Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Bin Laden, APEC và Truyền thông

08/09/200700:00:00(Xem: 8757)

Laden dư dôi, APEC nghiêm trọng và truyền thông vô dụng...

Suốt buổi sáng Thứ Sáu mùng bảy, truyền thông Hoa Kỳ tập trung phân tách một đề tài nóng nhất, là cuốn băng hình do al-Qaeda phổ biến, có hình ảnh của Osama bin Laden.

Một màn biểu diễn mức cận thị cao độ của các nhà bình luận Hoa Kỳ.

Từ sau vụ khủng bố 9-11, ngày 11 tháng Chín 2001, đến nay, thủ lãnh Osama bin Laden đã 18 lần bắn tin cho thế giới, khi qua băng hình, khi bằng băng ghi âm. Chúng ta cần phân biệt hình và tiếng vì mỗi loại lại đòi hỏi một số điều kiện khó dễ khác nhau về kỹ thuật, tức là về an ninh. Và qua băng hình, người ta có thể xác nhận là bin Laden thật hay giả, mạnh hay yếu. Hoặc sống hay chết.

Lần cuối mà thế giới được xem băng hình của bin Laden là vào ngày 29 tháng 10 năm 2004, nhằm tác động vào cuộc bầu cử Hoa Kỳ. Sau đó chỉ nghe thấy tiếng nói mà một số dư luận cho rằng thủ lãnh bin Laden đã lâm trọng bệnh, hoặc đã chết.

Vì vậy, lần này dư luận Mỹ mới chú ý vì đã được thông báo rằng al-Qaea sẽ có món quà kỷ niệm sáu năm của vụ khủng bố. Và nếu quả thật là bin Laden xuất hiện trước ống kính, ông ta chưa chết.

Một chi tiết đáng chú ý là ngay sau khi một hệ thống kiểm thính thông tin trong thế giới Hồi giáo báo trước món quà bằng băng hình này, giới hữu trách Hoa Kỳ đã tiết lộ rằng họ có cuốn băng đó rồi! Lập tức hệ thống truyền hình xưa nay vẫn quảng bá tin tức của al-Qaeda đã tắt đèn đóng cửa!

Nguy quá, vì sao tình báo Mỹ lại bắt được sản phẩm tuyên truyền của mình.

Suốt ngày Thứ Sáu, truyền thông Mỹ chỉ tìm hiểu về bản chất thực giả và nội dung của đòn thông tin mới của bin Laden. Người ta nói đến bộ râu đã được nhuộm đen, nét mặt có vẻ khang kiện hơn so với băng hình tháng 10 năm 2004.

Đấy là một chuyện thật ra vô ích!

Osama bin Laden đã làm nên lịch sử khi liên tục tấn công Hoa Kỳ từ năm 1993 và dứt điểm với vụ 9-11. Kể từ đó, thế giới đã thay đổi và Hoa Kỳ cũng vậy.

Theo truyền thống kém hiểu biết về lịch sử và địa dư chiến lược, Tổng thống Bush đã phạm sai lầm đầu tiên, thuộc loại chiến lược, khi nói đến Thập tự chinh (Crusade) trong bài diễn văn về Tình hình Liên bang đầu năm 2002. Từ trước vụ Iraq, ban tham mưu chiến lược của ông đã phải chịu trách nhiệm về sự sai lầm đó. Một sự sai lầm có đuôi, kéo dài tới việc giải tán quân đội Iraq và đảng Baath của Saddam Hussien.

Hoa Kỳ mở ra cuộc chiến chống khủng bố Hồi giáo mà gây ấn tượng là một cánh tay nối dài của một vụ xung đột tôn giáo - và thực chất là xâm lăng - xuất phát từ thời Trung Cổ, của Thiên chúa giáo chống lại Hồi giáo.

Lầm lẫn vì giảm bớt khả năng thuyết phục các thành phần Hồi giáo ôn hoà phải cùng Mỹ đứng lên tiêu diệt xu hướng Hồi giáo quá khích đang dùng đòn khủng bố để khuynh đảo cả thế giới Hồi giáo.

Osama bin Laden đã châm ngòi cho một chuyển động lịch sử làm thay đổi bộ mặt thế giới. Ông Bush tiếp tay khi không giải thích được cho rõ ràng nội dung của cuộc chiến toàn cầu chống lại một thành phần cực đoan và dù sao cũng là thiểu số trong thế giới Hồi giáo. Sự vụng về của ông khiến nhiều người Hồi giáo ghét Mỹ hơn ghét quân khủng bố.

Và rơi vào cái bẫy của bin Laden.

Thế giới bỗng nhiên bị kéo lại thời Trung Cổ với Hoa Kỳ lãnh đạo Thập tự quân tấn công vào thế giới Hồi giáo. Sự thật tất nhiên là khác, nhưng cảm quan của đa số là như vậy.

Mà cảm quan là yếu tố quan trọng trong hình thái chiến tranh kết hợp bạo động mù quáng với tâm lý chiến. Bush thua và nước Mỹ điêu đứng là vì thiếu khái niệm về chiến tranh tâm lý, một vấn đề văn hoá bất ngờ của một quốc gia siêu hạng về nghệ thuật quảng cáo!

Tuy nhiên, Osama bin Laden không thành công về mặt chiến lược, vì không một chế độ Hồi giáo ôn hoà nào trên thế giới lại bị xu hướng Hồi giáo cực đoan lật đổ để góp phần xây dựng một Vương quốc Hồi giáo toàn cầu, được cai trị bằng giáo luật hà khắc theo lời kêu gọi của bin Laden.

Chẳng những không thành công, bin Laden còn chia sẻ với ông Bush một trách nhiệm khác: tạo điều kiện cho sự lớn mạnh của xu hướng Hồi giáo cực đoan khác, theo hệ phái Shia.

Sáu năm nay, al-Qaeda không thể tấn công vào quyền lợi Hoa Kỳ, trong hay ngoài lãnh thổ Mỹ, nhưng đoàn Thập tư quân cho ông Bush lãnh đạo bị khựng tại Iraq, và giờ đây có tiến hay thoái cũng chẳng do al-Qaeda mạnh hay yếu. Mà do khả năng gây rối của các Giáo chủ Shia tại Tehran.

Nước Mỹ đang phải đối đầu với Iran, theo hệ phái Shia, và sự nghiệp của Tổng thống Bush tùy thuộc vào khả năng thuyết phục hay răn đe Tehran hơn là các lãnh tụ al-Qadea, dù bin Laden còn sống hay đã chết.

Bin Laden có thể chưa chết, trút hơi tàn để đánh một màn tuyên truyền ngoạn mục vào nước Mỹ vì đấy là khả năng tối đa. Nhưng điều ấy không làm thay đổi tình hình tại Afghanistan, Iraq, vùng Đông Phi, là nơi al-Qaeda còn cơ sở hoạt động. Và các nhóm al-Qaeda nội hoá, tự phát, các tay khủng bố học đòi al-Qaeda để tấn công London hay nước Đức, cũng chẳng làm thay đổi được tình hình.

Làm thay đổi tình hình thế giới và chính trường Mỹ là chủ trương và khả năng của Iran.

Xuất thân từ hệ phái Sunni, Osama bin Laden đã dọn cỗ cho hệ phái thiểu số là Shia gặt hái thành quả là lãnh đạo thế giới Hồi giáo để chống Mỹ. Và khiến đệ nhất siêu cường phải nói chuyện phải quấy với mình! Ông ta là người của lịch sử và đã đi vào lịch sử.

Trở thành dư dôi không cần thiết! Giờ này, Mỹ có thắng hay bại thì cũng chẳng do sức khoẻ của bin Laden hay khả năng ra đòn của al-Qaeda.

Vậy mà truyền thông và các bình luận gia Mỹ cứ chạy theo cái đuôi ấy để bắt mạch và bình nghị!

Đáng tiếc hơn cả là họ tường thuật rất ít về một biến cố khác, ở một nơi quá xa cho tầm nhìn của nước Mỹ, ở Sydney, thuộc Úc Đại Lợi. Đó là Thượng đỉnh Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Á châu Thái bình dương APEC.

Diễn đàn này quy tụ 21 quốc gia trong vành cung Thái-Á, sản xuất ra 60% sản lượng toàn cầu. Và chủ trì Thượng đỉnh năm nay là Úc Đại Lợi, một đồng minh chiến lược của Hoa Kỳ tại Á châu.

Dù bị đa số dân Úc phản đối, Thủ tướng John Howard tiếp tục sát cánh cùng Mỹ tại Iraq, không thua kém gì Thủ tướng Tony Blair của Anh. Nhân Thượng đỉnh năm nay, ngày mùng năm, hai lãnh tụ Mỹ-Úc còn ký hiệp ước hợp tác chiến lược về quân sự và thương mại, tương tự như hiệp định Anh-Mỹ, đã ký kết ngày 27 tháng Sáu.

Kể từ nay, và cho dù ông John Howard hết làm Thủ tướng, Úc Đại Lợi trở thành đồng minh với Mỹ ở Á châu, ngang hàng với nước Anh tại Âu châu. Với hiệp định ấy, việc làm ăn mua bán - kể cả chiến cụ - giữa hai nước sẽ được giải quyết theo thủ tục khác. Và Úc Đại Lợi sẽ sớm thành một cường quốc quân sự trong khu vực tiếp giáp với một nước đông dân Hồi giáo nhất thế giới là Indonesia, một xương sống gai góc để giữ gìn an ninh - cho Hoa Kỳ - trong khu vực sinh hoạt của Hiệp hội 10 Quốc gia Đông Nam Á. Và là vòng đai bảo vệ Thái bình dương kéo dài từ Nhật Bản tại Đông Á xuống tới New Zealand. Một tin kém vui cho Trung Quốc và liên minh Nga-Hoa tại Á châu!

Một biến cố như vậy có hậu quả thật ra lâu dài hơn băng hình của bin Laden mà bị truyền thông Mỹ gác qua một bên. Một biểu hiện khác của chứng tật Hoa Kỳ: coi thường đồng minh mà coi trọng kẻ thù!

Sau chuyến thăm viếng chính thức nước Úc, Tổng thống Bush sẽ dự Thượng đỉnh APEC tại Sydney trong hai ngày mùng tám mùng chín, và bên lề Thượng đỉnh là gặp các lãnh tụ Á châu Thái bình dương khác. Gặp ai nói gì là chuyện quan trọng, và hiển nhiên quan trọng hơn vụ tuyên truyền của al-Qaeda.

Thí dụ như ông Bush có thái độ ôn hoà với Chủ tịch Hồ Cẩm Đào của Trung Quốc, và có thể đã đạt thoả thuận giải quyết ung nhọt Miến Điện độc tài cho Hiệp hội ASEAN. Điều đáng tiếc nhất cho ông Bush không là những vấp váp cũng truyền thống của ông, như nói lầm tên APEC thành OPEC, hoặc gọi lầm tên đồng minh Australia thành Austria, một xứ trung lập tại Âu châu. Đáng tiếc là ông mau mắn nhận lời Chủ tịch Hồ Cẩm Đào qua dự Thế vận hội Bắc Kinh 2008.

Ông cần có mặt tại nơi phồn hoa đó vào tháng Tám năm tới trước khi khăn gói ra về" Những kêu gọi về dân chủ và nhân quyền của ông có còn giá trị gì không" Đấy là một điều rất đáng bình luận chứ!

Ngoài ra, và nhìn vào một khung cảnh rộng lớn hơn, trong khi dư luận Mỹ coi như Hoa Kỳ và ông Bush bị chôn vùi tại Iraq, ít ai nhận ra một biến động khác trong mấy năm qua tại Á châu.

Dù bị kẹt tay vào cái bẫy Iraq, Hoa Kỳ vẫn khai thác tối đa lợi thế của APEC. Đây là diễn đàn do... Úc Đại Lợi gợi ý thành lập từ năm 1993 để cân bằng lại thế lực kinh tế của khu vực Bắc Mỹ (Hiệp định Tự do Thương mại NAFTA giữa Canada, Hoa Kỳ và Mexico) và Liên hiệp Âu châu. Thời đó, khối APEC còn yếu, với sản lượng chỉ bằng phân nửa thế giới. Ngày nay, các nước APEC đã là sức mạnh kinh tế đáng nể, với ba nước sản xuất nhiều nhất thế giới là Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc.

Rồi thế lực kinh tế kéo theo thế lực chính trị, APEC không còn là một câu lạc bộ làm ăn giữa các hội viên (như ASEAN) mà còn là diễn đàn về các vấn đề chiến lược toàn cầu.

Tại Thượng đỉnh APEC, Tổng thống Bush đã bắn tiếng - và gây nhạc nhiên, nhất là cho Tổng thống Nam Hàn - là Hoa Kỳ có thể chính thức kết thúc chiến tranh Cao Ly với một hiệp ước bất tương xâm ký kết với cả hai nước Nam và Bắc Hàn. Nếu Bình Nhưỡng thực tâm từ bỏ kế hoạch nguyên tử như họ đã hứa.

Chiến tranh Cao Ly là cuộc chiến chưa có đoạn kết mà chỉ có một hiệp định ngưng bắn, từ năm 1953. Nếu Mỹ giải quyết được hồ sơ nóng là tranh chấp Nam-Bắc Hàn và cất được đòn bắt bí thiên hạ bằng võ khí nguyên tử của Bắc Hàn, tình hình Đông Bắc Á sẽ đổi khác.

Hiển nhiên là quan trọng hơn màu đen hay màu xám của bộ râu bin Laden!

Tại Thượng đỉnh APEC, Hoa Kỳ còn có cơ hội phá vỡ nỗ lực kiểm soát hiện tượng nhiệt hoá địa cầu của Hiệp định thư Kyoto, với một đề nghị hợp tác khác, bao gồm cả Trung Quốc. Và APEC cũng là nơi xuất phát dự án đối thoại và hợp tác để bảo vệ tiêu chuẩn vệ sinh và an toàn thực phẩm. Đề án của APEC được tung ra cùng ngày công ty Mattel của Mỹ báo tin sẽ thu hồi (thêm) 800 ngàn đồ chơi trẻ em được chế tạo tại Trung Quốc!

Sau cùng, diễn đàn APEC còn đẩy mạnh trào lưu tự do mậu dịch và trở thành giải pháp cấp vùng mà điền thế cho giải pháp toàn cầu đang bị bế tắc là vòng đàm phán Doha của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO.

APEC vì vậy là một sân chơi khác của Hoa Kỳ, để đặt ra một luật chơi khác giữa các nước, hầu phát huy tự do mậu dịch, bảo vệ môi sinh và tănh cường chế độ kiểm phẩm. Luật chơi ấy sẽ quàng thêm một cái ách nữa vào cổ giới lãnh đạo Bắc Kinh.

Vậy mà ngần ấy chuyện xảy ra tại Sydney tuần này lại không được tường thuật và trình bày đầy đủ. Dư luận Mỹ chỉ chú trọng đến chuyện Iraq và đòn tuyên truyền của bin Laden! Hèn gì, dân Mỹ nổi tiếng là kém về lịch sử và địa dư, và 20% trẻ em Mỹ không thể chỉ được cho đúng bản đồ của Hoa Kỳ trên trái địa cầu. Nói chi đến Australia!

Có lầm với Austria như ông Bush thì cũng dễ hiểu thôi!

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Liên quan đến cuộc bầu cử Quốc Hội Đức 2021 trước đây tôi đã giới thiệu lần lượt ba ứng cử viên: Scholz của SPD, Laschet (CDU) và Baerbock (Xanh). Nhưng trong những tháng qua có khá nhiều tin giật gân nên để rộng đường dư luận tôi lại mạn phép ghi ra vài điểm chính bằng Việt ngữ từ vài tin tức liên quan đến cuộc bầu cử 2021 được truyền thông và báo chí Đức loan tải.
Năm 17 tuổi, đang khi học thi tú tài, tôi bỗng nhiên bị suyễn. Căn bệnh này – vào cuối thế kỷ trước, ở miền Nam – vẫn bị coi là loại nan y, vô phương chữa trị. Từ đó, thỉnh thoảng, tôi lại phải trải qua vài ba cơn suyễn thập tử nhất sinh. Những lúc ngồi (hay nằm) thoi thóp tôi mới ý thức được rằng sinh mệnh của chúng ta mong manh lắm, và chỉ cần được hít thở bình thường thôi cũng đã là một điều hạnh phúc lắm rồi. If you can't breathe, nothing else matters!
Một người không có trí nhớ, hoặc mất trí nhớ, cuộc đời người ấy sẽ ra sao? Giả thiết người ấy là ta, cuộc đời ta sẽ như thế nào? Ai cũng có thể tự đặt câu hỏi như vậy và tự cảm nghiệm về ý nghĩa của câu hỏi ấy. Sinh hoạt của một người, trong từng giây phút, không thể không có trí nhớ. Cho đến một sinh vật hạ đẳng mà chúng ta có thể biết, cũng không thể tồn tại nếu nó không có trí nhớ. Trí nhớ, Sanskrit nói là smṛti, Pāli nói là sati, và từ Hán tương đương là niệm, cũng gọi là ức niệm, tùy niệm. Nói theo ngôn ngữ thường dùng hiện đại, niệm là ký ức. Đó là khả năng ghi nhớ những gì đã xảy ra, thậm chí trong thời gian ngắn nhất, một sát-na, mà ý thức thô phù của ta không thể đo được.
Ba mươi năm trước tôi là thành viên hội đồng quản trị của một cơ quan xã hội giúp người tị nạn trong khu vực phía đông Vịnh San Francisco (East Bay) nên khi đó đã có dịp tiếp xúc với người tị nạn Afghan. Nhiều người Afghan đã đến Mỹ theo diện tị nạn cộng sản sau khi Hồng quân Liên Xô xâm chiếm đất nước của họ và cũng có người tị nạn vì bị chính quyền Taliban đàn áp. Người Afghan là nạn nhân của hai chế độ khác nhau trên quê hương, chế độ cộng sản và chế độ Hồi giáo cực đoan.
Bà Merkel là một người đàn bà giản dị và khiêm tốn, nhưng nhiều đối thủ chính trị lại rất nể trọng bà, họ đã truyền cho nhau một kinh nghiệm quý báu là “Không bao giờ được đánh giá thấp bà Merkel”.
Hai cụm từ trọng cung (supply-side) và trọng cầu (demand-side) thường dùng cho chính sách kinh tế trong nước Mỹ (đảng Cộng Hòa trọng cung, Dân Chủ trọng cầu) nhưng đồng thời cũng thể hiện hai mô hình phát triển của Hoa Kỳ (trọng cầu) và Trung Quốc (trọng cung). Bài viết này sẽ tìm hiểu cả hai trường hợp. Trọng cung là chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hoà từ thời Tổng Thống Ronald Reagan nhằm cắt giảm thuế má để khuyến khích người có tiền tăng gia đầu tư sản xuất. Mức cung tăng (sản xuất tăng) vừa hạ thấp giá cả hàng hóa và dịch vụ lại tạo thêm công ăn việc làm mới. Nhờ vậy mức cầu theo đó cũng tăng giúp cho kinh tế phát triển để mang lại lợi ích cho mọi thành phần trong xã hội. Giảm thuế lại thêm đồng nghĩa với hạn chế vai trò của nhà nước, tức là thu nhỏ khu vực công mà phát huy khu vực tư.
Gần đây, chỉ một tấm ảnh của nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ – Nicole Gee – ôm em bé người Afghan với thái độ đầy thương cảm thì nhiều cơ quan truyền thông quốc tế đều phổ biến và ca ngợi! Nhân loại chỉ tôn trọng sự thật, trân quý những tâm hồn cao thượng và những trái tim biết rung động vì tình người – như nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ, Nicole Gee – chứ nhân loại không bao giờ thán phục hoặc ca ngợi sự tàn ác, dã man, như những gì người csVN đã và đang áp đặt lên thân phận người Việt Nam!
Tôi vừa mới nghe ông Trần Văn Chánh phàn nàn: “Cũng như các hội nghề nghiệp khác, chưa từng thấy Hội nhà giáo Việt Nam, giới giáo chức đại học có một lời tuyên bố hay kiến nghị tập thể gì liên quan những vấn đề quốc kế dân sinh hệ trọng; thậm chí nhiều lần Trung Quốc lấn hiếp Việt Nam ở Biển Đông trong khoảng chục năm gần đây cũng thấy họ im phăng phắc, thủ khẩu như bình…”
Thế giới chưa an toàn và sẽ không an toàn chừng nào các lực lượng khủng bố trên thế giới vẫn còn tồn tại, một nhà báo, cựu phóng viên đài VOA từ Washington D.C. nói với BBC News Tiếng Việt hôm thứ Năm. Sự kiện nước Mỹ bị tấn công vào ngày 11 tháng 09 năm 2001 đã thức tỉnh thế giới về một chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan đang tồn tại trong lòng các nước Trung Đông. Giờ đây, sau 20 năm, liệu người Mỹ có cảm thấy an toàn hơn hay họ vẫn lo sợ về một cuộc tấn công khủng bố khác trên đất nước Hoa Kỳ hay nhằm vào công dân Mỹ ở nước ngoài.
Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, những kẻ khủng bố Hồi giáo thuộc tổ chức mạng lưới Al-Qaida đã dùng bốn phi cơ dân sự làm thành một loại vũ khí quân sự để tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới ở New York và Lầu Năm Góc ở Washington D.C. Các sự kiện không tặc loại này là lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh của nhân loại và đã có hậu quả nghiêm trọng nhất trong lịch sử cận đại.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.