Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
EagleBrand-Vietbao-1230x152-12042022-viet

Kinh Tế Châu Á Hồi Phục Nhanh Hơn Dự Kiến

19/08/200900:00:00(Xem: 5099)

Kinh tế Châu Á hồi phục nhanh hơn dự kiến
Nguyễn Xuân Nghĩa - Mai Vân (RFI) ngày 18/08/2009

...nên nâng cao tỷ giá đồng bạc so với đô la Mỹ...
Các số liệu kinh tế của quý hai năm 2009 cho thấy là các nền kinh tế châu Á đang vực dậy mạnh mẽ. Theo chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa tại Hoa Kỳ, để duy trì đà hồi phục, các nước châu Á phải ngăn chặn hiện tượng bong bóng đầu cơ và nhất là tìm ra đầu máy tăng trưởng ngay trong thị trường nội địa của mình.
Theo số liệu tăng trưởng quý hai năm 2009 lần lượt được công bố trong những ngày qua, các quốc gia trong vùng châu Á cho thấy đà hồi phục khá ngoạn mục. Theo tính toán của tuần báo kinh tế Anh The Economist (số đề ngày 15/08/2009), so với quý một, GDP của Trung Quốc tăng đến 15%, Hàn Quốc lên gần 10%, Singapore nhảy vọt với mức 21%, còn Indonesia chậm hơn, nhưng cũng đạt 5%. Ngay cả Nhật Bản, vào hôm qua Thứ Hai, cũng thông báo ra khỏi suy thoái với tỷ lệ tăng trưởng quý hai là 0,9%. Tính theo mực độ cả năm, thì tăng trưởng các quốc gia nói trên có thể hơn 10%.
Theo nhận định của các chuyên gia kinh tế thì các nước khác, dù chưa thông báo kết quả, nhưng chắc chắn cũng tăng trưởng trở lại, và tỷ lệ dự kiến chung cho cả Châu Á sẽ là hơn 5% cho năm nay. Tình hình hiện nay trái ngược hẳn với thời kỳ cuối quý 1 vừa rồi, khi nhiều nước còn chìm trong suy thoái, với mức xuất khẩu tuột giảm chưa từng thấy. Từ giữa tháng 9 /2008 cho đến tháng 3/2009, GDP của các quốc gia như Malaysia, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Thái Lan, và kể cả lãnh thổ Hong Kong, tính theo mực độ cả năm, đã giảm trung bình 13%. 
Sự vực dậy ngoạn mục của các nền kinh tế đang vươn lên ở châu Á trong quý hai cũng trái hẳn với tình hình tại các nước công nghiệp phát triển, như trong nhóm G7. Theo tính toán của các chuyên gia, sẽ không có nước đã phát triển nào hồi phục được với mức độ như tại châu Á, GDP của nhóm G7 chẳng hạn, vẫn sẽ còn giảm sụt năm nay, dự kiến với tỷ lệ trừ - 3,5%.
Sự vươn lên của kinh tế Châu Á đã gây ngạc nhiên không ít. Tạp chí kinh tế The Economist đã nêu câu hỏi làm thế nào mà Châu Á vươn lên nhanh như thế, trong bối cảnh mà các nền kinh tế này lệ thuộc vào xuất khẩu, và các đối tác truyền thống Âu Châu và Hoa Kỳ, tuy có triển vọng thấy ánh sáng cuối đường hầm vào cuối năm nay hoặc đầu năm tới, nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, chưa nối lại với mức tiêu thụ và nhập khẩu trước đây.
Trong số những nguyên nhân quan trọng mà giới chuyên gia kinh tế đã nêu lên để giải thích đà phục hồi nhanh chóng của các nước Châu Á, trước hết có sự kiện hệ thống tài chính khu vực Châu Á lành mạnh hơn các đối tác Âu Mỹ. Châu Á đã thừa hưỏng thành quả của các biện pháp chấn chỉnh sau khi bị cuộc khủng hoảng tài chánh châu Á những năm 97-98 tác hại nặng nề.
Nguyên nhân thứ hai là các kế hoạch kích thích kinh tế, thúc đẩy tiêu thụ trong nước được ban hành trong khu vực, và đã bắt đầu mang lại hiệu quả. Theo ghi nhận của The Economist, các kế hoạch kích cầu của Châu Á có trị giá lớn hơn rất nhiều so với những nơi khác.
Trung Quốc chẳng hạn, vào tháng 11 năm 2008, đã loan báo gói kích thích kinh tế 4000 tỷ yuan, tức là khoảng 585 tỷ đô la. Ở một quy mô khiêm tốn hơn, Thái Lan, vào tháng sáu vừa qua, cũng thông qua một gói kích cầu mới lên đến 800 tỷ baht, tức là khoảng 23 tỷ đô la.
Giải thích vì sao các kế hoạch kích thích kinh tế ở châu Á lại sớm đạt hiệu quả, tạp chí The Economist đã nêu bật một yếu tố: đó là vì các hộ gia đình trong khu vực không bị nợ chồng chất như ở châu Âu hay Hoa Kỳ, vì thế những khoản trợ giúp của nhà nước được mang ra chi tiêu ngay chứ không phải là dùng để tiết kiệm.
Câu hỏi đặt ra là đà phục hồi nhanh chóng hiện nay ở châu Á có vững chắc hay không. Trở lại với tình hình Nhật Bản, tuy có thể tạm thời thở phào nhẹ nhõm với số liệu khả quan trong quý hai, nhưng thời gian tới, nước này chưa thể khẳng định là triển vọng sẽ tươi sáng thêm : đầu tư trong quý hai đã giảm hơn 4% và sẽ tiếp tục giảm, thất nghiệp vẫn ở mức rất cao đối với Nhật, 5,4%, và đã tăng như thế với mức 30% trong vòng một năm.
Trả lời phỏng vấn RFI, chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa tại California phân tích thêm về sự phục hồi kinh tế tại châu Á hiện nay cũng như về khả năng đà vực dậy đó bền vững như thế nào.
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Nói về bối cảnh chung thì giới nghiên cứu kinh tế thế giới ưa phân biệt một bên là các nền kinh tế đã công nghiệp hoá, như Hoa Kỳ, Tây Âu và Nhật Bản, gọi chung là "thất hùng kinh tế" trong khối G-7, và bên kia các nền kinh tế đang phát triển, hoặc đang lên, như trường hợp các nước Á châu ngoài Nhật. Tôi xin được gọi các nền kinh tế mới phát triển đó là "tân hưng". Trước khi xảy ra nạn suy thoái toàn cầu vào năm ngoái, các nước Á châu đó đã có tốc độ tăng trưởng bình quân từ 5 đến 8% một năm so với đà tăng trưởng thật ra rất thấp, chỉ bằng một phần ba, của các nền kinh tế đã bước qua giai đoạn gọi là "hậu công nghiệp".
- Bây giờ, khi kinh tế Hoa Kỳ đã đụng đáy và bật dậy, tại Âu Châu, kinh tế Đức và Pháp cũng có chỉ dấu phục hồi, Nhật Bản cũng thế như thống kê hôm Thứ Hai 17 vừa cho thấy, thì người ta đặc biệt chú ý tới các nước tân hưng châu Á vì đà tăng trưởng rất cao của các nước này so với hy vọng dù sao còn mong manh của ba đầu máy công nghiệp hóa là Mỹ, Tây Âu và Nhật. Nếu muốn tìm hiểu vì sao châu Á lại sớm ngoi lên khỏi đáy vực suy thoái ấy, có lẽ ta phải trở về nguyên ủy là vì sao châu Á lại bị kéo vào nạn suy sụp từ năm ngoái"
Mai Vân: Người ta còn nhớ là vào năm 2007, khi kinh tế Hoa Kỳ và Châu Âu bắt đầu đình trệ, giới phân tích đã nói đến hiện tượng tách rời, Pháp ngữ gọi là 'découplage' của các nền kinh tế đang vươn lên tại Á Châu, mà anh gọi là ''tân hưng'', nghĩa là kinh tế Châu Á có định mệnh riêng và hết bị ràng buộc vào đà tăng trưởng các nền kinh tế Âu Mỹ hay Nhật Bản. Tuy nhiên, rốt cuộc thì Châu Á vẫn bị vạ lây. Bây giờ, nếu các nước Châu Á đã bật dậy sớm và mạnh như thế thì có phải là do tiềm lực riêng của họ như một sô" chuyên gia đã nêu lên hay không "
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Đúng như thế nếu ta nhìn sâu hơn vào quá khứ. Hơn 10 năm về trước, khủng hoảng tài chính đã bùng nổ tại Đông Á và lan thành khủng hoảng kinh tế trong toàn khu vực rồi tác động ra toàn cầu. Sau vụ khủng hoảng thời 1997-1998 ấy, các nước Á châu rút tỉa bài học và chấn chỉnh hệ thống tài chính ngân hàng, như trường hợp Indonesia hay Malaysia, cải tổ cơ chế kinh tế như Hàn Quô"c, hoặc từ bỏ chiến lược phát triển chủ yếu nhờ xuất khẩu như trường hợp Thái Lan. Nhờ vậy mà lần này dù họ có bị hiệu ứng của nạn suy sụp kinh tế của nhóm G-7, thật ra không đến nỗi nặng để trôi vào khủng hoảng. Cũng cần nói thêm là Indonesia hay Thái Lan thật ra không bị ảnh hưởng của nạn suy thoái toàn cầu bùng nổ từ năm ngoái. Vì thế, nếu các nước tân hưng châu Á có hồi phục nhanh thì cũng vì lý do tiềm ẩn sâu xa.


Mai Vân: Ngoài lý do xuất phát từ khủng hoảng trước như anh vừa nêu, anh còn thấy lý do nào khác, cụ thể như các kế hoạch kích cầu các quốc gia Châu Á, đặc biệt là của Trung Quốc như người ta thường nhắc đến, hay của Việt Nam "
Nguyễn Xuân Nghĩa : - Nhân tố kích cầu bằng tăng chi ngân sách hoặc bơm tiền vào kinh tế qua ngả tín dụng cho vay thật ra cũng có, nhưng chính vì vậy mà ta lại e ngại về tiềm lực tăng trưởng trong sự ổn định vật giá sau này. Chúng ta sẽ trở lại chuyện ấy khi nói về tương lai.
- Ngoài việc học hỏi kinh nghiệm khủng hoảng lần trước để cải cách cơ chế, các nền kinh tế tân hưng thật ra đã phát triển mạnh nhờ công nghiệp chế biến với tỷ trọng rất cao trong hệ thống sản xuất. Mà khu vực công nghiệp ấy, thí dụ dễ hiểu như ráp chế xe hơi hoặc máy điện toán, lại thường thăng giáng theo chu kỳ kinh doanh, tức là có sút giảm một cách định kỳ. Rồi cũng định kỳ thì sau khi suy giảm tất nhiên lại tăng.
- Nguyên nhân thứ hai là khi kinh tế Âu-Mỹ bị suy thoái thì thị trường tài trợ xuất nhập khẩu bị đóng băng cùng nạn ách tắc tín dụng. Á châu có bị vạ lây vì chuyện đó, nhưng tình trạng ấy nay đã hết cho nên bây giờ tài hóa lưu thông mạnh hơn.
- Chuyện thứ ba, như cô vừa hỏi, là các biện pháp tăng chi để kích cầu quả thật đã nâng mức tiêu thụ nội địa khá nhanh và nhiều. Mà vì vụ khủng hoảng lần trước, cơ cấu vĩ mô của các nền kinh tế này tương đối đã quân bình lành mạnh hơn, cụ thể là ít bị bội chi ngân sách hoặc khiếm hụt chi phó. Nhờ đó, họ dám mạnh tay bơm tiền vào kinh tế, ít ra là mạnh hơn nhiều nước Âu Châu. Trong quần chúng hay ngoài thị trường cũng thế, người dân và doanh nghiệp có mức tiết kiệm cao hơn, vay mượn ít hơn trường hợp Hoa Kỳ, nhờ vậy mà bây giờ ngân hàng, doanh nghiệp và công chúng có thể vay mượn hoặc tiêu xài dễ dàng hơn và kéo nền kinh tế ra khỏi sự suy sụp nhanh hơn...
Mai Vân: Theo anh, triển vọng của châu Á sẽ ra sao, đà vực dậy vừa ghi nhận có bền vững hay không "
Nguyễn Xuân Nghĩa : - Người ta nghiệm thấy một hiện tượng là liều thuốc chữa trị áp dụng ngày nay để giải quyết vấn đề của hôm qua có khi lại gây vấn đề cho ngày mai. Đấy là một nguy cơ đáng kể.
- Trung Quốc và Việt Nam chẳng hạn đã mạnh tay kích cầu kinh tế bằng cách bơm thêm tín dụng ngân hàng vào kinh tế nhờ vậy mà nâng mức tiêu thụ và đẩy mạnh sản xuất. Nhưng, hậu quả cũng là thổi lên trái bóng đầu cơ trên thị trường cổ phiếu hay bất động sản là điều đã xảy ra. Kế tiếp sẽ là nguy cơ lạm phát. Nhiều xứ khác tại Á châu cũng đã thấy mối nguy này manh nha.
- Nguy cơ thứ hai nằm trong mối quan hệ kinh tế với các nước khác, chủ yếu là Hoa Kỳ. Vì dốc sức đẩy mạnh xuất cảng để ra khỏi suy trầm, các nước này thường giữ tỷ giá ngoại hối, tức là hối suất đồng bạc, rất thấp so với đồng Mỹ kim để bán hàng cho rẻ. Mà vì nạn suy thoái tại Mỹ, Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ đã hạ lãi suất cơ bản tới số không và còn in bạc bơm tiền vào kinh tế với một khối lượng lớn lao chưa từng thấy. Đâm ra, các nước tân hưng Á châu lại giàng trị giá đồng bạc của họ vào quyết định tiền tệ của Ngân hàng Trung ương Mỹ. Nói cho dễ hiểu, người ta cho con bệnh kinh tế uống thuốc bổ theo toa thuốc của bác sĩ Mỹ chứ không xây dựng nội lực riêng để có thể tăng trưởng một cách tự tại. Kết cuộc thì khi biện pháp kích cầu chấm dứt, thuốc bổ không còn thì sinh hoạt kinh tế sẽ lại giảm mạnh. Đó là câu trả lời về tiềm năng bền vững hay không.
Mai Vân: Nếu như vậy thì các nước đang vươn lên của Châu Á có thể, hoặc là nên làm gì để giữ được tốc độ tăng truởng bền vững, ổn định"
Nguyễn Xuân Nghĩa : - Thứ nhất là đừng thổi lên bong bóng đầu cơ nhờ tiền nhiều và rẻ như đã xảy ra tại Hoa Kỳ và đang xảy ra tại Trung Quốc. Thứ hai, phải tìm ra đầu máy tăng trưởng ngay trong thị trường nội địa của mình, nhất là khi có dân số đủ cao như trường hợp Việt Nam, thay vì coi xuất khẩu là chính. Muốn vậy, họ nên nâng cao tỷ giá đồng bạc so với đô la Mỹ, là biện pháp đáp ứng cả hai yêu cầu.
- Nhờ biện pháp hối đoái ấy, họ sẽ nâng lợi tức của người dân, khuyến khích sản xuất cho thị trường trong nước và giảm bớt hiệu ứng tai hại từ thị trường quốc tế để có được một đà tăng trưởng tự tại bền vững hơn. Chúng ta đang gặp một hiện tượng đáng ngại là mâu thuẫn giữa hai mục tiêu ngắn hạn và trường kỳ. Vì mục tiêu kích cầu trong ngắn hạn mà sẽ lại gây thất quân bình trong trường kỳ. Mục tiêu trường kỳ không thể là kích thích số cầu mà nâng số cung, là đẩy mạnh khả năng cung cấp và sản xuất với hiệu năng cao hơn.
Mai Vân: Trường hợp của Nhật, tuy có thấy chút ánh sáng hiện nay, nhưng nhận định chung thì sự vực dậy có thể không bền, anh có thấy như vậy hay không, và đây phải chăng chỉ là trường hợp cá biệt của Nhật "
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Vừa rồi chúng ta mới có thống kê quý hai về kinh tế Nhật, với tăng trưởng đạt 3,7%. Đó là một trường hợp gọi là độc đáo, nhưng theo tôi, nếu quy ra toàn năm thì tỷ lệ sẽ thấp hơn như vậy. Thứ hai nữa, nó là kết quả của một quý thôi, do nhờ xuất khẩu mạnh qua Trung Quốc. Tôi nghĩ là qua quý ba, kinh tế của Nhật vẫn có đà tăng trưởng thấp, và tình trạng khó khăn của Nhật sẽ còn kéo dài.
- Cái điều tai hại đó là đảng Dân chủ có thể là thắng cử mà vẫn không có một đa số đủ mạnh, thành ra hệ thống chính trị sắp tới, vẫn còn bấp bênh, và điều đó nó cho thấy khó khăn lâu dài ngay trong cấu trúc của Nhật, và có thể đưa quốc gia này vào khó khăn dài lâu.
- Đó là trường hợp cá biệt Nhật Bản, vì cơ cấu chính trị của họ đặt quá nặng vào sự ổn định mà không dám cải cách như nhiều quốc gia khác. Vấn đề còn sâu xa hơn là cơ cấu về dân số bị lão hoá, thành phần cao niên ngày càng nhiều, thành phần có khả năng sản xuất ngày càng ít. Đà gia tăng năng suất bằng kỹ thuật chưa bù đắp được cho sự yếu kém trong cơ cấu về dân số của Nhật.
Mai Vân: Như anh vừa nói, Nhật đã nhờ cậy được vào việc xuất khẩu sang Trung Quốc. Như vậy phải chăng các kế hoạch kích cầu ở Châu Á hỗ trợ lẫn nhau giữa các nước, và đó là một thị trường có thể cạnh tranh với các thị trường cổ điển Châu Âu và Châu Mỹ "
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa nó phản ảnh hai chuyện. Thứ nhất, kế hoạch kích cầu gần bằng 600 tỷ đô la Mỹ ở Trung Quốc đã thổi lên một mức cầu rất lớn ở thị trường Trung Quốc, và nhờ đó nó giúp cho thị trường của Nhật. Chuyện thứ nhì là các nước Á Châu, buôn bán với nhau nhiều hơn và khi họ có thể đạt được mức tăng trưởng cao như vậy thì dần dần họ lệ thuộc ít hơn vào các nền kinh tế Tây Phương, các thị trường Âu Mỹ.
Đài RFI xin cám ơn chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa đã trả lời phỏng vấn của chúng tôi.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Một phong trào biểu tình chống chế độ và chống Xi, do dân chúng và phần đông giới trẻ, sinh viên các Đại học, phát động hôm 24/11/22, nhiều người cho là lớn nhứt từ 33 năm nay. Dân chúng các thành phố lớn, sinh viên từ nhiều Đại học xuống đường tố cáo biện pháp ác ôn « Zéro Covid » của Xi chống dịch Vũ Hán là giết người, trong lúc thế giới cũng chống dịch nhưng không ai làm như vậy...
Coi như là hết thuốc! Bây giờ thì tôi hiểu thế nào là một nhà tù lớn. Tuy không có chấn song nhưng kẻ ở bên trong cũng hoàn toàn bị cắt đứt mọi liên lạc với thế giới bên ngoài...
Đến hôm nay thứ sáu 2 tháng 12 giải túc cầu thế giới năm 2022 đã đi được nửa đoạn đường. Cũng như bất kỳ một cuộc tranh đua thể thao nào phải có kẻ thắng người thua. Kẻ thắng thì vui mừng hớn hở vì đã đem lại vinh quang cho xứ sở và dân tộc mình. Kẻ thua thì viện lý do nầy hay lý do khác vì mình đã bị xử ép để tránh sự chỉ trích của những người hâm mộ. Nhưng đó là những sự kiện thường tình lúc nào cũng xẩy ra.
Bài này sẽ phân tích về một số ý chỉ trong hai hội đầu trong Cư Trần Lạc Đạo Phú của Vua Trần Nhân Tông (1258-1308), người sáng lập dòng Thiền Trúc Lâm. Bài phú này có 10 phần, chữ xưa gọi là 10 hội, chỉ ra đường lối của Thiền Trúc Lâm.
Một người nghĩ rằng, người kia làm chuyện lầm lỗi, vì muốn chống đối, người này làm chuyện có lỗi để gây tiếng vang, phản đối lại sự lầm lỗi của người kia. Vậy thì ai có lỗi? Và lỗi nào nặng hơn? Có lẽ, bạn đọc nghĩ rằng, tôi đang muốn nói về chuyện luật tử hình. Lý luận này: một kẻ cố ý giết người, hoặc giết nhiều người, cần phải đền tội bằng cái chết. Mắt đền mắt. Răng đền răng. Đúng và hữu lý. Nhưng lý luận kia: Trong xã hội văn minh, trừng phạt là thứ yếu, giáo dục, cải thiện người xấu trở thành tốt mới là mục tiêu nhân bản. Người phạm tội, có quyền được hưởng, ít nhất, một cơ hội để hối lỗi, để trở thành người tốt hơn. Cả hai lý luận đều đúng. Có lý luận thứ ba: Giết người là có tội, dù là lý do gì, ngoại trừ phải tự vệ trong tình trạng khẩn cấp. Như vậy, khi tòa án kết tội tử hình, chính tòa án (luật pháp, thẩm phán, và công tố viên) đã phạm tội giết người.
Dư âm cuộc cách mạng Mùa Xuân Ả Rập năm 2010 ở Trung Đông, Bắc Phi châu và sự tan rã của Thế giới Cộng sản ở Nga năm 1992, đang là mối lo hàng đầu của đảng CSVN, sau hơn 35 năm đổi mới. Dưới lăng kính bảo vệ an ninh quốc gia, nhà nước Cộng sản Việt Nam (CSVN) coi mọi phản ứng của dân trong cuộc sống, kể cả các hoạt động đòi dân chủ, tự do và nhân quyền v.v… đều là “diễn biến hòa bình” nhằm phát triển “cách mạng mầu” để lật đổ đảng CSVN...
Cuộc chiến hiện nay tại Ukraine, chẳng cần nói nhiều, đã là một bài học rất lớn cho Hoa Kỳ, và có lẽ nó sẽ được dùng làm chuẩn mực cho những xung đột trong tương lai giữa Hoa Kỳ và các thế lực thù địch trên thế giới...
Vậy bằng cách nào mà cuốn tạp chí BK, số cuối cùng (phát hành vào ngày 20 tháng 4 năm 1975) đã không bị ném vào mồi lửa, không trở thành giấy gói xôi, không bị thu hồi, tịch thu, tiêu hủy” và vẫn có thể xuất hiện “nguyên con” trên trang web của Tạp Chí Thế Kỷ 21 vào ngày 2 tháng 4 năm 2017? Đây là câu hỏi mà qúi vị lãnh đạo của chính phủ hiện hành ... cần “suy ngẫm” để có thể ban hành những nghị quyết, hay nghị định đỡ ngớ ngẩn (và lạc hậu) hơn chút xíu...
✱ Reuters: Nga đang hy vọng rằng đảng Cộng hòa kiểm soát Quốc hội - Chính quyền Biden sẽ gặp khó khăn trong việc thúc đẩy Quốc hội thông qua các chương trình viện trợ cho Kyiv. ✱ Military: Các nhà vận động hành lang làm việc cho các nhà thầu quốc phòng, đã từng làm việc cho chính phủ liên bang trước đây - cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mark Esper đã từng làm việc văn phòng quan hệ chính phủ của Raytheon. ✱ Al Jazeera: Nhiều dự luật trong quá khứ, đã được Hạ viện và Thượng viện thông qua trong nhiều thập kỷ mà không bị thất bại. ✱ Bilderbergmeetings Co. UK: Chính quyền Biden đã coi Nga và Trung Quốc là đối tác trong thách thức đối với “trật tự thế giới”- Sự cạnh tranh toàn diện với Trung Quốc đang trở thành một nguyên tắc trong các chính sách kinh tế, đối ngoại và an ninh của Hoa Kỳ...
Nhiều người nghĩ ngay đến con số 18 tỷ kiều hối USD chuyển về Việt Nam năm 2021. Đó thật ra không phải là điều nên mất thời gian bàn tính vì đó là một thực thể không thay đổi được. Những người gởi có những lý do riêng không ai lay chuyển được và người Việt trong nước đều muốn nhận những đồng tiền gởi về. Nhưng còn những món tiền khổng lồ khác từ những chương trình viện trợ đủ mọi kiểu cho dân VN từ những chính phủ Âu-Mỹ mà người dân không hay biết, những nguồn tài trợ đã từ lâu bị thất thoát, hoặc cả biến mất mà không ai đặt câu hỏi. Đây là một địa hạt cần soi giọi.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.