Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Diễn Đàn Độc Giả – Hoàng Tuấn Phụ Trách

14/03/201000:00:00(Xem: 1855)

Diễn Đàn Độc Giả – Hoàng Tuấn phụ trách

 

Hy Vọng & Thực Tế Tan Hoang – Nguyễn Xuân Phong (Dịch thuật: Phan Quân)

LGT: Từ năm 1965 đến 1975, ông Nguyễn Xuân Phong đã giữ nhiều chức vụ quan trọng trong chính phủ VNCH và biết nhiều bí mật dẫn đến việc mất Miền Nam. Trong thời gian hòa đàm Ba Lê về Việt Nam, từ địa vị thành viên phái đoàn lúc ban đầu, ông đã trở thành Trưởng Phái Đoàn vào giai đoạn cuối cùng, với chức vụ Quốc Vụ Khanh đặc trách hòa đàm trong chính phủ. Đặc biệt, ông cũng là nhân vật quan trọng trong Hội Nghị Thượng Đỉnh của nguyên thủ 7 quốc gia Châu Á Thái Bình Dương tại Manila vào 2 ngày 24 & 25 tháng 10, 1966, nhằm thẩm định về cuộc chiến ở Nam Việt Nam với sự tham dự của Tổng thống Phi Luật Tân, Ferdinand E. Marcos; Tổng thống Đại Hàn, Park Chung Hee; Tổng thống Hoa Kỳ, Lyndon B. Johnson; Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo VNCH, Nguyễn Văn Thiệu; Thủ tướng Úc Châu, Harold Holt; Thủ tướng Tân Tây Lan, Keith Holyoake; Thủ tướng Thái Lan, Thanom Kittikachorn; và Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương VNCH, Nguyễn Cao Kỳ. Tại Hội Nghị, ông là người Việt Nam duy nhất được trực tiếp nghe trưởng phái đoàn Nam Hàn cho biết: Tổng thống Nam Hàn đã cảnh giác, [qua kinh nghiệm cuộc chiến tranh Cao Ly] nếu như hòa đàm [với VC] có xảy ra, chính phủ Sài Gòn sẽ thấy Mỹ thương thuyết thẳng với phía bên kia [VC], còn Sài Gòn chẳng nói năng gì được trong khi thương thuyết, và cuối cùng sẽ phải chấp nhận và tuân hành những gì Mỹ và VC ký kết. Quả nhiên, 6 năm sau, lời tiên đoán này đã trở thành sự thật tại Hội Nghị Ba Lê, dẫn đến bản Hiệp Định đầy phi lý, khi Mỹ toa rập với VC cho phép quân đội xâm lăng VC được tiếp tục hiện diện trên lãnh thổ VNCH, dẫn đến thảm kịch 30-4-75. Trong những số trước, SGT đã giới thiệu một số chương trong tác phẩm  "Hope and Vanquished Reality", được ông viết theo yêu cầu của "The Center for A Science of Hope" ở New York. Nay do yêu cầu của đông đảo độc giả, chúng tôi xin giới thiệu tiếp một số chương quan trọng trong tác phẩm của ông.

*

(Tiếp theo...)

Vào những ngày cuối cùng của tháng Tư năm 1975, mọi người đều có hy vọng, cách này hay cách khác. Nhưng, lúc đó từ Sài Gòn đến Hoa Thạnh Đốn mỗi người hy vọng với một mục đích khác nhau, vì có những ý định khác nhau, của ông Thiệu, ông Hương, và "Minh Lớn", của Gerald Ford và Kissinger, của Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai, của Leonid Brezhnev, của Giscard d'Estaing, và của nhiều người khác nữa đã từng liên hệ đến số phận của chính phủ một nước nằm về phía Nam của Việt Nam, mang danh hiệu Việt Nam Cộng Hòa. Thế là, trước hơn hết, người ta hy vọng có mục đích, nhưng nhiều phe phía lại có nhiều mục đích khác nhau.
Hồi mùa xuân 1975, mục đích hàng đầu, đáng quan tâm và đáng kể hơn hết, là mục đích của Hoa Kỳ - không phân biệt bồ câu hay diều hâu, tướng lãnh hay chính khách, tổng thống hay quốc hội, giáo sư đại học thông thái hay trùm tư bản. Sau cùng và thực ra, đó là ý muốn và mục đích hoàn toàn xuất phát từ nhân dân Mỹ và có lợi cho họ mà thôi. Có một cuộc "Chiến Tranh của Mỹ ở Việt Nam" nhưng Mỹ không thua mà cũng chẳng thắng ở Việt Nam. Thực ra thì có một cuộc "Chiến Tranh Việt Nam ở Hoa Kỳ", bị nhân dân Hoa Kỳ làm cho thất bại, chưa phải là trăm phần trăm nhưng cũng phần nào.
Mục đích của hy vọng mang tính cách riêng tư và cá biệt, nhưng hy vọng với mục đích có ý nghĩa và hợp lý thì người ta dễ hy vọng hơn. Mục đích cần phải có nội dung được mọi người chấp nhận để có thể biến thành hy vọng, một thứ hy vọng có khả năng tồn tại lâu dài, và như thế may ra mục đích mới có thể chiếm ưu thế và đem lại ý nghĩa cho hy vọng.

"Mỹ cút, Nguỵ nhào"

Hồi đầu năm 1975, nhiều người khó hiểu tại sao không một ai ở Hoa Thịnh Đốn chịu tìm phương cách để cứu vãn Việt Nam Cộng Hòa, hoặc nói lên một tiếng nào để cho "Trận Đánh Sài Gòn" dễ sợ không xảy ra. Dù sao, thành phố Sài Gòn cũng ít chứng kiến những cuộc đánh nhau với địch quân hơn là trông thấy cảnh chạm súng qua nhiều cuộc đảo chính thời chế độ Sài Gòn trước kia.
Không đủ khả năng ngăn chặn Sài Gòn sụp đổ, thực sự không phải vì quân lính Việt Nam Cộng Hòa yếu kém hay súng ống đạn dược thiếu hụt. Cả hai yếu tố đó đều dư thừa để có thể chống trả một cách thoải mái trong vòng mấy tháng. Tuy nhiên, vào mùa xuân 1975 giờ tính sổ của lịch sử đã đến. Một thời điểm để cho chuyên viên của hai phe lâm chiến ở Việt Nam đối chiếu thực tế và kiểm nghiệm xem những ý niệm và lý thuyết của họ về tự do và dân chủ, về chủ nghĩa quốc gia và độc lập, về chủ quyền và hòa bình thế giới có giá trị gì không.
Dĩ nhiên, thanh lý chiến tranh là một vấn đề vô cùng khó xử đối với các cấp lãnh đạo ở Hoa Thịnh Đốn cũng như ở Sài Gòn. Nhưng điều đó lại làm cho các ủy viên bộ chính trị Hà Nội ngạc nhiên không ít, vì từ hai thập niên qua họ đã mong muốn Hoa Kỳ ngưng can thiệp vào Việt Nam.


Dưới thời ông Diệm, dân chúng nông thôn ở trong những "ấp chiến lược", không khi nào biết được là mình đích thực bị giam lỏng hay bị ngăn cách với phần còn lại của đất nước. Vì thế cho nên Hà Nội và quân lính cộng sản ở Nam Việt Nam không chú trọng mấy đến những người lính quân dịch non trẻ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và không cho đó là một vấn đề. Họ quan tâm đến việc Hoa Kỳ can thiệp ở đó.
Nhưng Sài Gòn và Hoa Thịnh Đốn lại cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là một yếu tố chủ yếu, được ghi vào những phúc trình và các cuộc thảo luận quan trọng về chiến tranh du kích, về quân số, về tương quan lực lượng, về hỏa lực, về bình định và về số thương vong. Nói cách khác, nhờ đó mà có những con số thống kê để đưa ra trình bày ở "Four O'Clock Follies" - phiên họp báo hàng ngày vào lúc 16g của quân đội Mỹ tại Sài Gòn - một hoạt cảnh chán ngấy, được diễn ra mỗi ngày, dành cho báo chí quốc tế ở Sài Gòn.
Tổng Thống Johnson cũng chỉ thị cho Bộ Ngoại Giao tổ chức những phiên họp báo hàng ngày tương tự để cho dân chúng Mỹ biết được những diễn tiến tốt đẹp của chiến dịch mưu tìm tự do và dân chủ ở Nam Việt Nam. Cũng may mà Hiệp Định Ba Lê năm 1973 đã hạ màn chấm dứt những vở diễn đó, và dân chúng Hoa Kỳ không còn phải nghe những câu chuyện dễ sợ xuất phát từ đó. Dân chúng Mỹ đương nhiên vẫn tin tưởng ở lý tưởng cao cả về tự do và tiến bộ nhưng càng ngày càng ít quan tâm đến ý niệm coi Nam Việt Nam là "Tiền Đồn Thế Giới Tự Do" ở Đông Nam Á. Hoa Kỳ đã trở lại với quan niệm sơ khởi, thời Tổng Thống Kennedy, muốn cho người Nam Việt Nam có thể tự vệ mà không cần quân lính Hoa Kỳ hỗ trợ. Nhưng đâu phải đơn giản.
Thiên hạ thường tự hỏi không biết John F. Kennedy có thể nào gửi quân chiến đấu Hoa Kỳ sang Nam Việt Nam hồi 1962, thay vì gửi "cố vấn", khi Việt Cộng gia tăng mạnh mẽ chiến tranh với sự tham dự của Bắc Việt Nam hay không. Về sau, Tổng Thống Nixon than phiền là Tổng Thống Kennedy đã mở màn cho tình trạng hỗn loạn ở Việt Nam và không chịu làm gì để ngăn ngừa cuộc ám sát Tổng Thống Diệm. Tôi nghĩ rằng JFK không làm cho Hoa Kỳ phải chi ra hàng tỷ Mỹ kim và đưa nửa triệu quân Mỹ vào Nam Việt Nam, và rất có thể ông tìm cách thương thuyết với Hồ Chí Minh để gở rối, dù cho chính phủ "không cộng sản" thay vì "chống cộng" ở Sài Gòn phải gánh chịu hết. Hà Nội có thể chấp thuận giải pháp đó, mà cũng có thể không, vì lúc bấy giờ cuộc chiến chưa quyết liệt. Như vậy thì rất có thể phải đi đến một giải pháp quân sự, và Hoa Thịnh Đốn cũng gặp trường hợp khó xử như thế.
Một cuộc dàn xếp ôn hòa với Hồ Chí Minh cũng có thể đặt Tổng Thống Kennedy vào thế đối nghịch lại với phe diều hâu và CIA, là những thành phần nồng cốt trong việc đưa ông Ngô Đình Diệm lên ghế tổng thống Việt Nam Cộng Hòa và rất mong muốn lưu giữ ông lại. Tuy nhiên, phải nhìn nhận là Tổng Thống Nixon đã có công đưa toàn bộ quân lính Hoa Kỳ ở Nam Việt Nam về trong nhiệm kỳ đầu của ông (theo báo cáo của Bộ Quốc Phòng thì hồi tháng Ba năm 1969, con số đó lên đến 541.000), và với chính sách "Việt Nam hóa" chiến tranh, ông đã đưa mức thương vong của lính Mỹ xuống mức tối thiểu. Vào lúc ký kết Hiệp Định Ba Lê hồi tháng Giêng 1973, còn 25.000 binh sĩ Mỹ ở Nam Việt Nam phải đưa về. Hồi tháng Giêng 1975, Hoa Thịnh Đốn bị bắt buộc phải theo đuổi hy vọng của John F. Kennedy về một Nam Việt Nam "không cộng sản", có khả năng tự vệ, không có sự can thiệp quân sự của Mỹ.
Trong gần hai thập niên, Hà Nội đã áp dụng chiến thuật du kích để chống lại Hoa Kỳ, nhưng trong lần chạm trán cuối cùng với Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, họ lại vận dụng chiến tranh quy ước truyền thống và cổ điển. Người Việt Nam mà đánh du kích chống lại người Việt Nam khác thì thật là lố bịch. Chiến tranh du kích mà không còn quân lính ngoại quốc ở Nam Việt Nam là chỉ mất thời gian một cách vô lý. Thế nên, tướng Giáp và tướng Dũng rất vui mừng tung toàn bộ lực lượng quân sự quy ước chống lại Sài Gòn hồi tháng Ba năm 1975, theo đúng truyền thống của West Point. Rủi thay, các tướng Maxwell D. Taylor, William C. Westmoreland và Creighton W. Abrams không còn ở đó nữa.
Từ khi ký kết Hiệp Định Ba Lê hồi tháng Giêng năm 1973, quân nhân cao cấp của Sài Gòn đã được ưu đãi. Ông Thiệu có thể đã cho họ biết rằng tổng thống Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ có đưa ra lời "cam kết" thành văn long trọng, là bảo đảm an ninh cho Việt Nam Cộng Hòa. Viên thuốc ngủ đã có tác dụng khá tốt gần hai năm. Nhưng giờ thì đã đến lúc phải tỉnh giấc để nhìn sự thực. Khi tình hình thoái hóa nhanh chóng ở Cao Nguyên và những vùng khác, ông Thiệu đã nhiều lần yêu cầu Hoa Thịnh Đốn hỗ trợ quân sự, dù cho chỉ bằng phương tiện trên không. Khi Hoa Thịnh Đốn từ chối không chịu hành động thì các tướng lãnh của Sài Gòn hoàn toàn không biết nghĩ thế nào. (Còn tiếp... (Còn tiếp...)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Hoan hỷ chào nhau cầu xưa quá bước Dặm đường im kẽ tóc với chân tơ Tan hợp cười òa. Kia vòm mây trắng Và bắt đầu. Và chấm hết. Sau xưa… . 4.2021 (Gửi hương linh bạn hiền Nguyễn Lương Vỵ, lễ 49 ngày)
Trong mọi hoàn cảnh Anh vẫn không ngừng hoạt động, Anh vẫn cứ đứng ở ngoài nắng - chữ của Mai Thảo. Với tôi, Nhật Tiến - Én Nhanh Nhẹn RS, vẫn cứ mãi là một Tráng Sinh Lên Đường
Lời dịch giả: Đây là bức tâm thư của cựu tổng thống George W. Bush gởi người dân Mỹ trong lúc cả nước đang sôi sục sau cái chết của George Floyd.
NYC với mình như căn nhà thứ hai, thế mà đã hơn một năm rồi mới lên lại. Thường thì hay lên mùa Giáng Sinh, hay Tháng Hai mùa đông để coi tuyết ở Central Park, và tháng Mười Một để coi lá vàng. Lần nầy chỉ mới tháng ba, nhưng có lý do
Xúc động với kỷ niệm. Thơ và nhạc đã nâng cảm xúc về những cái đẹp mong manh trong đời... Đêm Nhạc Người Về Như Bụi, và buổi ra mắt Tuyển Tập 39 Văn Nghệ Sĩ Tưởng Nhớ Du Tử Lê đã hoàn mãn hôm Thứ Ba 14/1/2019.
chiều rớt/xanh/ lưỡi dao, tôi khứng! chờ ... mưa tới. Hai câu cuối trong bài “chiều rớt/xanh/lưỡi dao” anh viết cuối tháng 9/2019 như một lời giã biệt. Và, cơn mưa chiều 7.10.2019 đã tới, anh thay áo mới chân bước thảnh thơi trở về quê cũ. Xin từ biệt anh: Du Tử Lê!
trong nhiều năm qua, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng ở mức hai con số, nhưng tỷ lệ quay trở lại thấp (chỉ từ 10% đến 40%) . Chi tiêu của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam không cao
Theo bảng xếp hạng chỉ số cảm nhận tham nhũng của Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế năm 2018, Việt Nam đứng hạng 117/ 180 với mức điểm 33/100. Bao giờ mà chế độ hiện hành vẫn còn tồn tại thì “nạn nhũng nhiễu lạm thu” sẽ vẫn còn được bao che và dung dưỡng khắp nơi, chứ chả riêng chi ở Bộ Ngoại Giao
Chính phủ Hoa Kỳ đã hứa tài trợ 300 triệu đô la để làm sạch môi trường bị nhiễm chất độc da cam của phi trường Biên Hòa và hôm 5 tháng 12 là bắt đầu thực hiện việc tẩy rừa tại khu vực này, theo bản tin hôm 6 tháng 12 của báo Tuổi Trẻ Online cho biết như sau.
Hơn 1.000 người có thể đã bị giết bởi lực lượng an ninh ở Iran trong các cuộc biểu tình gần đây, theo một quan chức cấp cao của bộ ngoại giao cho biết hôm Thứ Năm
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.