Hôm nay,  

Báo Y Khoa: Độc Tố Anthrax Và Mồ Hôi Đêm

19/01/200800:00:00(Xem: 5062)

Ống Carbon Cực Nhỏ Khử Độc Tố Anthrax. Gs Ravi S. Kane đã mất hơn một năm trơì mới tạo được một phương pháp dùng ống carbon cực nhỏ (nanotubes) để khử độc tố Anthrax và các bạch đản (protein) nguy hại khác. Những ống carbon cực nhỏ bao phủ xung quanh bằng những chất bạch đản yếu tác dụng khi bị chiếu bằng ánh sáng tia hồng ngoại (infrared) hay những loại ánh sáng mắt không thể nhìn thấy được. Chất bạch đản sấy bằng những ánh sáng đặc biệt không nguy hại khi chích vào cơ thể. Dùng máy điều khiển có thể hướng dẫn ống cực nhỏ tơí mục tiêu mong muốn và khử được những độc tố hay bạch đản nguy hại cho cơ thể.

Kết quả đăng trong báo Nature Nanotechnology, December 2007. Những ống cực nhỏ nanogram mỏng chỉ bằng kích thước một nguyên tử (atom). Lớp mỏng carbon gọi là graphene xếp xung quanh những ống cực nhỏ kích thước nanogram. Kỹ thuật dùng ống cực nhỏ carbon không phải chỉ dùng trong áp dụng y khoa mà còn dùng trong kỹ nghệ nanotechnology, điện tử và nhãn khoa, và nhiều lãnh vực khác. Căn bản những nguyên tử bám thành ống nhỏ cực tiểu dựa theo nguyên tắc hóa học lượng tử (quantum chemistry). Liên kết (bond) dính những nguyên tử lại với nhau còn mạnh hơn liên kết của  kim cương.

Mồ Hôi Đêm

Trong báo The Journal of Family Practice số 4, June 2007 có bài nói về đổ mồ hôi đêm.Theo các tác giả Cindy W. Su, Sean Gaskie và C. Hitchcock thì tìm hiểu tiểu sử bệnh lý rất quan trọng trong việc chuẩn định bệnh đổ môi đêm. Bệnh nhân thường than phiền bị đổ mồ hôi đêm mà trời không thấy nóng nực. Phụ nữ bị mặt đỏ phừng (hot flash) đổ mồ hôi đêm và thường dùng kích thích tố chữa giảm mồ hôi đêm. Những nguyên nhân khác làm đổ mồ hôi ban đêm như ho lao, ung thư bạch huyết, nhiễm HIV, và hội chứng ợ chua.

Nhiều y sĩ muốn thử nghiệm tìm hiểu lý do đổ mồ hôi đêm, nhưng cũng có y sĩ cho rằng việc này không cần thiết. Những thử nghiệm từng được nêu ra như đếm máu, đo mức kích thích tố thùy não (TSH), đo độ lóng tụ hồng huyết cầu, thử lao và thử HIV,  chụp hình phổi. Theo tác giả Anthoni J. Viera cùng các đồng nghiệp tường trình trong báo American Family Physicians, tháng 3, 2003, còn đề nghị thêm chụp hình cắt lớp bụng, chụp hình cắp lớp phổi, sinh thiết tủy xương.

Theo nhóm bác sĩ Cindy W. Su và các đồng nghiệp thì nếu thử nghiệm không thấy gì, y sĩ  có thể cho bệnh nhân thử uống thuốc chống ợ chua. Bác sĩ cần theo dõi tình trạng bệnh nhân liên hệ nhiệt độ trong cơ thể. Ngoài ra, y sĩ phải loại bỏ nghi ngờ bệnh nhân có thể bị viêm nội mô, hay ung thư bạch huyết. Một tường trình khác cho biết kích thích tố trị liệu có thể giảm hiện tượng đổ mồ đêm và mặt nóng phừng khi phụ nữ bị tắt kinh (75%). Thêm một nghiên cứu khác nữa cho rằng dùng thuốc chữa giảm độ ợ chua (heart burn) có thể đạt được kết quả giảm mồ hôi đêm tới 80%. Một số thuốc dùng để thoa trực tiếp chỗ đổ mồ hôi như thoa ngoài da aluminum chloride hexadrate (Drysol), antiperspirants, scopolamine, hay phenoxylbenzamine hydrochloride (Dibenzyline). Nhưng, ngược lại, một số thuốc sau đây có thể gây đổ mồ hôi đêm: Thuốc chữa bệnh ưu trầm, thuốc chữa bệnh nhức nửa đầu, thuốc giảm nhiệt, thuốc chống cholinergic (tiết acetylcholine), thuốc chống GNRH, thuốc chữa tiểu đường, thuốc chống giao cảm (sympathomimetic), và vài thứ thuốc khác trong đó phải kể: rượu, thuốc trị cao máu chặn beta (beta blockers), thuốc trị cao máu chặn calcium (calcium blockers), Bromocriptine, v. v. v. Xin coi thêm chi tiết trong trong báo Journal of Family Practice, 56: 493, 2007.

Trong mục này, các tác giả cũng nêu lên một số bệnh gây đổ mồ hôi đêm như:

1) Bệnh tuyến nội tiết, bệnh tiểu đường loại Diabetes insipidus, cường giáp trạng, mức đường hạ thấp trong máu, bướu nội tiết như pheochromocytoma (u bướu tế bào ưa nhuộm crôm), carcinoid tumor (u tế bào ưa nhuộm chất bạc), hoặc tình trạng sau khi bệnh nhân bị cắt bỏ ngọc hoàn,

2) Các bệnh nhiễm trùng như nhiễm trùng nội mô, bệnh HIV, bệnh nhiễm trùng tăng bạch cầu đơn nhân (Infectious mononucleosis), làm mủ (abcess) trong phổi, bệnh lao phức tạp (Mycobacterium avium complex), viêm xương và bệnh lao, nhiễm trùng nấm coccidiomycosis hay histoplasmosis,

3) Những nguyên nhân ung thư như: ung thư máu trắng, ung thư nhiếp hộ tuyến, ung thư thận, và nhiều loại ung thư khác.

4) Một số bệnh thần kinh như tự động mất phản xạ (autonomic dysreflexia), bệnh thần kinh tự trị (autonomic neuropathy), tai biến mạch máu não.

5) Hiện tượng thay đổi sinh lý sau khi uống rượu lâu năm, đột nhiên ngưng uống rượu (withdrawal), sau khi dùng ma túy lâu năm như cocaine hay opioids.

6) Sau hết, hội chứng mệt mỏi kinh niên, ợ chua (heart burn), tắt kinh, ngủ ngáy nghẹ thở, lên cơn bấn loạn, có thai, đau ngực sau khi động mạch tim co thắt mạnh (Prinsmetal), viên mạch máu Takayasu, viêm mạch máu thái dương..., đều có thể đổ mồ hôi ra ban đêm. Cần đọc thêm những triệu chứng khác khi bị cơn đau tim đổ môi đêm để biết và kịp thời cấp cứu.

Tài Liệu Tham Khảo:

1) Journal Family Practice, 58: 493, 2007;

2) American Family Physicians, 67: 1079, 2003;

3) Medline Literature từ 1966 tới 2001,

4) Harrison's Principle thứ 13th.

Trần Mạnh Ngô, M.D., Ph.D., E-mail: nmtran@hotmail.com. Xin mời quý độc giả ghé thăm Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com, một Trang Web Y Khoa của người Việt viết cho người Việt.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Có lẽ không có giai đoạn nào trong cuộc đời trưởng thành của phụ nữ mang lại nhiều thay đổi đáng kể về sức khỏe như ở độ tuổi 50. Ở Hoa Kỳ, độ tuổi mãn kinh trung bình là 51 tuổi. Cả giai đoạn mãn kinh lẫn những năm tiền mãn kinh đều gây ra nững thay đổi ảnh hưởng đến nhiều hệ thống khác nhau trong cơ thể. Tuy nhiên, nhiều phụ nữ không chuẩn bị sẵn tâm lý cũng như cách đối phó với những thay đổi này.
Nhiều phụ nữ không nhận ra rằng những ly rượu, ly bia mà họ thường uống cùng bạn bè, hoặc để thư giãn trong “giờ nhậu của mẹ” (wine mom moment, một số bà mẹ thích nhâm nhi vài ly rượu hoặc lon bia để thư giãn sau khi bận rộn chăm sóc con cái và gia đình) có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư vú. Tuy điều này có vẻ không vui, nhưng lại là sự thật: Rượu, bia thực sự có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư vú.
Một hệ thống miễn dịch khỏe mạnh sẽ giúp bảo vệ cơ thể, chống lại bệnh tật và các tác nhân gây bệnh. Tuy nhiên, đối với 1/10 người và đa số là phụ nữ, hệ thống miễn dịch gặp trục trặc và tấn công các tế bào của cơ thể, gây ra hơn 80 loại bệnh tự miễn dịch, chẳng hạn như lupus, đa xơ cứng (multiple sclerosis) và bệnh phong thấp (rheumatoid arthritis). Một số nghiên cứu gần đây cho thấy phụ nữ thường mắc các bệnh tự miễn dịch nhiều hơn nam giới; nguyên nhân có thể là do có một cơ chế bị lỗi, khiến quá trình tắt nhiễm sắc thể (NST) X trong tế bào diễn ra không đúng cách. Trong các tế bào của phụ nữ, một trong hai NST X được tắt bớt hoạt động. Nếu quá trình này không diễn ra đúng cách, có thể dẫn đến các vấn đề liên quan đến hệ thống miễn dịch và góp phần vào sự phát triển của các bệnh tự miễn dịch.
Cảm giác từ việc bẻ các khớp ngón tay cho kêu rôm rốp có thể rất khác nhau tùy theo từng người. Có người thấy rất ‘đã,’ thậm chí là bị ghiền, cũng có người thấy khó chịu hoặc sợ hãi. Dù việc bẻ khớp thường được nhiều người coi là một thói quen không tốt, nhưng nếu có thể hiểu được cơ chế hoạt động đằng sau việc bẻ khớp, ta sẽ hiểu tại sao lại có nhiều người ‘ghiền’ đến vậy.
Cael là một thiếu niên 15 tuổi bình thường – cho đến khi cậu được phát hiện có cột sống bị cong vẹo bất thường. “Em cảm thấy mình giống như Thằng Gù ở Nhà thờ Đức Bà vậy đó,” Cael nói với CBC News, nhớ lại quãng thời gian hai năm chờ đợi để được phẫu thuật cột sống, đầy cảm xúc và khốc liệt, và trong thời gian đó, đường cong cột sống của cậu đã phát triển lên tới 108 độ.
Dave Lovos là một nhạc sĩ và nghệ nhân làm đàn guitar, và đã quá quen với những âm thanh ồn ào. Trong năm nay, có một đêm Lovos bất ngờ nghe thấy tiếng nổ mạnh trong đầu khi đang lơ mơ chìm vào giấc ngủ. Tiếng nổ bất ngờ khiến ông tỉnh ngủ hẳn. Lovos kể lại: “Tôi nghe thấy một âm thanh rất lớn trong đầu, gần vùng đỉnh hộp sọ,” và cùng với tiếng nổ chói tai, hình ảnh một vụ tông xe vụt qua trong não. “Cả hai thứ xảy ra gần như là đồng thời.”
Mổ cườm mắt (Cataract, bệnh đục thủy tinh thể, hay còn gọi là Đục nhãn mắt, Cườm mắt) là một trong những loại phẫu thuật phổ biến và được thực hiện nhiều nhất trên thế giới. Đa số bệnh nhân sau khi mổ đều có kết quả tích cực và ít bị biến chứng. Ở Hoa Kỳ, hơn một nửa số người cao niên dưới 80 tuổi bị cườm mắt, và có gần 4 triệu ca phẫu thuật được thực hiện mỗi năm.
Vào những năm 1990, sau khi tốt nghiệp trung học ở Bồ Đào Nha, công việc đầu tiên của Ricardo Da Costa là vận động viên ba môn phối hợp (triathlete) chuyên nghiệp – bao gồm bơi lội, đạp xe, và điền kinh. Trong quá trình tham gia các cuộc thi, một trong những vấn đề lớn nhất mà anh và các vận động viên khác phải đối mặt là các vấn đề về tiêu hóa, nhưng không có ai để tâm hoặc tìm cách giải quyết vấn đề này.
Aspirin nổi tiếng với khả năng giảm đau từ các cơn đau cơ và đau đầu; giúp giảm sốt; và liều lượng thấp có thể làm loãng máu, giảm nguy cơ đông máu gây đột quỵ và đau tim. Tuy nhiên, một nghiên cứu mới phát hiện ra rằng Aspirin cũng có thể giúp ngăn chặn sự phát triển của ung thư ruột kết
Tháng 4 năm 2024, một phụ nữ ở Sacramento, California, Mỹ bị ngộ độc chì nghiêm trọng và tử vong sau khi sử dụng thuốc mỡ trị trĩ của Việt Nam có tên “Cao Bôi Trĩ Cây Thầu Dầu”. Thử nghiệm thuốc mỡ bôi trĩ này cho thấy nó chứa 4% chì (cứ 100 gram thuốc thì có 4 gram chì), đây là lượng rất nguy hiểm. Chì là một chất kim loại nặng độc hại cho cơ thể. Tiếp xúc với bất kỳ lượng chì nào cũng có thể gây hại cho sức khỏe.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.