Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Chiến Tranh Nam Bắc Mỹ (1861-1865): Ân Xá Tại Appomattox

03/03/200800:00:00(Xem: 7430)

- Mercy at Appomattox; Tác giả William Zinsser (Reader's Digest 9/1994)  Lê Ngọc Diệp chuyển ngữ

Trước khi vào bài chuyển ngữ: Lịch sử là những sự thật và thường liên hệ đến tương lai. Những nhân vật đóng vai trong lịch sử, dù muốn dù không, hành động của họ cũng ảnh hưởng đến tương lai của cộng đồng hay quốc gia mà họ là những thành viên. Cuộc chiến tranh Nam Bắc Mỹ (1861-1865) có những điểm tương đồng và dị biệt với cuộc chiến tranh Việt Nam (1960-1975) (Chúng tôi chỉ đề cập đến giai đoạn sau Hiệp Định Paris 1954 phân chia hai miền Nam Bắc và chiến tranh tái phát khi MTGPMN do CSHN dàn dựng vào năm 1960 ). Trước hết, bỏ ra ngoài những yếu tố đặc biệt của cuộc chiến tranh Việt Nam, hai cuộc chiến tranh nầy là một cuộc nội chiến, tức là dân cùng một quốc gia đánh lẫn nhau. Kế đến, số thương vong rất cao, chiến tranh Nam Bắc Mỹ làm thiệt mạng gần 600.000 quân lính hai bên trong vòng 4 năm. Số thương vong của cuộc chiến tranh Việt Nam tuy không có số thống kê chánh thức nhưng ít ra cũng 3-4 lần nhiều hơn trong 15 năm. Sau nữa, vì binh sĩ hai miền cùng là một quốc gia, nên anh em bà con trong cùng gia đình nhiều khi lại ở vào hai bên đối nghịch.

Khác nhau là Bắc Mỹ tranh đấu cho lý tưởng giải phóng nô lệ đã thắng, miền Nam Việt Nam tranh đấu cho lý tưởng tự do dân chủ lại thất trận. Nhưng có một điểm khác biệt quan trọng hơn, đó là cung cách kết thúc cuộc chiến. Những bãi chiến trường và nghĩa trang quân đội của hai miền Nam Bắc Mỹ hiện nay là di tích lịch sử của quốc gia Hoa Kỳ, không có trả thù, không coi chiến thắng là vinh quang. Kết thúc của cuộc chiến tranh Việt Nam là hận thù, trại cải tạo, kinh tế mới, ngụy quân, ngụy quyền, vượt biên, san bằng các nghĩa trang của QLVNCH, xã hội suy hóa, nhân tâm ly tán, kinh tế băng hoại, mất đất dâng biển, lòng dân oán hận. Tất cả chỉ vì cái nhìn thiển cận, cố chấp và bất tri lý của những người chiến thắng sống trong hào quang mù quáng.

Bài viết sau đây nói đến nhân cách cao quý của những nhân vật ở phe chiến thắng lẩn chiến bại trong cuộc nội chiến Nam Bắc Mỳ để từ đó, người ta có thể đối chiếu với tư cách thấp kém của các bọn cầm đầu của đảng CSVN.

 *****

Tôi không phải là người say mê về cuộc nội chiến. Tôi không bao giờ có ý muốn thăm viếng những chiến trường nổi danh ngày xưa và khơi dậy diễn tiến của những trận đánh nầy. Chuyện xảy ra có quá nhiều bi thảm.

Thế mà có một địa danh trong cuộc nội chiến luôn luôn ám ảnh tôi, đó không phải là một bãi chiến trường mà là tên của một ngôi làng, hai bên xung đột cùng nhau kết thúc cuộc chiến: Appomattox! Để viếng nơi đây, tôi lấy máy bay đến thành phố Richmond và lái xe về phía tây của miền nam tiểu bang Virginia. Tôi chọn lộ trình đi ngang dịa thế nơi tướng Lee (1) đã dàn quân miền Nam trong tuần lễ cuối cùng của trận chiến. Trong suốt 9 tháng trời, quân đoàn Bắc-Virginia của tướng Lee đã án binh gần Petersburg, phía nam thành phố Richmond. Vào ngày 2 tháng 4, cuộc chiến coi như kết thúc. Quân miền Bắc bao vây gần 1/5 quân của tướng Lee tại Saylef's Creek và bắt giữ 7.000 tù binh. Được tin nầy, tướng Lee than: "Trời ơi! quân ta đã tan rã rồi hay sao"". Thật vậy, phần lớn quân lính của ông đã tan hang. Đói khát và kiệt sức, một số đông binh lính đào ngũ, quân số của tướng Lee chỉ còn lại 30.000 người. Trong lúc vội vã lui binh về phía tây, tướng Lee nhận được một bức thơ tay của tướng Grant kêu gọi ông đầu hàng.

Quân số quá ít so với địch quân và gần như bị vây khổn, sự lựa chọn của tướng Lee rất giới hạn. Một viên sĩ quan đề nghị phân tán và đánh du kích, tướng Lee không đồng ý. Ông giải thích tiếp tục đánh nhau chỉ gây thêm đau khổ không cần thiết cho dân miến Nam. Ông nói: "Không còn giải pháp nào khác hơn là tôi phải đến gặp tướng Grant, nếu không, tội của tôi đáng chết ngàn lần!". Ngày 9 tháng 4, tướng Lee ra lịnh viên sĩ quan tùy viên, đại tá Charles Marshall, đến một ngôi làng kế bên, Appomattox Court House, để tìm một địa điểm cho ông và tướng Grant gặp mặt.

Theo trí nhớ của tôi từ lúc còn đi học, tướng Grant (2) và tướng Lee họp trong một tòa án. Thật sự không phải như vậy. Tôi được biết trong cuộc viếng thăm, ở miến nam tiểu bang Virginia vào thế kỷ thứ 19, những ngôi làng nào có đại biểu trong quận hạt đều có hai chữ "Court House" đi liền theo tên của ngôi làng đó. Thật ra, khi đại tá Marshall đi ngựa vào ngôi làng nầy nhằm ngày chúa nhựt lễ phục sinh, tòa án đóng cửa. Ngôi làng thanh vắng và không có hoạt động. Ở đây còn lại khoảng 100 người, phân nữa là người nô lệ, nhiều người da trắng khi nghe quân đội đến đã bỏ làng ra đi. Một người ở lại, nhà buôn bán Wilmer Mc. Lean được đại tá Marshall thương lượng để dùng ngôi nhà của ông ta làm địa điểm bàn thảo việc quy hàng.

Tướng Lee đến trước, mặc lễ phục mang dây biểu chương và đeo kiếm, tướng Grant mặc đồ tác chiến thường ngày, quần và giày còn bám đất hành quân. Hai người ngồi trong phòng khách của ông Mc. Lean và hàn huyên thân mật về cuộc sống quân ngũ trong cuộc chiến tranh Mễ Tây Cơ (3). Sau cùng, tướng Lee đề cập đến "mục đích của buổi gặp gỡ của chúng ta ngày hôm nay". Tướng Grant bèn lấy cây viết chì, viết vội vã những điều kiện đầu hàng và trao lại cho tướng Lee.

Sau khi xem qua những điều tướng Grant trao, tướng Lee nói: "Những điều kiện nầy sẽ là môt tác động tốt cho quân sĩ của tôi". Điều kiện đầu hàng không đòi hỏi sự trả thù địch quân, họ được tự do về lại quê nhà. Tướng Lee đề cập đến nhiều binh lính của ông dùng ngựa đi đánh trận, ông hỏi tướng Grant rằng những quân lính nầy có thể giữ lại ngựa của họ được không" Tướng Grant chấp nhận và ông nói rằng hầu hết là những người nông dân và nếu họ không có ngựa, ông e rằng họ khó lòng trồng trọt để sống qua mùa đông. Tướng Lee trả lời: "Điều nầy sẽ góp phần quan trọng trong việc hòa giải dân tộc của chúng ta".Trước khi chia tay, ông cho tướng Grant biết rằng ông sẽ trao trả những tù binh miền Bắc vì ông không đủ lương thực cho họ, và ngay cả thiếu lương thực cho binh lính của ông. Tướng Grant nói ông sẽ gởi sang cho binh lính của tướng Lee 25.000 phần lương thực khô.

Khi tin đầu hàng bay đến doanh trại, quân miền Bắc bắn đại pháo để ăn mừng. Tướng Grant ra lịnh ngưng ngay. Ông nói với các sĩ quan trong bộ tham mưu của ông: "Chiến tranh đã chấm dứt, quân phản loạn bây giờ là đồng bào của chúng ta". Tướng Grant cảm thấy không thể "hồ hởi" trước sự quy hàng của một kẻ thù, những người đã chiến đấu một cách anh dũng trong bao nhiêu năm qua. Trong khi đó, khi được tin ân xá, quân đội miền Bắc không đợi lịnh, họ tự động đem sang trại quân miền Nam từng bao thịt bò , thịt "bacon" và những thức ăn khác mà quân đội miền Nam từ lâu thiếu thốn.

Vào ngày 12 tháng 4, bốn năm sau kể từ ngày tấn công Fort Sumter gây ra cuộc nội chiến Nam-Bắc, quân đội của tướng Lee tiến vào ngôi làng để trao nộp vũ khí. Chính tại nơi nầy, hành động hòa giải cuối cùng đã xảy ra và đó là tất cả ý nghĩa tại Appomattox.

Một nhân vật đáng kính, ông Joshua L. Chamberlain, một tướng lãnh miền Bắc được chỉ định tiếp nhận binh sĩ quy hàng. Ông rời chức giáo sư tại trường đại học Bowdoin để nhập ngũ. Ông đã được thăng chức nhiều lần tại mặt trận về sự can đảm. Ông bị thương sáu lần, một lần trầm trọng cho đến nỗi bác sĩ quân y không cứu chữa vì coi ông như đã chết.

Ngày hôm đó, trước hàng quân nghiêm chỉnh, tướng Chamberlain nhìn những binh sĩ miền Nam xơ xác từ trên đường đồi đi vào làng, dẫn đầu là tướng John B. Gordon. Sau nầy, tướng Chamberlain viết lại: "Giây phút đó làm tôi thật sự xúc động. Tôi quyết định để đánh dấu sự việc nầy, tôi phải làm biểu hiện thừa nhận không gì khác hơn là chào tay. Tôi cũng biết rằngsẽ có người chỉ trích thái độ của tôi sau nầy. Tôi đã không xin phép để hành sử như vậy và thật sự tôi cũng không đòi hỏi được khoan dung về hành dộng nầy. Đối diện với chúng tôi, trong tư thế bại trận nhưng can trường, là biểu tượng của tinh thần trượng phu, những con người không rã rời, không đau khổ, bất chấp tử vong và không có một sự tuyệt vọng nào có thể khuất phục họ được. Bây giờ đây, họ trở thành những con người ốm yếu, tả tơi và đói khát, nhưng họ đứng sừng sững, mắt nhìn ngang vào chúng tôi, làm sống dậy những sự ràng buộc thiêng liêng cao cả hơn hết. Những đấng nam nhi như vậy sao lại không được hội nhập vào một Hợp Chúng Quốc đã thử thách và vững vàng"".

Đáp lại lịnh của tướng Chamberlain, " tức thời tất cả hàng ngũ của chúng tôi, từ đơn vị nầy đến đơn vị khác, đều nghiêm chỉnh chào tay. Tướng dẫn đầu đoàn quân, ngồi trên lưng ngựa trông buồn bã, đầu cuối xuống, nghe được tiếng động của sự chào tay và nhận ra hàm ý của việc đối xử nầy, di chuyển một cách tuyệt diệu làm cho ông và con tuấn mã ở một vị thế nhìn thẳng, rồi ông theo quân cách chào lại bằng cách hạ kiếm ngang mũi giày và ra lịnh cho các đơn vị theo sau thi hành lễ nghi quân cách khi đi ngang hang quân Bắc Mỹ: danh dự được đối xử bằng danh dự! Phía chúng tôi không còn tiếng kèn thắng trận, không một tiếng trống, không một tiếng reo hò, không một lời nói hay một tiếng sầm xì về một sự vinh quang hư ảo, mà là một sự im lặng rợn người và nghẹt thở dường như là một sự diễn hành của những bóng ma".

Từ sáng sớm đến chiều tối, những người lính miền Nam ở thế chào đi ngang những người miền Bắc cũng ở thế chào. Họ giao vũ khí, những lá cờ miền Nam tơi tả và trở về quê. Gần 100.000 quân miền Nam đã quy hàng ở Appomattox. Vài ngày sau, tất cả đều rời nơi nầy.

"Sau diễn tiến của sự quy hàng, ngôi làng trở lại nhịp sống bình thường", ông Ron Wilson, sử gia của Appomattox Court House , nói với tôi. Làng Appomattox hiện nay là một di tích lịch sử quốc gia gồm ngôi nhà của ông Mc. Lean xây cất trở lại, tòa án và 20 căn nhà nhỏ hơn. Ông Wilson và tôi ngồi dưới cổng nhà Clover Hill tân trang, nơi đây, tướng Grant đã đặt in 28.231 giấy chứng nhận phóng thích cho binh sĩ miến Nam. Chúng tôi nhìn qua khung cảnh trầm lặng mênh mông. Con đường từ đó quân sĩ miền Nam đi xuống ngôi làng xuyên qua một vùng ruộng lúa có thể nhận ra rõ ràng trong một bức tranh vẽ hồi thế kỷ 19, cho đến nỗi tôi hình dung thấy họ đang di chuyển xuống con đường đó một lần nữa.

Hiện nay có khoảng 110.000 du khách đến viếng di tích nầy hàng năm. Ông Jon B. Montgomery, quản trị viên, nói: "Họ đến tìm nguồn cảm hứng. Câu chuyện chúng tôi kể cho họ nghe không phải là trận đánh cuối cùng nhưng là sự hòa hợp của quốc gia và những điều kiện rộng rãi của sự quy hàng do tướng Grant đề nghị. Tướng Grant không muốn đóng vai một vị anh hùng chiến thắng. Đế tài "khoan dung" và "hòa hợp" cứ vang mãi trong tai tôi trước sự trầm lặng của Appomattox. Ông Wilson nói: "Tướng Grant và tướng Lee có một tầm nhìn rất xa. Hai ông nhận thức rằng những nỗ lực hai bên dùng vào cho cuộc chiến đã gây ra bao nhiêu phân hóa trong bao nhiêu năm qua, cần phải được vận dụng để tái thiết quốc gia. Không cần phải có hận thù".

Có ba nhân vật sống mãnh liệt trong lòng tôi. Hai trong ba nhân vật đó, tướng Lee và tướng Grant còn ngời sáng với đức tánh trí dũng mà người Hoa Kỳ còn ngưỡng mộ đến ngày hôm nay. Một người tượng trưng cho sự quý phái và truyền thống trưởng giả của miền Nam cổ kính, và người kia là hình ảnh của một con người bình thường và tự lập của miền Bắc, miền Trung Tây và miền Tây Hoa Kỳ. Người thứ ba không ai khác hơn là ông Lincoln (4). Ở giai đoạn sau cùng, Appomattox chính là màn diễn xuất của ông. Tôi hầu như thấy ông đang đứng phía bên kia chiếc bàn trong nhà của ông Mc. Lean khi tướng Grant viết sơ qua về những điếu kiện đầu hàng. Tôi cũng biết rằng ông Lincoln thường tuyên bố ông muốn cuộc chiến tranh chấm dứt trong sự khoan dung, nhưng tôi không biết ông và tướng Grant có thì giờ để thảo luận vấn đề nầy hay không.

Ông Ron Wilson nói rằng hai người đã gặp nhau hai tuần lễ trước đó trên chiến hạm River Queen ở song James, và hai ông đã thảo luận rất lâu về những diễn tiến chấm dứt cuộc chiến một cách nhanh chóng và những xáo trộn có thể xảy ra vào thời hậu chiến. Ông Wilson nói với tôi: "Ông cũng nên biết thêm ông Lincoln đã nói: hãy để họ buông súng một cách thoải mái".

Ghi chú thêm của người dịch :

(1) Robert E. Lee, tư lịnh quân đội miền Nam, được nhiều sử gia xem như một tướng lãnh tài giỏi nhứt trong cuộc nội chiến. Ông đã chận đứng được sự tiến quân của miền Bắc nhằm đe dọa thủ đô Richmond, Virginia của miền Nam. Sau đó, vì thiếu thốn phương tiện và quân số, ông phải đầu hàng tại Appomattox. Sau chiến tranh, ông là viện trưởng của trường đại học Washington và kêu gọi dân miền Nam đoàn kết góp phần xây dựng Hợp Chủng Quốc.

(2) Tướng Ulysses S. Grant sau đó đắc cử Tổng Thống Hoa Kỳ hai nhiệm kỳ

(1869-1877).

(3) Chiến tranh Mễ Tây Cơ (1846-1848) xảy ra giữa Hoa Kỳ và Mễ Tây Cơ về sự tranh chấp biên giới phía Bắc và Đông của tiểu bang Texas vừa được sáp nhập vào Liên Bang năm 1845. Hoa Kỳ thắng cuộc chiến tranh nầy và Mễ Tây Cơ với Hòa Ước Guadalupe vào tháng 2/1848 chịu nhượng cho Hoa Kỳ phần còn lại của Texas, đồng thời Hoa Kỳ cũng kiểm soát luôn California, Nevada, New Mexico và Wyoming. Hoa Kỳ đồng ý bồi thường $ 18.250.000 chiến phí cho Mễ Tây Cơ (trị giá hiện nay khoảng $600.000). Sự sáp nhập những tiểu bang mới nầy vào liên bang cũng là trong những nguyên nhân đưa đến cuộc nội chiến vì các tiểu bang mới không được phép dùng nô lệ. Do đó, số tiểu bang không chấp thuận nô lệ đã tăng thêm và Thượng Viện mất quân bình bất lợi cho miến Nam.

(4) Tổng Thống Abraham Lincoln chỉ hai ngày sau khi chấm dứt chiến tranh, vào ngày 14.04.1865 bị ám sát chết trong lúc ông đang tham dự một buổi trình diễn tại hí viện Ford ở Washington D.C. Người ám sát ông là diễn viên John Wickes Booth, một người có khuynh hướng ủng hộ miền Nam.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Nguyệt Quỳnh: Anh còn điều gì khác muốn chia sẻ thêm? Trịnh Bá Phương: Trong cuộc đấu tranh giữ đất, nhóm chúng tôi đã tham gia các phong trào khác như bảo vệ cây xanh, bảo vệ môi trường, tham gia biểu tình đòi tự do cho các nhà yêu nước, tham gia các phiên toà xét xử người yêu nước bị nhà nước cộng sản bắt giam tuỳ tiện. Và hướng về biển đông, chống sự bành trướng của Bắc Kinh khi đã cướp Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam! Và mới đây là phản đối bè lũ bán nước đã đưa ra dự luật đặc khu và dự luật an ninh mạng.
Có một câu thần chú mới mà các nhân viên FBI đã khuyên tất cả chúng ta phải học thuộc và nên áp dụng trong thời đại này. Thời đại của cao trào xả súng đang diễn ra khắp nơi ở Hoa Kỳ. Xin giới thiệu cùng bạn đọc một bài viết hữu ích của nữ ký giả Alaa Elassar của đài CNN đang được đăng tải trên liên mạng. Cô đã nêu ra những lời khuyên rất cần thiết cho chúng ta, căn bản dựa trên những video clips huấn luyện và đào tạo nhân viên của FBI.
Since I arrived in the United States in “Black April” of 1975 (the Fall of Saigon) and had been resettled in Oklahoma City to date, I have had two opportunities to go back to schools. The first one I studied at Oklahoma City University (OCU) for 5 years and received my degree in 1981. Having to work during day time, I could only go to school in the evening.
Như vậy, từ hiện tượng đảng viên “quay lưng” lại với đảng đến chuyện dân bỏ mặc mọi việc cho nhà nước lo cho tới chuyện thanh niên, rường cột của Tổ quốc, cũng “khô đoàn” và “nhạt đảng” thì điều được gọi là “nền tảng Tư tưởng đảng” có còn gốc rễ gì không, hay trốc hết rồi?
Niềm vui trong Ngày Hội Ngộ, với đặc san được quý nương “khen” còn mấy ông già chồng chỉ gật gù “mầy giữ gìn sức khỏe để tiếp tục”. Tháng 5 năm 2020 và tháng 5 năm nay vì cái dịch Covod-19, không có cơ hội gặp nhau. Dù “ghét cay ghét đắng” mấy ông già chồng hành hạ “con dâu” nầy nhưng không được dịp hội ngộ với nhau, nhớ nhiều.
Khi đối với cha mẹ có thể cung kính mà vui vẻ, mới là tận Hiếu. Chữ “Kính” nhấn mạnh việc không để xảy ra sơ suất dù rất nhỏ, phụng dưỡng cha mẹ già xuất phát từ nội tâm, với khuôn mặt vui vẻ, mới có thể nói là “Hiếu.” Người già không khác những đứa trẻ, nhiều khi hay tủi thân, hờn dỗi và dễ phiền muộn. Con cái có thể cho cha mẹ ăn uống, hầu hạ cha mẹ khuya sớm nhưng rất khó biết đến nỗi buồn của cha mẹ lúc về già.
Giáo hội xin tán thán tinh thần hộ đạo và tu đạo của quí Thiện nam Tín nữ trong hoàn cảnh tai ương đầy kinh hãi hiện nay. Tất cả năng lực và công đức lớn lao này của người đệ tử, chúng con xin dâng lên cúng dường đức Thế Tôn trong ngày Đản sinh. Hàng trăm ngàn trái tim, hàng vạn ngàn bàn tay siết chặt giữa những thương đau tràn ngập của nhân loại, chúng con nguyện quán chiếu thật sâu sự khổ nạn hiện nay để kiên nhẫn mà vượt qua.
Có lẽ cả Trung Cộng lẫn Hoa Kỳ đều không mong muốn việc khơi mào cho một cuộc xung đột vũ trang, nhưng trước thái độ xác quyết của tổng thống Joe Biden, Trung Cộng hiểu rằng họ đang đối đầu với một đối thủ nguy hiểm gấp bội lần so với những năm qua.
Với chế độ độc đảng toàn trị hiện hành, với bộ máy tam trùng hiện tại, với văn hoá tham nhũng hiện nay, và với chủ trương cấm tự do báo chí cố hữu … thì chuyện sống được bằng lương mãi mãi chỉ là một kỳ vọng xa vời. Vô phương thực hiện!
Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.