Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Người Kurd Với Cuộc Chiến Giành Dầu Tại Biển Caspian

03/11/200700:00:00(Xem: 6796)

Giữa Hoa Kỳ Và Nga- Ba Tư  

Theo nhận xét từ Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) và Institute of Directors, một tổ chức qui tụ các công ty thương mại của người Anh thì tình hình kinh tế thế giới có liên quan mật thiết tới các mõ dầu hỏa tại Trung Đông, Trung Á và Biển Caspian. Hai cuộc chiến lật đổ Sadam Hussein tại Iraq vừa qua đã làm đảo lộn giá dầu trên thị trường, kéo theo sự thiệt hại hằng trăm tỷ mỹ kim của các nước tiêu thụ dầu vì sự tăng giá phi mã của vàng đen do tổ chức OPEC mà đứng đầu là Arab Saudi tự do đầu cơ thao túng.

Tuy ngày nay dầu hỏa không còn là thứ năng lương độc tôn mà con người phải lệ thuộc như các thập niên 70 của thế kỷ trước, vì nhân loại đã tìm được nhiều nguồn năng lượng khác để thay thế dầu như Điện Nguyên Tử , Mặt Trời, Thác Nước, Sức Gió cùng với nhiều loại Thục Vật có sẳn trong thiên nhiên. Nhờ những nguồn năng lượng này mà Âu Châu, Mỹ , Nhật đã giảm bớt nhu cầu tiêu thụ dầu hỏa rất nhiều so với các thập niên trước. Ngược lại các nước mới phát triên như Trung Cộng, Ân Độ, Nam Hàn.. lại tăng nhu cầu sử dụng dầu hoả rất cao, tạo nên sự bất ổn về giá cả của vàng đen trong lúc cuộc chiến tại Iraq, A Phú Hản và Do Thái-Palestine vẫn còn tiếp diễn, cộng thêm một cuộc chiến khác sắp bùng nổ giữa Hoa Kỳ và Iran hứa hẹn sẽ lôi kéo nhiều quốc gia liên hệ vào một cuộc thế chiến vì Năng Lượng.

Tóm lại dầu hỏa trước sau vẫn còn giữ vai trò chính trong sự tăng trưởng kinh tế của thế giới, đặc biệt là khu vực Bắc Á nhưng trên hết vẫn là sự tồn vong của nhân loại.

Trước khi Hoa Kỳ lật đổ chế độ Sadam Hussein, thì nguồn năng lương khổng lồ của nước này hầu như nằm trong tay các công ty dầu của Hòa Lan-Anh (Royal Dutch/Shell), Ý (Eni), Pháp (Total) và Nga (Lukoil) với tổng trị giá hơn 38 tỷ đô la. Sau khi liên quân Anh-Mỹ chiếm Iraq thì hai nước này làm chủ các mõ dầu thô trên, đang khai thác là 112 tỷ thùng , đứng thứ nhì sau Arab Saudi (262 tỷ thùng) nhiều hơn nước Mỹ 5 lần. Trong khi đó trữ lượng dầu thô còn trong lòng đất Iraq chưa khai thác có thể lên tới 220 tỷ thùng. Như vậy chỉ riêng Iraq cũng đã đủ cung ứng nhu cầu dầu hỏa và hơi đốt cho Hoa Kỳ suốt 100 năm. Đó là lý do buộc Mỹ sẽ chẳng bao giờ tháo chạy khỏi Iraq như đã bỏ VNCH vào ngày 30-4-1975 dù cho đảng Cộng Hòa hay Dân Chủ lãnh đạo, thì cũng hành động như nhau vì quyền lợi sống còn của đất nước mình.

Một điểm nóng khác cũng đang sôi sục lửa chiến tranh vì dầu và hơi đốt, đó là biển Caspian nằm về phía nam rặng Caucase, biên giới thiên nhiên giữa hai châu Âu-Á sâu trong nội địa lãnh thổ Liên Xô cũ trước năm 1990. Biển kín này có diện tích bằng nước Nhật, với trử lượng dầu và hơi đốt chiếm 10% sản lượng thế giới, nằm giữa 5 nước Nga, Azerbaijan, Kazakhstan, Turkmenistan và Ba Tư. Dầu đang được khai thác nhiều như nước nhưng điều quan trọng nhất đối với các công ty ngoại quốc đang làm ăn tại đây, là phải vận chuyển cách nào để đưa được số vàng đen trị giá tới 4000 tỷ đô la ra khỏi khu vực nguy hiểm đầy bất trắc vì sự phá hoại các đường ống dẫn dầu và hơi đốt của lực lượng Hồi Giáo Chechnya ly khai ở phía Bắc và Nhóm du kích phát xít thân CS và Iran của người Kurd thuộc đảng PKK có căn cứ tại Iraq, Iran, Syria và Thổ Nhĩ Kỳ. Tình hình càng rối ren hơn khi ba nước quanh Biển Caspian là Azerbaijan, Kazakhstan và Turkmenistan quyết tâm tẩy chay Nga-Ba Tư nhưng lại mở rộng cửa để đón các tập đoàn xăng dầu của Nhật và Tây Phương vào làm ăn khai thác.

Hoa Kỳ tuy tới vùng này chậm hơn các nước khác nhưng đã nhanh chóng chiếm được thế thượng phong vì chính phủ đã thành lập ngay cả một lực lương đặc nhiệm để phụ trách vùng chiến lược này. Việc tranh chấp dầu tại đây diễn ra không khác gì sự xung đột giữa hai đế quốc Liên Xô-Anh trong thế kỷ XIX. Lần này là cuộc chiến giữa Hoa Kỳ-Âu Châu và Nga-Ba Tư-Trung Cộng. Tóm lại người Mỹ nhất quyết ngăn cản bằng mọi cách, không cho các ống dẫn dầu và hơi đốt đi ngang qua Ba Tư ở phía nam cũng như tránh không vào lãnh thổ Nga trước khi ống dầu tới Hắc Hải. Còn ba nước thuộc Liên Xô cũ cũng không muốn lệ thuộc Nga nên đã nhanh chóng hợp tác với Mỹ, Nhật và khối Nato để tìm một chỗ dựa chắc chắn, chống lại sự đe dọa vũ lực của Nga và Iran.

Tóm lại các cuộc xung đột hay chiến tranh đã xảy ra từ trước tới nay tại Trung Đông, Trung Á, khu vực Caucase va Biển Caspian hay Ba Tư trong tương lai, dù có mang một màu sắc nào chăng nữa như tôn giáo, chính trị, sắc tộc và giờ này là bom nguyên tử thì rốt cục cũng chỉ là sự giành giựt dầu hoả. Nên không ai ngạc nhiên khi thấy Tổng Thống Nga là Putin vì bị gạt ra khỏi mỏ vàng đen béo bở nay, nên đã hùng hổ cảnh cáo Hoa Kỳ là đừng dùng lảnh thổ của các nước Liên Xô cũ để đánh Iran. Còn hai vị nguyên thủ Hoa Kỳ là G.W.Bush và Cheney thì thẳng thừng trả đủa sẽ không bao giờ cho Iran thủ đắc bom nguyên tử.

Trong lúc thùng xăng Iran đang mở nắp chờ bốc cháy thì Thổ Nhĩ Kỳ đã khơi dậy cuộc chiến trong vùng với loạn quân PKK Kurd tại biên giới Thổ và Iraq. Bàn cờ thế chiến đã được Mỹ bày sẳn với thế trận hỏa mù, làm cho người ngoài không biết đâu mà tiên đoán được chân giả, nếu không có những lời tuyên bố của Hoa Kỳ và Chính Phủ Iraq không can thiệp dù quân đội Thổ có vượt biên giới vào lảnh thổ Iraq để tiêu diệt lực lượng PKK, một tổ chức võ trang, cũng đã được Tổng Thống W.Bush xếp vào danh sách khủng bố trên thế giới.

Nhưng chìa khóa để mở kho vàng đen vùng biển Caspian không phải của Nga hay Ba Tư mà chính là Baku thủ đô của Azerbaijan, nơi đặt tổng hành dinh của tất cả các đại công ty xăng dầu lớn nhất thế giới, đồng thời cũng là địa điểm lọc dầu trước khi chuyển vận tới Hắc Hải và Địa Trung Hải để xuống các tàu dầu. Nhưng nước này có một điểm yếu vì 90% dân số theo Hồi giáo trong đó có 70% theo hệ phái Shi giống Iran. Vì Azerbaijan đã ngả theo Mỹ và Khối Nato hoàn toàn, lại tẩy chay Iran và Nga nên năm 2001 Iran đã ngang nhiên dùng vủ lực uy hiếp các tàu thăm dò dầu của Azerbaijan ở phía nam lãnh hải của nước này. Nhiều tên khủng bố được Iran bảo trợ làm loạn, trong đó có 16 tên đã bị bắt ra tòa kết tội.

Iran qua sự xúi giục của Nga sau khi bị Mỹ ra lệnh cấm vận kinh tế cùng lúc với những cảnh cáo quan trọng kể luôn việc Do Thái hăm tấn công và quân Thổ ồ ạt mở nhiều mặt trận tiêu diệt loạn quân khủng bố Kurd thân Ba Tư, đang mưu toan phá hoại các đường ống dẫn dầu từ biển Caspian về Thổ để ra biển. Đó là lý do Ba Tư công khai xúi phe nhóm khủng bố các cơ sở ngoại giao của Hoa Kỳ và Tây Phương tại Thủ đô Baku nhưng đã bị phá vở ngày 30-10-2007 như thông tấn xã AP đã loan báo.

Chuyện đổ bể hết đường chối cải nên ngay trong ngày, ngoại trưởng Nga Serguel Lavrov đã tức tốc bay tới Teheran bày kế mới với tổng thống Iran Mahmoud Ahmadinejad để chuẩn bị đón nhận một cuộc chiến chắn chắn phải xảy ra cho dù có mang một màu sắc nào , thì cũng bốc hơi dầu nếu các phe phái không tự chế được, có thể lần này sẽ tiêu hũy hết tài nguyên của vùng Trung Á, Biển Caspian và Trung Đông cũng không chừng.

1- NGƯỜI KURD VÀ VIỆC VẬN CHUYỂN DẦU TRONG KHU VỰC CASPIAN:

Trên bản đồ thế giới sẽ chẳng bao giờ có một quốc gia nào mang tên Kurdistan nhưng lại có một dân tộc Kurd đông hơn 26 triệu người (1990), sống rãi rác trên đầu nguồn hai con sông lớn Tigris và Euphrater chảy vào lãnh thổ Iraq trước khi ra Ấn Độ Dương. Căn cứ vào lịch sử Cổ Hy Lạp cho biết vào mùa đông năm 401 trước Tây Lịch, tàn quân Hy Lạp sau cuộc chiến bị thất bại tại Ba Tư , trên đường về nước đã bị Bộ tộc Carduchi phục kích đánh tan tại rặng Taurus thuộc vùng Tây-Nam Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay. Ngay từ thế kỷ thứ VII sau Tây Lịch, người Ả Rập đã chiếm gần hết lãnh thổ của Kurdistan sau đó mới rơi vào đế quốc Ottoman của Thổ.

Bộ tộc Carduchi chính là tổ tiên người Kurd bây giờ, sau mấy ngàn năm thăng trầm của lịch sử bị đồng hóa và là con cháu của hầu hết các sắc dân sống trong toàn khu vực quanh biển Caspian chạy tới Hắc Hải như người Guti, Kurti, Mede, Mard, Gordyene, Adianbene.. Người Kurd thuộc sắc dân Châu Âu nhưng lai da đỏ, phát âm thổ ngữ Ba Tư trộn với Ấn Độ, hiện là dân bán du mục sống trong một lãnh thổ được các nhà địa lý gọi là Kurdistan, gồm phần đất phía Đông-Nam Thổ (13,7 triệu người), Bắc Iraq (4,4 triệu), Iran (6,6 triệu) , Syria (1,2 triệu) và một số khác ở Armenia và Azerbaijan. Ngoài ra còn khoảng 1 triệu người sống tại Âu Châu mà phân nữa định cư tại Đức quốc. Đa số người Kurd theo Hồi Giáo hệ phái Sunni, một ít theo phái Shite và Hồi giáo thuần tuý. Giống như chuyện lập quốc của người Do Thái và Palestine đầy máu lệ, tiếp diễn liên tục từ mấy ngàn năm qua cho tới nay vẫn chưa kết thúc trong vùng Tiểu Á Tế Á. Chuyện lập quốc của người Kurd cũng đã làm nhân loại điên đầu vì không thể nào giải quyết được dù các thế hệ Kurd liên tục nổi dậy đòi độc lập nhất là tại Iraq và Thổ Nhĩ Kỳ.

Thật ra cũng đã bao lần dân tộc Kurd suýt đạt được nguyện vọng mà tổ tiên họ đã cưu mang từ bao chục thế kỷ trước. Đó là năm 1920 sau khi Thế chiến I chấm dứt, Thổ Nhĩ Kỳ thua trận kéo theo sự sụp đổ của đế quốc Ottoman. Dịp này Thổ đã ký Hiệp ước Sèvres, chịu cắt một phần nhỏ lảnh thổ ở mạn Đông Nam cho người Kurd lập quốc. Tuy nhiên dự định chưa thi hành thì năm 1921 Mustafa Kemal Ataturk đã canh tân đất nước, đánh bại quân Hy Lạp và lập nền Cộng Hòa đầu tiên trên đất Thổ. Từ ưu thế đó, Mustafa xé bỏ Hiệp ước Sèvres năm 1920 không cho Kurd lập quốc.

Đại chiến thứ II kết thúc, Liên Xô chiếm miền Bắc Iran nên đã tách tỉnh Mahabad cho người Kurd sống tại đây để thành lập nước Cộng Hòa nhưng bị Anh Mỹ chống đối. Cuối cùng Liên Xô phải giao vụ này lại cho vua Iran lúc đó là Rasa Shah quyết định và lần nữa mộng lập quốc của người Kurd đã tan tành. Dịp này một thủ lãnh của Kurd là Mustafa Barzani trốn khỏi Ba Tư và sống lưu vong tại nhiều nước. Năm 1970 qua sự ủng hộ của Mỹ, Do Thái và Iran nên Barzani lại quay về quấy phá miền bắc Iraq nhưng bị Baghdad dập nát hoàn toàn vào năm 1979.

Năm 1980 cuộc chiến Iraq-Iran bùng nổ dữ dội, người Kurd lợi dụng tình thế lại nổi dậy chiếm thành phố Sulaymaniyan ở miền bắc để lập nước, đặt dưới quyền lãnh đạo của đảng KDP (Dân chủ Kurd thủ lảnh Massoud Barzani) và Liên đoàn Ái quốc Kurd (PUK) do Jalai Talebani cầm đầu, được Giáo chủ Khomeini của Iran ủng hộ tiếp tế với mưu toan quậy phá nội bộ của Sadam Hussein. Do trên suốt thời gian 1980-1988, Chính phủ Iraq liên tiếp tấn công người Kurd tại miền bắc vì họ theo phe Iran. Để diệt hậu hoạn Sadam Hussein năm 1988 đã sử dụng vũ khí hóa học tàn sát hàng ngàn người Kurd. Cuộc nội chiến kéo dài đã khiến cho hằng triệu người Kurd phải bỏ nhà cửa chạy qua lánh nạn tại các nước láng giềng.

Sau cuộc chiến Iraq lần thứ I, cuối năm 1991, Liên Hiệp Quốc đã ban hành Nghị Quyết bắt Sadam Hussein phải đối xử nhân đạo với cộng Đồng Kurd ở miền Bắc Iraq, lại còn cho đoàn quân mũ xanh gồm Hoa Kỳ, Pháp, Anh và Thổ đến lập vòng đai và vùng cấm bay để bảo vệ quyền tự trị của người Kurd. Nhưng niềm vui chưa được bao lâu thì xung đột lại xảy ra ngay trong nội bộ giữa hai đảng PUK và KDP kéo dài tới giữa năm 1999 thì hy vọng lập quốc gia Kurdistan cũng tan tành vì sự phá hoại của bốn nước Iraq, Iran, Syria và Thổ.

Sau khi Tổng Thống W.Bush lật đổ được chế độ Sadam Hussein, đã cho người Kurd ở phương bắc được tự trị. Chính họ cũng là tiền đồn giúp Mỹ giữ vửng biên thùy Iraq dể rảnh tay tiêu diệt loạn quân do Iran và Syria nuôi dưỡng và yểm trợ đang phá hại nền hòa bình của nước này vừa mới thu hồi được. Đòn ly gián của Nga Ba Tư khi xúi tổ chức PKK khủng bố người Kurd gây hấn phá hoại các đường ống dẫn dầu tại vùng biển Caspian đã bị Hoa Kỳ, Chính Phủ Iraq khám phá ra từ lúc đầu nên đã tuyên bố không can thiệp với ngụ ý cho phép quân Thổ cứ vào tận hang ổ mà bắt trọn.

Như lửa đổ thêm dầu, một mặt Chính phủ Iraq ra lệnh xiết chặt biên giới để ngăn chận người Kurd ở miền bắc tiếp tế và chạy theo loạn quan PKK. Đồng lúc Ngoại trưởng nước này là H.Zabari cho biết sẽ mời các nước liên hệ về vấn đề người Kurd trong đó có Ba Tư , tới họp tại thành phố Istambul của Thổ vào ngày chủ nhật tới để bàn phương cách đối phó.. những bế tắc trong vùng biển Caspian nhằm chận đứng giá dâu thô hiện đã lên tới mức kỷ lục 94 đô la/1 thùng.

2- NGƯỜI KURD SỐNG TRÊN ĐẤT THỔ:

Thông tấn xã Anatolia của Thổ vừa loan báo tuần qua, một số chiến đấu cơ F-16 mang bom và trực thăng võ trang của quân đội Thổ Nhĩ Kỳ đã tấn công nhiều vị tr1 của loạn quân người Kurd thuộc nhóm khủng bố PKK thân Cộng Sản và Iran, sống dọc theo biên giới Thổ-Iraq. Tiếp theo Thổ đã điều động một số lớn đơn vị chiến đấu gồm bộ binh, thiết giáp và pháo binh tới miền Nam chuẩn bị vượt biên tấn công PKK sâu trong lãnh thổ bắc Iraq. Đồng thời nhiều phi đội chiến đấu cũng dời về căn cứ không quân Diyarbakir ở đông nam Thổ. Đồng lúc quốc hội Thổ đã biểu quyết cho phép quân đội Thổ tấn công loan quân PKK bất cứ nơi nào. Dó đó Tổng thống Thổ Abdulllah Gul và Thủ tướng Recep Tayyip Erdogan mới nói rằng Thổ sẽ vượt biên giới vào Iraq để tiêu diệt loạn quân Kurd.

Đây không phải là lần đầu và là lời nói suông của các nhà lãnh đạo Thổ qua câu chuyện dài đầy máu lệ giữa hai dân tộc Thổ và Kurd (hơn 12 triệu người) tuy cùng sống chung trong một lãnh thổ nhưng luôn luôn đối đầu và tìm đủ mọi cách để tiêu diệt lẫn nhau vì sự sinh tồn. Vào thế kỷ thứ VII Kurdistan bị Á Rập thôn tính nhưng sau đó lại lọt vào tay người Selfuks từ thế kỷ IX tới XIV và cuối cùng trở thành lãnh thổ của đế quốc Ottaman. Năm 1500 Ba Tư và Thổ chia hai lãnh thổ Kurdistan sau một thời gian chiến tranh đẳm máu trên vùng đất này. Năm 1923 sau khi Thế chiến 1 chấm dứt, bốn nước Mỹ, Liên Xô, Anh, Pháp lại ký thỏa ước Lausane thay thế và hủy bỏ hiệp ước Sévres (1920) vì sự khiếu nại của Thổ. Thỏa ước này chẳng những không thèm đề cập tới việc cho người Kurd lập quốc mà còn chia nước Kurdistan thành bốn mảnh nhập vào bốn nưốc Syria, Thổ, Iraq và Iran. Thổ là một trong bốn nước nhận được phần lảnh thổ rộng nhất (52%) và đông dân Kurd (12 triệu người).

Sự bất công trên đã khiến cho người Kurd luôn nổi dậy khi có dịp. Riêng tại Thổ chỉ trong thời gian ngắn từ 1925-1945 hai lần người Kurd nổi dậy chống lại sự tàn ác bất công của chính quyền Thổ. Cũng vì vậy nên Thổ đã tìm đủ mọi cách đồng hóa và hủy diệt nền văn hóa Kurd đã có từ lâu đơi khiến cho thù hận càng thêm chồng chất kéo dài liên tục từ thế hệ này sang đời khác, lúc nào người Kurd cũng đòi hỏi phải được tự trị và độc lập.

Năm 1974 một tổ chức võ trang của người Kurd tại Thổ ra đời. Đó là đảng công nhân dân tộc Kurd PKK (Kurdistan Workers Party). Đây là một tổ chức Cộng Sản trá hình thân Iran nên đã bị chính quyền Thổ và phe Tư Do xếp vào danh sách các băng nhóm khủng bố tại Trung Đông. Do đó năm 1979 đảng PKK bị chính phủ Thổ cấm hoạt động nên lãnh tụ Abdullah Ocalan trốn sang hoạt động tại Syria sau khi làm cuộc đảo chính bị thất bại. Từ đó lực lượng PKK của Ocalan được Syria bảo trợ và huấn luyện trong thung lũng Bekaa của Liban.

Chiến tranh bùng nổ giữa Thổ và PKK từ năm 1984 khi Ocalan xây dựng được một căn cứ trong tỉnh Siert về phía đông nam nước Thổ. Từ năm 1993 Semdin Sakik được PKK giao phụ trách quân sự, đã theo đuổi đường lối mát xít khủng bố của Syria-Iran, nên tấn công bừa bãi nhắm cả vào dân thương người Thổ. Nguy hiểm vào ngày 4-11-1993 Sakik đã ra lệnh cho PKK đặt bom khủng bố nhiều sứ quán của Thổ tại Pháp, Anh, Đức, Thụy Sĩ, Áo, Đan Mạch.. giết hại nhiều người. Hành động khủng bố dã man trên đã làm PKK không còn uy tín trên thế giới, nên Sakik bỏ trốn sang Iraq nhập vào đảng PDK do Massound Barsani cầm đầu. Tình trạng khủng bố vẫn tiếp diễn ác liệt nhất là năm 1994 gần như toàn bộ các khu du lịch của Thổ đều bị PKK đặt bom phá hoại.

Ngày 1-9-1998 Ocalan đơn phương ngưng chiến. Một đại hội quy tụ đại diện người Kurd sống tại 4 nước Syria, Thổ, Iraq và Iran, được tổ chức vào ngày 19 và 20-12-1998 tại thủ đô Brussels Bỉ) để thành lập một Mặt Trận kiểu PLO. Sau đó nười Kurd tuyên bố chấm dứt đòi hỏi thành lập quốc gia Kurdistan mà chỉ muốn được tự trị trong liên bang Thổ Nhĩ Kỳ.

Nhưng những lời hứa hẹn trên không làm Thổ tin tưởng, vì vậy vào tháng 10-1998 biết được Ocalan đang lẫn trốn tại Syria nên Thổ gửi tối hậu thư bắt nước này phải giao nạp nếu không sẽ có chiến tranh. Syria vì sợ Thổ nên đã chuyển Ocalan tới Mạc Tư Khoa bằng đường Hy Lạp nhưng Nga đã từ chối không cho đương sự tị nạn chính trị. Cuối cùng Ocalan phải tới Ý nhưng cũng không được nhận nên cuối cùng lại phải quay về ẩn náu tại Hy Lạp và được nước này giúp tới tị nạn tại thủ đô Nairobi của Kenya (Phi Châu). Nhưng ngay khi chiếc máy bay chở Ocalan đáp xuống phi trường vào lúc 11 giờ 33 ngày 2-2-1999 thì FBI đã khám phá được do sự sơ hở của Tòa đại sứ Hy Lạp tại đây.

Cũng vì vậy nên Thổ Nhĩ Kỳ đã nhận được tin tức trên vào ngày 4-2-1999 và đã cữ một toán biệt kích tinh nhuệ thuộc lực lượng Maroon Berets tới Kenya ngày 5-2 để bắt Ocalan về nước và đem giam cầm tại một hải đảo qua tội danh phản quốc. Việc bắt bớ này lại gây thêm thù hận giữa hai dân tộc Thổ-Kurd khắp nơi, tới nay vẫn chưa chấm dứt nhất là phía sau lưng của nhóm loạn quân khủng bố quốc tế PKK có sự hậu thuẩn, nuôi dưởng và thúc đẩy của Nga, Ba Tư và Syria mà mục đích chính là nhắm vào các mõ dầu hỏa và khí đốt do Hoa Kỳ và các nước Tây phương đang giành giựt với Nga-Tàu-Ba Tư tại khu vực Trung Á, Caucase và Biển Caspian.

Theo nhận xét của các nhà chính trị đương thời, vấn đề người Kurd lập quốc cũng không khác gì chuyện dài Palestine. Đó là trở ngại bởi sự tranh giành quyền lực của các phe nhóm mà không một thế lực ngoài nào có thể dàn xếp được. Ngoài ra còn có những thứ khác, mà chỉ có người Kurd mới biết là họ đang muốn gì"

3- PUTIN (NGA) VÀ BA TƯ MUỐN KHỐNG CHẾ TOÀN THỂ KHU VỰC BIỂN CASPIAN:

Sao không cứu được con tin, câu hỏi này đã được thế giới và người Nga đặt ra cho Tổng Thống Putin, sau khi chiếc tàu ngầm nguyên tử Kursk bị chìm dưới đáy biển Barents vào ngày 13-8-2000, làm thiệt mạng hoàn toàn thủy thủ đoàn 118 người. Câu hỏi trên lại được đặt ra lần nửa, sau khi vụ bắt con tin ngày 23-10-2002 tại Mạc Tư Khoa, làm thiệt mạng 117 người cùng nhiều kẻ khác bị trọng thương do hơi ngạt của cảnh sát Nga bắn vào. Hai sự kiện xãy ra ngay trên đất Nga, trên hết là một sĩ nhục cho chính phủ và uy tín của tổng thống Putin. Theo nhận định của một chuyên gia viện nghiên cứu Carnegie là ông Vilya Chetsova, thì đây cũng là hậu quả tất yếu của thiên đường xã nghĩa, làm chơi ăn thiệt, vô trách nhiệm và trên hết coi mạng dân rẽ hơn bèo.

Nhìn cục diện thế giới ngày nay, thấy Hoa Kỳ và Liên Bang Nga đối chọi nhau gần như xã láng trên mọi lĩnh vực, như công khai ký liên minh quân sự với Trung Cộng với mưu toan khống chế vùng biển Đông Á, bao vây Nhật và Nam Hàn. Nga còn công khai hết chống lưng Sadam Hussein của Iraq, nay tới Ba Tư, thách thức Liên Hiệp Quốc, Hoa kỳ và Liên Âu, về vụ làm bom nguyên tử.. Đây không phải là một đòn phép chính trị của hai quốc gia đàn anh trên thế giới,như đã từng xãy ra trước đây trong thời kỳ chiến tranh lạnh, mà là một sự thật xảy ra trước mắt khắp nơi giành giựt nhau để mà sinh tồn .

+ VLADIMIR PUTIN,từ Leningrad đến Kremli:

Ngày 25-7-1998 Tổng thống Nga Boris Eltsin bổ nhiệm Vladimir Putin,lúc đó đang làm phó chủ nhiệm thứ 1 tại phủ tổng thống, lên chức giám đốc cơ quan An ninh liên bang (FSB).. Điều này cũng hợp lý vì Putin vốn đã từng làm việc nhiều năm tại cơ quan phản gián KGB của Liên Xô , nên đã mau chóng được Elsin tín cẩn, bổ nhiệm thêm chức Thư ký Hội đồng An ninh vào tháng 3-1999, sau đó là Thủ Tướng Chính Phủ thay X.Stepasin, vị thủ tướng thứ 3 chỉ trong năm 1999 bị lột chức vì tranh chấp quyền lợi với gia đình tổng thống.

Theo tin từ Zengi và Kommersant daily tháng 8-1999, thì năm 1999 FBI đã khám phá Mafia Nga, chuyển hơn 10 tỷ đô la chỉ trong vòng 1 năm, vào Bank of New York. Sự việc trên khiến cho cả Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và TT.Bill Clinton phải đích thân chất vấn Eltsin , vì cho rằng số tiền mà nước Nga được IMF cho vay để phục hồi kinh tế, cũng nằm trong 10 tỷ tẩy rửa trên, thế nhưng ông ta chối và mọi sự lại đâu vào đó khi siêu cường Mỹ tạm xếp vấn đề.

 Trong bối cảnh trên, để tránh được hậu quả tàn khốc sau này, Putin lúc đó theo nhận xét của thế giới, đối với các nhà chính trị Nga đương thời như Trubais, Nemxov, Primacov và S.Kirienco.. thì quá yếu lại chưa nổi tiếng gì ngoài thủ đoạn của một nhân viên KGB, nhưng ngược lại ông ta rất trung thành với chủ,nên cuối cùng ngày 31-12-1999, B.Eltsin nhường chức tổng thống cho Putin, sau 8 năm đầy sóng gió.

Cũng ngày đó, Putin lãnh chiếc cặp điều khiển bom nguyên tử, âm thầm noi bước cố lãnh tụ Xô Viết cũng xuất thân từ lò KGB là Andropov, tàn nhẫn, lầm lỳ và quyết đoán việc nước. Do trên, không ai lạ lùng gì khi những năm qua, Putin đã cứng rắn trong sự trấn áp các nước cộng hoà phụ thuộc, gom lại quyền hành trong tay các sứ quân về chính quyền trung ương, đi dây giữa các thế lực quốc tế kể luôn tên đầy tớ cũ Việt Cộng và nổi bật nhất là tái chiếm nước cộng hòa Chechnya, làm chiến tranh và khủng bó cùng cảnh loạn lạc lan tràn khắp nước Nga, vốn đã nghèo mạt trong Liên bang Sô viết, nay cũng chẳng ra gì.

+ Từ DAGESTAN đến CHECHNYA và cuộc đấu tranh đòi độc lập:

Chiến sự hiện nay tại Chechnya vẫn diễn ra không khác gì những năm tháng trước qua bao thế kỷ. Nhưng lần này bom đạn đã vượt khỏi khu vực Caucase tiến thẳng vào đầu nảo của người Nga tại Kinh đô Mạc tư Khoa, qua vụ khủng bố bắt giữ hơn 700 con tin ngày 23-10 vừa qua.Nước Nga sẽ không bao giờ yên ổn khi quyết tâm của người dân Dagestan và Chechnya, đòi được độc lập như các nước cộng hòa cũ của LX, vì đất đai trên là chính của tổ tiên họ.

Từ cuối thế kỷ XVIII, vùng dất Chechnya đã là bãi chiến trường giữa người Nga và các bộ tộc theo Hồi giáo. Năm 1936, Chechnya-Ingushetia bị Liên Bang Sô Viết cưởng chiếm, dưới tên nước Cộng hòa tự trị Chechnya hay Itchkerie hoặc Chechen-Ingush. Thế chiến II (1939-1945), Sô Viết giải thể nước trên cho mãi tới năm 1947 vì bị dân chúng chống đối mãnh liệt, nên mới được khôi phục.

Giống như tổtiên ngày xưa thời vua Chamil (1797-1871), là vị hoàng đế thứ ba, thuộc bộ tộc Avar của Dagestan, đã chiến thắng Sa Hoàng và thành lập nước Hồi giáo bao gồm lãnh thổ Chechnya-Dagestan ngày nay. Chechnya nằm về hướng bắc rặng Caucase, có diện tích 1720 dặm vuông và 1.277.000 dân nhưng phần lớn đã bỏ chạy sang các nước lân cận để lánh nạn.

Đây là một khu vực sản xuất dầu hỏa và hơi đốt quan trọng nhất của Liên Sô,nên vào năm 1991,khi hầu hết các nước cộng hòa tự trị được độc lập thì Chechnya-Dagestan vẫn nằm trong vòng thống trị. Là một dân tộc dũng liệt, lại ngả theo xu hướng Hồi giáo cuồng nhiệt Wahhab của Muhammad Ibn Al-Wahhab (1703-1792), nên từ năm 1859 tới nay Chechnya chưa bao giờ công nhận sự thống trị của Nga Sô.

Để trả thù và dương oai, Josef Stalin đã giết nhiều người và đầy một số lớn dân chúng tới Kazakhstan.. đã làm cho thù hận càng lúc càng tận tuyệt. Dagectan sát nách Chechnya là nước cộng hoà rộng và đông dân nhất liên bang Nga hiện nay (50.000 km2-92,1 triệu người), hiện 90% ngân sách do trung ương đài thọ. Là một tập hợp hơn 40 bộ tộc trong đó người Nga chỉ chiếm 10% dân số, cùng với 5 bộ tộc lớn khác là Avar, Dargin, Koumyk, Lezghin và Lakh chiếm giữ hầu hết quyền lực về chính trị và kinh tế, trong lúc đó tuyệt đại dân chúng nghèo đói, có cuộc sống thấp nhất trong khu vực, dù đây là túi vàng đen, 65% đường dây, ống dẵn nhiên liệu khắp nước Nga phải chạy qua, trước khi tập trung về các nhà máy lọc, bến tàu tại Hắc Hải, Mạc Tư Khoa.

Là một điểm chiến lược quan trong nhất tại miền nam Nga, nhưng luôn bất ổn vì sự xung đột sắc tộc và phân hoá đẵm máu, cộng thêm ý chí muốn ly khai khỏi ảnh hưởng của nước Nga, đã dẫn đến bao hệ luỵ không sao hàn gắn được bằng con đường hoà bình. Sự dằng kéo dai dẳng trên , hiện nay đã lan rộng khắp nơi, khởi sự từ tháng 6-1995, khi lãnh tụ kháng chiến quân Chechnya là Shamil Basayey tấn công thị trấn Budyonnovsk, bắt cả ngàn người Nga tại một bệnh viện, để làm con tin trao đổi áp lực chính trị. Tháng 1-1996, quân của Shamil Raduyey lại đột kích thị trấn Kizlya miền nam Nga, bắt 100 con tin. Tại thủ đô Istanbul của Thổ nhĩ Kỳ, một toán quân Chechnya đã xông vào một khàch sạn bắt đi 13 con tin và sau đó vào tháng 4-2000, lại bắt đi 120 người trong khách sạn Swissotel. Tháng 3-2001,phiến quân Chechnya cướp một chiếc máy bay của Nga từ Istanbul bay tói Saudi Arab. Cứ thế tình trạng càng lúc càng bi thảm nhất là sau khi Putin lên thay Elsin làm tổng thống Nga, ra lệnh tấn công và chiếm Chechnya vào cuối năm 1999.

Dầu hỏa và hơi đốt trong lãnh thổ Nga đang bị nguy ngập vì sự phá hoại của loạn quân, cộng thêm sự tẩy chay của hầu hết các mước Cộng Hòa cũ trong đó có ba quốc gia quanh biển Caspian, đã làm cho Putin đứng ngồi không yên. Đó chính là lý do Nga liên kết với Ba Tư để ăn không được thì đạp đổ chứ không cho các nước ngoài nhảy vào giành giựt các tài nguyên vô giá hiện đang được khai thác trong vùng.

+ Nga muốn khống chế vùng biển Caspian như thời kỳ Liên Xô cũ:

Điểm nóng nhất tại khu vực Caucase và Caspian hiện nay là Putin muốn các đường ống dẫn dầu và hơi đốt từ khắp lảnh thổ Liên Xô cũ trước khi rời các nhà máy lọc tại Baki, thủ đô của Azaibaijan, phải qua hải cảng Novorossiisk của Nga trên bờ Hắc Hải trước khi được phân phối khắp thế giới. Ảo vọng này cũng được Ba Tư tham lam níu bắt trong lúc mọi thứ hiện tại đều nằm ngoài tầm tay và quyền kiểm soát của hai nước này.

Đó là sự ra đời của một đường ống dẫn dầu và hơi đốt mới được khánh thành vào ngày 19-4-1999 hoàn toàn không liên hệ gì tới Nga, vì nó được nối liền Baku (Azaibaijan) với hải cảng Soupsa (Géorgie) trên bờ Hắc Hải, do dầu tư hợp tác của Hoa Kỳ, Nato và các nước Géorgie, Ukraine, Azerbaijan, Moldavie. Đến tháng 10-1999 hai nước Thổ và Azerbaijan đã tuyên bố lại lập thêm một đường ống dẫn dầu khác nối liền Baku với hải cảng Ceyhan (Thổ) trên bờ biển Địa Trung Hải. Như vậy toàn bộ năng lượng ở phía nam Liên Xô cũ coi như hoàn toàn nằm ngoài lảnh thổ và sự vận chuyển không liên hệ tới người Nga. Nguy cơ hơn là nguồn năng lượng chiến lược của Mạc Tư Khoa tại phương bắc, gần như bị tắt nghẽn vì các nhóm khủng bố Chechnya ly khai phá thủng. Tình trạng nguy ngập đến nổi Nga phải dùng xe bồn vận chuyển dầu vòng qua đường khác xa hơn để tới thủ đô. Ngoài ra khủng bố Chechnia cũng đã phá vở kế hoạc lập một đường ống dẫn dầu và hơi đốt từ thủ đô Tenguiz (Kazakhstan) tới hải cảng Novorossiisk (Nga), vì đường ống này phải qua lảnh thổ của bắc Daghestan.

Một lần nữa lịch sử lại tái diễn tại Trung Á, lần trước là Sa Hoàng và đế quốc Anh vào thế kỷ XIX. Lần này là Hoa Kỳ và Nga Sô, cả hai đang giành giựt ráo riết quyền kiểm soát dầu hỏa và khí đốt tại hai nước Cộng Hòa cũ của liên Xô là Turkmenistan và Ouzbekistan.

Turkmenistan có diện tích 188.455 sq.ml hay 488.100 km2, dân số 3.534.000 người hiện là nước có trữ lượng hơi đốt đứng thứ ba trên thế giới (3000 tỷ m3) và mỏ dầu hỏa có tiềm năng tới 6 tỷ thùng. Tất cả đều nằm dưới hoang mạc Karakoum hoàn toàn là cát trắng nóng bỏng. Trước khi Liên Xô tan rã, tất cả phương tiện chuyển vận dầu hỏa tới phương tây đều do Nga cung cấp. Nhưng bây giờ thì mọi sự thay đổi hoàn toàn vì Hoa Kỳ đã đầu tư tới 3 tỷ đô la để giành hết năng lượng bằng kế hoạch thực hiện một đường ống dẫn chạy ngoài lãnh thổ Nga. Đây là một dự án thế kỷ, ngoài đầu tư của Hoa Kỳ còn có Nhật và Trung Cộng. Đường ống này dài 8000 km, sẽ tải dầu của Turkmenistan, Kazakhstan, Ouzbekistan và Tarim thuộc Tân Cương. Đường ống này đi về phía đông ngang qua lảnh thổ A Phú Hản, Trung Hoa rồi chui xuống biển tới Nhật Bản. Riêng dự án ống dẩn tới Ba Tư ra Ấn Độ Dương tuy rất gần nhưng đã bị hủy bỏ vì lệnh cấm vận của Hoa Kỳ nên không có một ngân hàng nào dám tài trợ.

Không riêng gì Nga phẩn uất trước sự kiện bị các nước Cộng Hòa cũ cho ra rìa tại vùng biển Caspian và Trung Á mà có cả Ba Tư cũng thù hận Mỹ không kém gì Nga vì các đường ống dẫn dầu chạy qua hai nước để ra Hắc Hải và Địa Trung Hải đều bị các công ty xăng dầu thế giới do Mỹ cầm đầu, đã bị hủy bỏ. Trong khi đó ai cũng tán đồng kế hoạch của Mỹ thực hiện đường ống dẫn từ Turkmenistan chun xuống biển Caspian tới Baku và THổ ra Địa Trung Hải. Chi phí thực hiện cũng tốn khoảng 4 tỷ đô la bằng dự án mà Pháp đã hợp tác với Ba Tư.

Để giải quyết những vấn đề nan giải trên, Nga- Ba Tư đã cùng với ba nước quanh biển Caspian chỉ trong năm 2007 đã hai lần họp thượng đỉnh tại Teheran để bàn bạc chia chác quyền lợi liên quan tới món vàng đen dưới biển. Nhưng dù Nga và Ba Tư có trưng dẫn ra đủ mọi lý do để dụ các nước còn lại theo phe mình chống Mỹ. Rốt cục bản tuyên bố chung chẳng có giá trị gì vì chưa giải quyết được chủ quyền quốc gia của các nước liên hệ. Riêng Nga và Ba Tư thì to tiếng cấm không cho người ngoài sử dụng biển chung của năm nước. trong lúc đó ba nước Azerbaijan, Kazakhstan vàTurkmenistan thì không bao giờ muốn hợp tác bất cứ điều gì với hai nước Nga-Ba Tư mà quá khứ đã mang lại cho họ không biết bao nhiêu khổ đau máu lệ vì thân phận nhược tiểu.

Còn một điều quan trọng khác mà ít ai biết tới. Đó là chẳng những Hoa Kỳ không muốn vùng trung Á và Biển Caspian lệ thuộc Nga-Ba Tư, mà còn phải độc lập với các nước Hồi Giáo sản xuất dầu Trung Đông gọi chung là OPEC. Điều này thật sự không phải do người Mỹ muốn mà nguyên do từ các nước trên vì nếu dầu và hơi đốt từ Trung Á và Biển Caspian có mặt trên thị trường, thì OPEC sẽ không còn thế độc tôn tự ý quyết định giá dầu như hiện nay.

Chẳng những thế các nước này còn tài trợ nuôi dưởng các tổ chức khủng bố như PKK chẳng hạn để phá hoại sự sản xuất dầu như trường hợp Trung Cộng đang làm tại Nigeria và Trung Phi. Cuộc chiến nay đến hồi quyết liệt giữa Mỹ, Ba Tư và Nga không biết vì bom nguyên tử hay dầu hỏa và hơi đốt"

Xóm Cồn

Tháng 11-2007

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Bàn về kinh tế không thể không nhắc đến tiền. Tiền không mua được hạnh phúc nhưng không có tiền thì…đói. Tiền mang lại tự do (có tiền mua tiên) hay biến con người thành nô lệ đồng tiền. Con nít lên 3 đã biết tiền dùng để mua bánh kẹo, vậy mà các kinh tế gia giờ này vẫn không đồng ý chuyện tiền để làm chi!
Sau ngày 30/4/1975, nếu phe chiến thắng đã có những chính sách mang lại sự hoà giải quốc gia, đối xử nhân bản với bên thua trận, thay vì cải tạo học tập, càn quét và thiêu huỷ văn hoá miền Nam, đánh tư sản mại bản, thì đã không có hàng triệu người bỏ nước ra đi và người Việt sẽ chẳng mấy ai còn nhớ đến một đất nước của quá khứ, tuy chưa hoàn toàn tự do dân chủ nhưng so với Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì người dân đã được tự do hơn bây giờ rất nhiều.
Tất nhiên phải “thành công” vì đảng một mình một chợ, không có ai cạnh tranh hay đòi chia phần. Nhưng việc đảng chọn cho dân bầu chỉ để tuyên truyền cho phương châm “ý đảng lòng dân”, trong khi người dân không có lựa chọn nào khác mà buộc phải đi bỏ phiếu để tránh bị làm khó trong cuộc sống.
Âm nhạc dễ đi vào lòng người, với hình bóng mẹ, qua lời ca và dòng nhạc, mỗi khi nghe, thấm vào tận đáy lòng. Trước năm 1975, có nhiều ca khúc viết về mẹ. Ở đây, tôi chỉ đề cập đến những ca khúc tiêu biểu, quen thuộc đã đi vào lòng người từ ngày sống trên quê hương và hơn bốn thập niên qua ở hải ngoại.
Những bà mẹ Việt xưa nay rất chơn chất thật thà, rất đơn sơ giản dị cả đời lo cho chồng con quên cả thân mình. Sử Việt nghìn năm đương đầu với giặc Tàu, trăm năm chống giặc Tây. Những bà mẹ Việt bao lần âm thầm gạt lệ tiễn chồng con ra trận, người đi rất ít quay về. Những bà mẹ âm thầm ôm nỗi đau, nỗi nhớ thương da diết.
Trước công luận, Eisenhower lập luận là cuộc chiến không còn nằm trong khuôn khổ chống thực dân mà mang một hình thức chiến tranh ủy nhiệm để chống phong trào Cộng Sản đang đe doạ khắp thế giới. Dân chúng cần nhận chân ra vấn đề bản chất của Việt Minh là Cộng Sản và chỉ nhân danh đấu tranh giành độc lập cho Việt Nam; quan trọng nhất là phải xem ông Hồ chí Minh là một cánh tay nối dài của Liên Xô. Đó là lý do cộng đồng quốc tế cần phải tiếp tục hỗ trợ cho Pháp chiến đấu.
Dù vẫn còn tại thế e Trúc Phương cũng không có cơ hội để dự buổi toạ đàm (“Sự Trở Lại Của Văn Học Đô Thị Miền Nam”) vào ngày 19 tháng 4 vừa qua. Ban Tổ Chức làm sao gửi thiệp mời đến một kẻ vô gia cư, sống ở đầu đường xó chợ được chớ? Mà lỡ có được ai quen biết nhắn tin về các buổi hội thảo (tọa đàm về văn học nghệ thuật miền Nam trước 1975) chăng nữa, chưa chắc ông Nguyễn Thế Kỷ – Chủ Tịch Hội Đồng Lý Luận, Phê Bình Văn Học, Nghệ Thuật – đã đồng ý cho phép Trúc Phương đến tham dự với đôi dép nhựa dưới chân. Tâm địa thì ác độc, lòng dạ thì hẹp hòi (chắc chỉ nhỏ như sợi chỉ hoặc cỡ cây tăm là hết cỡ) mà tính chuyện hoà hợp hay hoà giải thì hoà được với ai, và huề sao được chớ!
Lời người dịch: Trong bài này, Joseph S. Nye không đưa ra một kịch bản tồi tệ nhất khi Hoa Kỳ và Trung Quốc không còn kiềm chế lý trí trong việc giải quyết các tranh chấp hiện nay: chiến tranh nguyên tử có thể xảy ra cho nhân loại. Với 8000 đầu đạn hạt nhân của Nga, khoảng 270 của Trung Quốc, với 7000 của Mỹ, việc xung đột hai nước, nếu không có giải pháp, sẽ là nghiêm trọng hơn thời Chiến tranh Lạnh.
Kính thưa mẹ, Cứ mỗi tháng 5 về, nước Mỹ dành ngày Chủ Nhật của tuần đầu tiên làm Ngày của Mẹ (Mother's Day), ngày để tôn vinh tất cả những người Mẹ, những người đã mang nặng đẻ đau, suốt đời thầm lặng chịu thương, chịu khó và chịu khổ để nuôi những đứa con lớn khôn thành người.
Khoảng 4.500 người đã được phỏng vấn, trong đó có khoảng 700 người gốc Á. 49% những người được hỏi có nguồn gốc châu Á đã từng trải qua sự phân biệt chủng tộc trong đại dịch. Trong 62 phần trăm các trường hợp, đó là các cuộc tấn công bằng lời nói. Tuy nhiên, 11% cũng bị bạo hành thể xác (koerperliche Gewalt) như khạc nhổ, xô đẩy hoặc xịt (phun) thuốc khử trùng.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.