Hoà Bình Quốc Tế ở Oslo, Na Uy.

• Bài viết của bà Susan Shirk, cựu Phó Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách Đông Á và Thái Bình Dương dưới thời Tổng Thống Clinton.

• Bài viết của Tiến Sĩ Toshi Yoshihara, dạy khoa Chiến Lược-Chính Sách trường Naval War College.

(Ghi chú: Nhan đề do VB đặt lại cho vừa cột báo.)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Cụ Nguyễn đã rời Rạch Giá nhưng đêm qua tôi vẫn nằm mơ thấy ánh mắt thê thiết của ông, đứng nhìn từ nóc chợ Nhà Lồng, dù theo Lý Minh Hào – tác giả của công trình biên khảo thượng dẫn – nơi đặt pho tượng Nguyễn Trung Trực đã được thay thế bằng tấm hình bác Hồ (nhìn thẳng) tự lâu rồi.
Nhiều người Hoa cho biết trước năm 2008 một số đông cán bộ, đảng viên và dân chúng Trung Hoa có cùng chung nhận xét là tăng trưởng kinh tế sẽ dẫn đến dân chủ hóa – điểm khác biệt nơi người dân muốn thấy tiến trình này xảy đến nhanh còn đảng Cộng Sản cố tình trì hoãn.
Khi Washington bắt đầu hình thành chủ trương xoay trục sang châu Á, việc phô diễn cá nhân xuất hiện và bắt đầu đàm phán sẽ là những yếu tố quyết định cho các thỏa thuận. Tình cho đến nay, ngoại trừ Ấn Độ, mối dây liên kết chung của Hoa Kỳ về Ấn Độ-Thái Bình Dương và chiến lược rộng lớn đối với Trung Quốc đã tập hợp được các đồng minh lâu đời của Hoa Kỳ. Các cuộc họp thượng đỉnh đầu tiên của Tổng thống Moon Jae-in với cựu Thủ tướng Yoshihide Suga đang bắt đầu có kết quả. Hàn Quốc đang bắt đầu tăng cường việc can dự vào khu vực. Nhật Bản ngày càng nghiêm túc hơn trong việc bảo vệ Đài Loan. Dự đoán của Trung Quốc rằng thỏa thuận trong Bộ tứ (Quad) giữa Úc, Ấn Độ, Nhật Bản và Hoa Kỳ sẽ "tan biến như bọt biển" chỉ là ước vọng. Ngay cả hiện nay, khi khía cạnh quân sự của Bộ tứ (Quad) bị hạn chế, nó sẽ làm phức tạp đáng kể cho kế hoạch phòng thủ của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Lời tái cam kết quyên tặng một tỷ liều vắc xin Covid-19 cho Đông Nam Á của Bộ tứ (Quad)
Có lẽ, chả ai mong đợi hay hy vọng là “chính quyền” này “được lâu dài” cả – kể luôn những ông lãnh đạo: Trọng, Chính, Huệ, Phúc … Được lúc nào hay lúc đó thôi. Tuy thế, bao giờ mà cái nhà nước (thổ tả) hiện hành vẫn còn tồn tại ở Việt Nam thì nó vẫn còn là lực cản đáng kể cho mọi diễn biến tâm lý hướng thượng ở đất nước này.
Sự trổi dậy của Trung Quốc đang buộc Mỹ phải tập trung vào Đông Nam Á, khiến Mỹ không còn dồi dào nguồn lực để đầu tư vào nền an ninh Âu châu. Với Mỹ, kịch bản tồi tệ nhất là một cuộc chiến tranh với hai mặt trận cùng lúc với Trung Quốc và Nga, trong khi đó, nền an ninh của Âu châu thì cũng sẽ bị ảnh hưởng nặng nề khi hai cường quốc này xích lại với nhau.
Điều làm tôi khâm phục và ngưỡng mộ anh hơn hết là ý chí và niềm đam mê văn chương của anh rất mạnh mẽ. Stroke thì mặc stroke, anh ráng tự tập luyện bàn tay và trí óc bằng cách gõ những bài văn thơ trên phím chữ của máy vi tính thay vì những cách tập therapy thông thường mà các bác sĩ và y tá ở bệnh viện yêu cầu.
Nguyễn Công Trứ không chỉ là một con người có tài văn và võ mà ông còn là một người có tài kinh bang tế thế (trị nước cứu đời). Được vua cử làm Dinh điền sứ (1828), ông đã có sáng kiến chiêu mộ dân nghèo, di dân lập ấp, khai khẩn đất hoang, đắp đê lấn biển, lập lên hai huyện mới Tiền Hải (thuộc tỉnh Thái Bình) và Kim Sơn (thuộc tỉnh Ninh Bình).
Một số chuyên gia lập luận rằng chúng ta đang "hiện diện trong việc thành lập" một kiến trúc an ninh mới cho Ấn Độ -Thái Bình Dương, bằng cách dựa vào tên cuốn hồi ký của Dean Acheson, một trong những kiến trúc sư chiến lược của Hoa Kỳ nhằm ngăn chặn vào những năm của thập niên 1940. Có lẽ chúng ta cũng như cả khối AUKUS và hội nghị thượng đỉnh của bộ Tứ (Quad) cũng đều không giúp chúng ta tiến rất xa trên con đường đó. Trong khi cả hai đều báo hiệu sự phản kháng ngày càng tăng đối với lập trường ngày càng quyết đoán của Bắc Kinh, nhưng vẫn còn những khoảng trống đáng kể trong nỗ lực nhằm khai thông các tham vọng của Trung Quốc.
Thông tin chống đảng trên Không gian mạng (KGM) đang làm điên đầu Lãnh đạo Việt Nam. Tuy điều này không mới, nhưng thất bại chống “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” trong Quân đội, Công an và trong đảng của Lực lượng bảo vệ đảng mới là điều đáng bàn.
Có anh bạn đồng hương và đồng nghiệp trẻ, sau khi tình cờ biết rằng tôi là dân thuộc bộ lạc Tà Ru (tù ra) bèn nhỏ nhẹ khen: Không thấy ai đi “cải tạo” về mà vẫn lành mạnh, bình thường như chú! Chưa chắc đó đã là lời chân thật, và dù thật thì e cũng chỉ là câu khen trật (lất) thôi! Nói tình ngay, tôi không được “bình thường” hay “lành mạnh” gì lắm. Tôi ít khi đề cập đến những năm tháng lao tù của mình, giản dị chỉ vì nó rất ngắn ngủi và vô cùng nhạt nhẽo.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.