Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Kinh Tế Châu Á Hồi Phục Nhanh Hơn Dự Kiến

19/08/200900:00:00(Xem: 4840)

Kinh tế Châu Á hồi phục nhanh hơn dự kiến
Nguyễn Xuân Nghĩa - Mai Vân (RFI) ngày 18/08/2009

...nên nâng cao tỷ giá đồng bạc so với đô la Mỹ...
Các số liệu kinh tế của quý hai năm 2009 cho thấy là các nền kinh tế châu Á đang vực dậy mạnh mẽ. Theo chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa tại Hoa Kỳ, để duy trì đà hồi phục, các nước châu Á phải ngăn chặn hiện tượng bong bóng đầu cơ và nhất là tìm ra đầu máy tăng trưởng ngay trong thị trường nội địa của mình.
Theo số liệu tăng trưởng quý hai năm 2009 lần lượt được công bố trong những ngày qua, các quốc gia trong vùng châu Á cho thấy đà hồi phục khá ngoạn mục. Theo tính toán của tuần báo kinh tế Anh The Economist (số đề ngày 15/08/2009), so với quý một, GDP của Trung Quốc tăng đến 15%, Hàn Quốc lên gần 10%, Singapore nhảy vọt với mức 21%, còn Indonesia chậm hơn, nhưng cũng đạt 5%. Ngay cả Nhật Bản, vào hôm qua Thứ Hai, cũng thông báo ra khỏi suy thoái với tỷ lệ tăng trưởng quý hai là 0,9%. Tính theo mực độ cả năm, thì tăng trưởng các quốc gia nói trên có thể hơn 10%.
Theo nhận định của các chuyên gia kinh tế thì các nước khác, dù chưa thông báo kết quả, nhưng chắc chắn cũng tăng trưởng trở lại, và tỷ lệ dự kiến chung cho cả Châu Á sẽ là hơn 5% cho năm nay. Tình hình hiện nay trái ngược hẳn với thời kỳ cuối quý 1 vừa rồi, khi nhiều nước còn chìm trong suy thoái, với mức xuất khẩu tuột giảm chưa từng thấy. Từ giữa tháng 9 /2008 cho đến tháng 3/2009, GDP của các quốc gia như Malaysia, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Thái Lan, và kể cả lãnh thổ Hong Kong, tính theo mực độ cả năm, đã giảm trung bình 13%. 
Sự vực dậy ngoạn mục của các nền kinh tế đang vươn lên ở châu Á trong quý hai cũng trái hẳn với tình hình tại các nước công nghiệp phát triển, như trong nhóm G7. Theo tính toán của các chuyên gia, sẽ không có nước đã phát triển nào hồi phục được với mức độ như tại châu Á, GDP của nhóm G7 chẳng hạn, vẫn sẽ còn giảm sụt năm nay, dự kiến với tỷ lệ trừ - 3,5%.
Sự vươn lên của kinh tế Châu Á đã gây ngạc nhiên không ít. Tạp chí kinh tế The Economist đã nêu câu hỏi làm thế nào mà Châu Á vươn lên nhanh như thế, trong bối cảnh mà các nền kinh tế này lệ thuộc vào xuất khẩu, và các đối tác truyền thống Âu Châu và Hoa Kỳ, tuy có triển vọng thấy ánh sáng cuối đường hầm vào cuối năm nay hoặc đầu năm tới, nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, chưa nối lại với mức tiêu thụ và nhập khẩu trước đây.
Trong số những nguyên nhân quan trọng mà giới chuyên gia kinh tế đã nêu lên để giải thích đà phục hồi nhanh chóng của các nước Châu Á, trước hết có sự kiện hệ thống tài chính khu vực Châu Á lành mạnh hơn các đối tác Âu Mỹ. Châu Á đã thừa hưỏng thành quả của các biện pháp chấn chỉnh sau khi bị cuộc khủng hoảng tài chánh châu Á những năm 97-98 tác hại nặng nề.
Nguyên nhân thứ hai là các kế hoạch kích thích kinh tế, thúc đẩy tiêu thụ trong nước được ban hành trong khu vực, và đã bắt đầu mang lại hiệu quả. Theo ghi nhận của The Economist, các kế hoạch kích cầu của Châu Á có trị giá lớn hơn rất nhiều so với những nơi khác.
Trung Quốc chẳng hạn, vào tháng 11 năm 2008, đã loan báo gói kích thích kinh tế 4000 tỷ yuan, tức là khoảng 585 tỷ đô la. Ở một quy mô khiêm tốn hơn, Thái Lan, vào tháng sáu vừa qua, cũng thông qua một gói kích cầu mới lên đến 800 tỷ baht, tức là khoảng 23 tỷ đô la.
Giải thích vì sao các kế hoạch kích thích kinh tế ở châu Á lại sớm đạt hiệu quả, tạp chí The Economist đã nêu bật một yếu tố: đó là vì các hộ gia đình trong khu vực không bị nợ chồng chất như ở châu Âu hay Hoa Kỳ, vì thế những khoản trợ giúp của nhà nước được mang ra chi tiêu ngay chứ không phải là dùng để tiết kiệm.
Câu hỏi đặt ra là đà phục hồi nhanh chóng hiện nay ở châu Á có vững chắc hay không. Trở lại với tình hình Nhật Bản, tuy có thể tạm thời thở phào nhẹ nhõm với số liệu khả quan trong quý hai, nhưng thời gian tới, nước này chưa thể khẳng định là triển vọng sẽ tươi sáng thêm : đầu tư trong quý hai đã giảm hơn 4% và sẽ tiếp tục giảm, thất nghiệp vẫn ở mức rất cao đối với Nhật, 5,4%, và đã tăng như thế với mức 30% trong vòng một năm.
Trả lời phỏng vấn RFI, chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa tại California phân tích thêm về sự phục hồi kinh tế tại châu Á hiện nay cũng như về khả năng đà vực dậy đó bền vững như thế nào.
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Nói về bối cảnh chung thì giới nghiên cứu kinh tế thế giới ưa phân biệt một bên là các nền kinh tế đã công nghiệp hoá, như Hoa Kỳ, Tây Âu và Nhật Bản, gọi chung là "thất hùng kinh tế" trong khối G-7, và bên kia các nền kinh tế đang phát triển, hoặc đang lên, như trường hợp các nước Á châu ngoài Nhật. Tôi xin được gọi các nền kinh tế mới phát triển đó là "tân hưng". Trước khi xảy ra nạn suy thoái toàn cầu vào năm ngoái, các nước Á châu đó đã có tốc độ tăng trưởng bình quân từ 5 đến 8% một năm so với đà tăng trưởng thật ra rất thấp, chỉ bằng một phần ba, của các nền kinh tế đã bước qua giai đoạn gọi là "hậu công nghiệp".
- Bây giờ, khi kinh tế Hoa Kỳ đã đụng đáy và bật dậy, tại Âu Châu, kinh tế Đức và Pháp cũng có chỉ dấu phục hồi, Nhật Bản cũng thế như thống kê hôm Thứ Hai 17 vừa cho thấy, thì người ta đặc biệt chú ý tới các nước tân hưng châu Á vì đà tăng trưởng rất cao của các nước này so với hy vọng dù sao còn mong manh của ba đầu máy công nghiệp hóa là Mỹ, Tây Âu và Nhật. Nếu muốn tìm hiểu vì sao châu Á lại sớm ngoi lên khỏi đáy vực suy thoái ấy, có lẽ ta phải trở về nguyên ủy là vì sao châu Á lại bị kéo vào nạn suy sụp từ năm ngoái"
Mai Vân: Người ta còn nhớ là vào năm 2007, khi kinh tế Hoa Kỳ và Châu Âu bắt đầu đình trệ, giới phân tích đã nói đến hiện tượng tách rời, Pháp ngữ gọi là 'découplage' của các nền kinh tế đang vươn lên tại Á Châu, mà anh gọi là ''tân hưng'', nghĩa là kinh tế Châu Á có định mệnh riêng và hết bị ràng buộc vào đà tăng trưởng các nền kinh tế Âu Mỹ hay Nhật Bản. Tuy nhiên, rốt cuộc thì Châu Á vẫn bị vạ lây. Bây giờ, nếu các nước Châu Á đã bật dậy sớm và mạnh như thế thì có phải là do tiềm lực riêng của họ như một sô" chuyên gia đã nêu lên hay không "
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Đúng như thế nếu ta nhìn sâu hơn vào quá khứ. Hơn 10 năm về trước, khủng hoảng tài chính đã bùng nổ tại Đông Á và lan thành khủng hoảng kinh tế trong toàn khu vực rồi tác động ra toàn cầu. Sau vụ khủng hoảng thời 1997-1998 ấy, các nước Á châu rút tỉa bài học và chấn chỉnh hệ thống tài chính ngân hàng, như trường hợp Indonesia hay Malaysia, cải tổ cơ chế kinh tế như Hàn Quô"c, hoặc từ bỏ chiến lược phát triển chủ yếu nhờ xuất khẩu như trường hợp Thái Lan. Nhờ vậy mà lần này dù họ có bị hiệu ứng của nạn suy sụp kinh tế của nhóm G-7, thật ra không đến nỗi nặng để trôi vào khủng hoảng. Cũng cần nói thêm là Indonesia hay Thái Lan thật ra không bị ảnh hưởng của nạn suy thoái toàn cầu bùng nổ từ năm ngoái. Vì thế, nếu các nước tân hưng châu Á có hồi phục nhanh thì cũng vì lý do tiềm ẩn sâu xa.


Mai Vân: Ngoài lý do xuất phát từ khủng hoảng trước như anh vừa nêu, anh còn thấy lý do nào khác, cụ thể như các kế hoạch kích cầu các quốc gia Châu Á, đặc biệt là của Trung Quốc như người ta thường nhắc đến, hay của Việt Nam "
Nguyễn Xuân Nghĩa : - Nhân tố kích cầu bằng tăng chi ngân sách hoặc bơm tiền vào kinh tế qua ngả tín dụng cho vay thật ra cũng có, nhưng chính vì vậy mà ta lại e ngại về tiềm lực tăng trưởng trong sự ổn định vật giá sau này. Chúng ta sẽ trở lại chuyện ấy khi nói về tương lai.
- Ngoài việc học hỏi kinh nghiệm khủng hoảng lần trước để cải cách cơ chế, các nền kinh tế tân hưng thật ra đã phát triển mạnh nhờ công nghiệp chế biến với tỷ trọng rất cao trong hệ thống sản xuất. Mà khu vực công nghiệp ấy, thí dụ dễ hiểu như ráp chế xe hơi hoặc máy điện toán, lại thường thăng giáng theo chu kỳ kinh doanh, tức là có sút giảm một cách định kỳ. Rồi cũng định kỳ thì sau khi suy giảm tất nhiên lại tăng.
- Nguyên nhân thứ hai là khi kinh tế Âu-Mỹ bị suy thoái thì thị trường tài trợ xuất nhập khẩu bị đóng băng cùng nạn ách tắc tín dụng. Á châu có bị vạ lây vì chuyện đó, nhưng tình trạng ấy nay đã hết cho nên bây giờ tài hóa lưu thông mạnh hơn.
- Chuyện thứ ba, như cô vừa hỏi, là các biện pháp tăng chi để kích cầu quả thật đã nâng mức tiêu thụ nội địa khá nhanh và nhiều. Mà vì vụ khủng hoảng lần trước, cơ cấu vĩ mô của các nền kinh tế này tương đối đã quân bình lành mạnh hơn, cụ thể là ít bị bội chi ngân sách hoặc khiếm hụt chi phó. Nhờ đó, họ dám mạnh tay bơm tiền vào kinh tế, ít ra là mạnh hơn nhiều nước Âu Châu. Trong quần chúng hay ngoài thị trường cũng thế, người dân và doanh nghiệp có mức tiết kiệm cao hơn, vay mượn ít hơn trường hợp Hoa Kỳ, nhờ vậy mà bây giờ ngân hàng, doanh nghiệp và công chúng có thể vay mượn hoặc tiêu xài dễ dàng hơn và kéo nền kinh tế ra khỏi sự suy sụp nhanh hơn...
Mai Vân: Theo anh, triển vọng của châu Á sẽ ra sao, đà vực dậy vừa ghi nhận có bền vững hay không "
Nguyễn Xuân Nghĩa : - Người ta nghiệm thấy một hiện tượng là liều thuốc chữa trị áp dụng ngày nay để giải quyết vấn đề của hôm qua có khi lại gây vấn đề cho ngày mai. Đấy là một nguy cơ đáng kể.
- Trung Quốc và Việt Nam chẳng hạn đã mạnh tay kích cầu kinh tế bằng cách bơm thêm tín dụng ngân hàng vào kinh tế nhờ vậy mà nâng mức tiêu thụ và đẩy mạnh sản xuất. Nhưng, hậu quả cũng là thổi lên trái bóng đầu cơ trên thị trường cổ phiếu hay bất động sản là điều đã xảy ra. Kế tiếp sẽ là nguy cơ lạm phát. Nhiều xứ khác tại Á châu cũng đã thấy mối nguy này manh nha.
- Nguy cơ thứ hai nằm trong mối quan hệ kinh tế với các nước khác, chủ yếu là Hoa Kỳ. Vì dốc sức đẩy mạnh xuất cảng để ra khỏi suy trầm, các nước này thường giữ tỷ giá ngoại hối, tức là hối suất đồng bạc, rất thấp so với đồng Mỹ kim để bán hàng cho rẻ. Mà vì nạn suy thoái tại Mỹ, Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ đã hạ lãi suất cơ bản tới số không và còn in bạc bơm tiền vào kinh tế với một khối lượng lớn lao chưa từng thấy. Đâm ra, các nước tân hưng Á châu lại giàng trị giá đồng bạc của họ vào quyết định tiền tệ của Ngân hàng Trung ương Mỹ. Nói cho dễ hiểu, người ta cho con bệnh kinh tế uống thuốc bổ theo toa thuốc của bác sĩ Mỹ chứ không xây dựng nội lực riêng để có thể tăng trưởng một cách tự tại. Kết cuộc thì khi biện pháp kích cầu chấm dứt, thuốc bổ không còn thì sinh hoạt kinh tế sẽ lại giảm mạnh. Đó là câu trả lời về tiềm năng bền vững hay không.
Mai Vân: Nếu như vậy thì các nước đang vươn lên của Châu Á có thể, hoặc là nên làm gì để giữ được tốc độ tăng truởng bền vững, ổn định"
Nguyễn Xuân Nghĩa : - Thứ nhất là đừng thổi lên bong bóng đầu cơ nhờ tiền nhiều và rẻ như đã xảy ra tại Hoa Kỳ và đang xảy ra tại Trung Quốc. Thứ hai, phải tìm ra đầu máy tăng trưởng ngay trong thị trường nội địa của mình, nhất là khi có dân số đủ cao như trường hợp Việt Nam, thay vì coi xuất khẩu là chính. Muốn vậy, họ nên nâng cao tỷ giá đồng bạc so với đô la Mỹ, là biện pháp đáp ứng cả hai yêu cầu.
- Nhờ biện pháp hối đoái ấy, họ sẽ nâng lợi tức của người dân, khuyến khích sản xuất cho thị trường trong nước và giảm bớt hiệu ứng tai hại từ thị trường quốc tế để có được một đà tăng trưởng tự tại bền vững hơn. Chúng ta đang gặp một hiện tượng đáng ngại là mâu thuẫn giữa hai mục tiêu ngắn hạn và trường kỳ. Vì mục tiêu kích cầu trong ngắn hạn mà sẽ lại gây thất quân bình trong trường kỳ. Mục tiêu trường kỳ không thể là kích thích số cầu mà nâng số cung, là đẩy mạnh khả năng cung cấp và sản xuất với hiệu năng cao hơn.
Mai Vân: Trường hợp của Nhật, tuy có thấy chút ánh sáng hiện nay, nhưng nhận định chung thì sự vực dậy có thể không bền, anh có thấy như vậy hay không, và đây phải chăng chỉ là trường hợp cá biệt của Nhật "
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Vừa rồi chúng ta mới có thống kê quý hai về kinh tế Nhật, với tăng trưởng đạt 3,7%. Đó là một trường hợp gọi là độc đáo, nhưng theo tôi, nếu quy ra toàn năm thì tỷ lệ sẽ thấp hơn như vậy. Thứ hai nữa, nó là kết quả của một quý thôi, do nhờ xuất khẩu mạnh qua Trung Quốc. Tôi nghĩ là qua quý ba, kinh tế của Nhật vẫn có đà tăng trưởng thấp, và tình trạng khó khăn của Nhật sẽ còn kéo dài.
- Cái điều tai hại đó là đảng Dân chủ có thể là thắng cử mà vẫn không có một đa số đủ mạnh, thành ra hệ thống chính trị sắp tới, vẫn còn bấp bênh, và điều đó nó cho thấy khó khăn lâu dài ngay trong cấu trúc của Nhật, và có thể đưa quốc gia này vào khó khăn dài lâu.
- Đó là trường hợp cá biệt Nhật Bản, vì cơ cấu chính trị của họ đặt quá nặng vào sự ổn định mà không dám cải cách như nhiều quốc gia khác. Vấn đề còn sâu xa hơn là cơ cấu về dân số bị lão hoá, thành phần cao niên ngày càng nhiều, thành phần có khả năng sản xuất ngày càng ít. Đà gia tăng năng suất bằng kỹ thuật chưa bù đắp được cho sự yếu kém trong cơ cấu về dân số của Nhật.
Mai Vân: Như anh vừa nói, Nhật đã nhờ cậy được vào việc xuất khẩu sang Trung Quốc. Như vậy phải chăng các kế hoạch kích cầu ở Châu Á hỗ trợ lẫn nhau giữa các nước, và đó là một thị trường có thể cạnh tranh với các thị trường cổ điển Châu Âu và Châu Mỹ "
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa nó phản ảnh hai chuyện. Thứ nhất, kế hoạch kích cầu gần bằng 600 tỷ đô la Mỹ ở Trung Quốc đã thổi lên một mức cầu rất lớn ở thị trường Trung Quốc, và nhờ đó nó giúp cho thị trường của Nhật. Chuyện thứ nhì là các nước Á Châu, buôn bán với nhau nhiều hơn và khi họ có thể đạt được mức tăng trưởng cao như vậy thì dần dần họ lệ thuộc ít hơn vào các nền kinh tế Tây Phương, các thị trường Âu Mỹ.
Đài RFI xin cám ơn chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa đã trả lời phỏng vấn của chúng tôi.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Nước tìm chỗ trũng thì tiền cũng biết chạy vòng quanh thế giới kiếm lời. Thị trường nhà đất ở Nhật bị sụp vào đầu thập niên 1990 nên tiền chạy sang Đông Nam Á và Đông Âu tìm các con rồng sắp cất cánh. Khi Đông Á và Đông Âu bị khủng hoảng vào cuối thập niên 1990 tiền lại đổ vào Mỹ và Nam Âu bơm thành hai bong bóng địa ốc rồi vỡ tung năm 2007 (Mỹ) và 2010 (Nam Âu).
Tôi tình cờ tìm được ấn bản Lá Thư Về Làng của nhạc sỹ Thanh Bình, do nxb Lúa Mới phát hành, năm 1956. Vào thời điểm đó, tuy chưa đủ tuổi để cắp sách đến trường nhưng tôi cũng đã thuộc lời của nhạc phẩm này rồi vì nghe mấy bà chị và radio hay hát
Thới gian vẫn không ngừng trôi, hết xuân lại hạ, ngày tháng dần qua như nước chảy mây bay, sóng sau đè sóng trước, từng thế hệ lần lượt nối tiếp nhau. Ba chẳng mấy chốc giờ đã lên nội, ngoại. Tóc ba đã bạc trắng mái đầu, mỏi gối chồn chân… Thương ba nhưng đành chịu thôi, quy luật sinh – lão – bệnh – tử có chừa ai đâu!
Khi vừa nhận chức, Tổng thống Joe Biden đã phát biểu rằng dân chúng Mỹ sẽ có thể tụ họp ăn mừng Lễ Độc lập 4/7 trong hè sắp tới. Điều đó chắc sẽ xảy ra vì còn một tháng nữa là đến ngày 4/7, trong khi tiểu bang California là nơi đã có những giới hạn khắc khe nhất nước trong việc phòng chống Covid thì cũng đang mở cửa ra. Nhiều trường phổ thông và đại học đang tổ chức lễ tốt nghiệp, trong giãn cách xã hội và giới hạn khách tham dự là dấu hiệu đáng mừng cho sinh viên học sinh. Giờ N sắp điểm với Covid-19 ở California. Chiến thắng cơn đại dịch trên nước Mỹ cũng đã thật gần.
Nhưng ngặt nổi, cả 3 Văn kiện Cương lĩnh, Điều lệ đảng và Hiến pháp đều tập trung vào một mục tiêu là bảo vệ tuyệt đối quyền cai trị độc tôn và độc tài cho đảng. Cho nên, khi tình trạng “tự diễn biến, tự chuyển hóa” của cán bộ đảng vẫn “tưng bừng hoa lá cành” đe dọa vị trí cầm quyền của đảng và sự sống còn của chế độ thì “bảo vệ nội bộ” cũng chính là giữ cho đảng khỏi vỡ từ trong lòng Chế độ.
Tuần này đã mang đến một sự thay đổi đầy ngạc nhiên trong cuộc tranh luận về dịch Covid. Tổng thống Biden đã ký một sắc lệnh hành pháp ra lệnh cho giới tình báo Hoa Kỳ tái xét cuộc điều tra về nguồn gốc của virus. Lệnh xảy ra sau khi Avril Haines, Giám đốc Cơ quan Tình báo Quốc gia, thừa nhận là chúng ta không kết luận được căn bệnh khởi phát như thế nào.
Một số người cho rằng việc điều tra hình sự tổ chức Trump Organization là một vụ án chính trị hay để trả thù thì có thể biết thêm rằng, thủ tục tố tụng hay Đại Bồi Thẩm Đoàn theo hiến định nói riêng là nhằm để bảo vệ cho người dân được đối xử công bằng, không bị tấn công vì mục đích riêng tư hay chính trị. Vì trong quá trình điều tra và xem xét hồ sơ do các công tố viên cung cấp, Đại BTĐ cũng có thể đưa ra quyết định là không đủ bằng chứng thuyết phục để truy tố.
Chả phải vô cớ mà tiếng nói của Nguyên Ngọc bỗng trở nên tiếng cú: “Chế độ này thế nào cũng sụp đổ. Nhưng không biết nó sẽ sụp đổ theo kịch bản nào?” Kịch bản nào cũng được vì ngày nào mà cái chính thể hiện hành còn tồn tại thì cả nước Việt sẽ không có lối ra, chứ chả riêng chi vùng cao nguyên Đồng Văn – Mèo Vạc.
Tháng 6 năm 1983 tôi rời Hoa Kỳ lên đường qua Togo dạy học. Sau ba tháng huấn luyện tại chỗ, tôi và các bạn được chính thức tuyên thệ trở thành Tình nguyện viên Peace Corps, trước khi về nơi công tác nhận nhiệm sở. Trong nhóm 20 giáo viên toán lý hoá và sư phạm, có bạn lên tận vùng Dapaong, sát biên giới phía bắc Togo với Upper Volta (bây giờ là Burkina Faso), có bạn về Tsévie cách thủ đô chừng 30 cây số. Hai bạn thân là giảng viên sư phạm Anh ngữ làm việc ngay tại thủ đô Lomé.
Trong hai tháng qua, những vụ dùng súng giết người ở trong gia đình, kể cả ở trường học đã liên tiếp xảy ra. Người ta sau đó cầu nguyện rồi lại cầu nguyện và không có một biện pháp nào để cứu chữa. Những thảm họa về súng đạn, dù kinh hoàng cách mấy rồi cũng chìm đắm vào dòng thác lũ của những biến cố về chính trị
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.