Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Vì Sao Việt Nam Vẫn Là Bài Học?

29/10/200800:00:00(Xem: 14382)

Tháng 5,1955. Tổng Thống Diệm thăm viếng Quy Nhơn ngay sau chiến dịch Giải Phóng. Người lái xe là Đại tá Lê Văn Kim. (Hình của tác giả Rufus Phillips)

Từ xe jeep bước xuống, Tổng Thống Diệm tươi cười tiến vào đám đông. Đi sau ở bên trái là Đại tá Lê Văn Kim. Quy Nhơn tại Bình Định là khu vực nổi tiếng là do Việt Minh kiểm soát trước đây. Đại tá Kim đã vừa đạt một chiến thắng thì ông Diệm đòi tới tận nơi quan sát để gặp thẳng dân chúng. Rufus Phillips ghi nhận rằng dân chúng khi đó thật tâm chào mừng ông Diệm như một người lãnh đạo miền Nam. (Hình của tác giả)

Nguyễn Xuân Nghĩa

...quân mình phá quân ta, làm đồng minh bị bức tử!...

Nỗi ân hận về Ngô Đình Diệm...

Trong dịp Hoa Kỳ "đổi ngôi" - bầu lên Tổng thống mới - người ta nên tìm đọc một cuốn sách vừa xuất bản tại Mỹ.

Đó là cuốn "Why Vietnam Matters" của Rufus Phillips, do Naval Institute Press ấn hành và đang được quảng bá trong dư luận Hoa Kỳ. Tiểu đề của cuốn sách còn đáng làm chúng ta chú ý hơn: "An eyewitness account of lessons not learned". Những bài học mà người Mỹ chưa hiểu. Do một người trong cuộc ghi nhận tận mắt khi phục vụ chiến trường Việt Nam ở tuổi thanh niên, hơn nửa thế kỷ vể trước.

Hãy bóc lịch sớm một chút, để mường tượng ra hoàn cảnh của nhiều thanh niên Mỹ - chiến binh hay nhân viên ngoại giao chính trị - tại Afghanistan năm 2002 hay Iraq năm 2003, thì ta hiểu vì sao bài học Việt Nam vẫn là cần thiết. Và cuốn "Why Vietnam Matters" là hồi ký nên đọc.

***

Người trong cuộc, tác giả Rufus Phillips, là nhân viên tình báo Hoa Kỳ được gửi qua phục vụ tại Việt Nam từ mùa Thu năm 1954, khi Pháp chưa rút hẳn, Mỹ chưa nhập cuộc và miền Nam Việt Nam chưa biết có tồn tại hay không. Một thanh niên 24 tuổi đầy lý tưởng, tốt nghiệp từ một Đại học uy tín của Mỹ, được thả vào một "rọ cua" để cố vấn cho một chính quyền chưa thành hình tại miền Nam, trong một chiến lược cũng chưa định hình của Hoa Kỳ tại Đông Dương. Ông được thả vào để chưa chặn đường Việt Minh hay Việt Cộng thì đã phải đấu trí với... Pháp!

Chính quyền "đồng minh" này chưa muốn rút khỏi miền Nam và còn tìm mọi cách gây bất ổn để lật đổ Thủ tướng Ngô Đình Diệm! Trong khi Hà Nội chuẩn bị tiếp thu hay giải phóng miền Nam sau Genève 1954 thì tại chỗ, tình báo Mỹ và quân đội Pháp chọc phá nhau chung quanh Sàigon. Đệ nhất Cộng Hoà ra đời trong cảnh tranh tối tranh sáng ấy.

Nhìn về chuyện mình, trong dịp tưởng niệm ngày một tháng 11 - mỉa mai thay, lại được gọi là "Quốc khánh" của Việt Nam Cộng Hoà, đời thứ hai - những người còn quan tâm đến Việt Nam Cộng Hoà đầu tiên, của chính quyền Ngô Đình Diệm, càng nên tìm đọc cuốn hồi ký của Rufus Phillips. Ông là một người Mỹ hiếm hoi đã đánh giá rất đúng Tổng thống Ngô Đình Diệm, với sự kính trọng và thương cảm, và cố gắng cưỡng lại bánh xe oan nghiệt của lịch sử là vụ đảo chánh ngày một tháng 11 năm 1963.

Không chỉ muốn cứu mạng ông Diệm, Rufus Phillips còn muốn cứu vãn sự đổ vỡ của chiến lược Hoa Kỳ tại Việt Nam.

Năm 1963 đó, tác giả mới 34 tuổi, với cấp bực còn thấp và lời trần tình không thể vượt qua những suy tính mù quáng của lãnh đạo, từ trong tòa Bạch Cung qua bộ Ngoại giao, bộ Quốc phòng và cơ quan CIA. Lãnh đạo Hoa Kỳ ở tại Mỹ không hiểu gì về thực tế tại Việt Nam và theo đúng cách "chỉ thượng đàm binh", họ luận việc binh và viết kế hoạch trên giấy mà không đếm xỉa gì đến quan điểm hay ý kiến của những người đang phục vụ tại chỗ.

Đấy là một bài học đầu tiên về sự thảm bại tại Việt Nam. Nhân viên Rufus Phillips nhìn ra chuyện ấy khi được trực tiếp trình bày sự việc Việt Nam với Tổng thống John Kennedy, trước sự khó chịu của các nhân vật đang lãnh đạo cuộc chiến Việt Nam tại Thủ đô Hoa Kỳ! Nhưng vì sao một nhân viên tình báo đang phục vụ ở tại chỗ - trên nguyên tắc phải là tai mắt của hệ thống lãnh đạo ở nhà và trước nhất là của thượng cấp - lại không đệ đạt được quan điểm của mình lên cấp trên"

Chỉ vì nước Mỹ ba đầu sáu tay.

Và ba đầu sáu tay ấy luân phiên đánh nhau!

***

Từ trên cùng, một bậc trưởng thượng của đảng Dân Chủ và tiếng nói có thế giá của Chính quyền Kennedy là ông Averell Harriman, Phụ tá Ngoại trưởng đặc trách Viễn đông từ 1961 đến 1963. Ông chỉ đạo việc thương thuyết Hiệp định Genève 1962 nhằm trung lập hoá nước Lào và không thể chấp nhận được rằng Chính quyền Ngô Đình Diệm - mà ông cho là do Hoa Kỳ nặn ra - lại chống lại việc trung lập hoá đó. Với Harriman, chế độ tầm thường mà ngang bướng này không đáng tồn tại.

Trong quan điểm ấy, Harriman đối nghịch hẳn với lập trường của Tổng trưởng Quốc phòng Robert McNamara và Tướng Maxwell Taylor, anh hùng của quân đội và Đại sứ Hoa Kỳ tại Sàigon từ 1964 đến 1964. Trong vụ quyết định đảo chính ông Diệm, hai nhân vật này tại Thủ đô có chung một lập trường, nhưng Maxwell Taylor còn góp phần giảm thiểu vai trò của quân đội (Ủy ban Tham mưu Liên quân) giúp McNamara trở thành nguồn ý kiến duy nhất cho Tổng thống Kennedy về cuộc chiến tại Việt Nam, là chuyện về sau.

Nhưng chưa hết! Trên chính trường Hoa Kỳ, Nghị sĩ của tiểu bang Massachusetts từng là một đối thủ của Nghị sĩ John Kennedy và đứng phó cho Richard Nixon trong cuộc tranh cử Tổng thống năm 1960. Tổng thống Kennedy gửi ngôi sao sáng của đảng Cộng Hoà qua Sàigòn làm Đại sứ từ tháng Tám năm 1963, để cho thấy tính cách "lưỡng đảng" của chính sách Hoa Kỳ tại Việt Nam. Thực tế có thể là để Đại sứ Lodge cùng "dính chấu" trong vụ đảo chánh, và Cabot Lodge hoàn thành nhiệm vụ một cách mỹ mãn vì thực tế vẫn chưa hiểu gì về nội tình Việt Nam và có ác cảm không gì vượt qua nổi với chính quyền Ngô Đình Diệm.

Là người cao ngạo chẳng thua kém gì Robert McNamara hay Averell Harriman ở nhà, Đại sứ Lodge còn được Tổng thống Lyndon Johnson đưa trở lại Sàigòn từ năm 1965, và hoàn tất nốt nhiệm vụ lưỡng đảng là sau khi lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm, thì đưa quân vào Mỹ hoá cuộc chiến!

***

Phục vụ tại Việt Nam từ 1954 đến 1957 rồi bên Lào từ đó qua suốt năm 1959, và lại trở về Việt Nam từ 1960 đến 1963, tác giả Rufus Philllips còn nhìn ra nhiều bài học khác ngay trong tổ chức tình báo mà ông phục vụ.

Hoa Kỳ thiếu kinh nghiệm về hình thái chiến tranh kết hợp cả quân sự lẫn chính trị và cố gắng đi tìm một chiến lược thích hợp. Việc tìm kiếm ấy dẫn tới xung đột về quan điểm của những người trong cuộc, của các nhân viên CIA được phái qua giúp đỡ các chính quyền Đông Dương. Mỗi cố vấn trong phái bộ Hoa Kỳ lại có một "thân chủ" hay lá bài riêng, là các giới chức bản xứ được họ tin cậy hay yểm trợ. Mâu thuẫn quan điểm hoặc xung đột vì những lý do rất cá nhân giữa các cố vấn hay người đỡ đầu khiến các "thân chủ" này đấu tranh với nhau, và phe nào cũng tin rằng mình được Mỹ giúp!

Chế độ Ngô Đình Diệm chết kẹt trong những xung đột ấy!

Được tin đó, Tổng thống John Kennedy đứng bật dậy với vẻ bàng hoàng thất sắc. Hai ngày sau khi hai anh em ông Diệm và ông Nhu bị hạ sát, mùng bốn tháng 11 năm 1963, ông đọc vào máy ghi âm lời phát biểu sau đây, mãi tới năm 1998 mới được phép công bố:

"Tôi nghĩ rằng mình phải chịu phần lớn trách nhiệm ngay từ đầu với công điện [gửi qua Sàigòn] đầu tháng Tám trong đó mình gợi ý ra cuộc đảo chánh. Theo sự phán xét của tôi thì công điện ấy được soạn thảo cẩu thả, đáng lý không nên gửi đi hôm Thứ Bảy. Tôi không nên đồng ý với công điện trước khi hội họp và tham khảo ý kiến của McNamara và Taylor. Tôi bị chấn động vì cái chết của Diệm và Nhu. Mấy năm về trước tôi đã gặp Diệm với Thẩm phán [Tối cao Pháp viện] Douglas. Ông Diệm là nhân vật đặc biệt và dù có thể trở thành khó xử trong mấy tháng cuối, vẫn là người đã lèo lái được quốc gia trong cả chục năm và gìn giữ được độc lập cho xứ sở trước những hoàn cảnh rất ngặt nghèo. Cái lối ông ta bị giết càng làm vụ này thêm đáng tởm. Vấn đề bây giờ là liệu các tướng [Việt Nam] có thể ngồi cùng nhau mà lập ra một chính quyền ổn định hay là trong một tương lai không xa dư luận của Sàigòn, của trí thức, sinh viên, v.v... sẽ lại tấn công chính quyền này là độc tài và thiếu dân chủ."

Đọc lại những lời đó, chúng ta lại ngậm ngùi cho Đệ nhất Cộng hoà, và anh em ông Diệm.

***

Nếu có thể vượt qua được sự tò mò về chuyện thanh toán chính quyền Ngô Đình Diệm, với rất nhiều chi tiết thương tâm và đau lòng, người đọc còn biết thêm về những xoay trở của Hoa Kỳ trong việc "bình định" nông thôn miền Nam, hay "xây dựng dân chủ" như cách người ta gọi và có thể thấy sau này tại Iraq và Afghanistan.

Tác giả là người đứng ở tuyến đầu, dưới ruộng, của việc xây dựng và thi hành chiến lược bình định nên vừa mô tả thực trạng miền Nam vừa rút kinh nghiệm về tiến trình yểm trợ đồng minh của Hoa Kỳ. Một bài học ông ghi lại và nhắc tới nhiều lần, là phải thấu hiểu và kính trọng những người chúng ta muốn yểm trợ. Trước hết là Hoa Kỳ chỉ nên yểm trợ mà thôi!

Trong phần mô tả và hồi tưởng, Rufus Phillips vẽ ra chân dung sống động của các nhân vật của CIA đã trở thành huyền thoại trong những năm đầu của chiến tranh Việt Nam, như Edward Lansdale, Lucien Conien, hay John Richardson, trưởng lưới CIA tại Sàigòn trong các năm 1962-1963.

Năm đó, Lansdale bị kẹt ở bên Mỹ nên không thể cứu được ông Diệm. Năm đó. Lou Conien xúi giục các tướng của ta lật đổ ông Diệm và khi cuộc đảo chánh khởi sự, ông ngồi ở trong Bộ Tổng tham mưu! Ly kỳ và bi thảm không thua gì chuyện Lansdale không cứu được ông Diệm là việc Richardon bị triệu hồi vì cố gắng bênh vực chính quyền Diệm và ông Ngô Đình Nhu. Ông bị rút về vì vỏ bọc CIA bị báo chí Mỹ bóc phăng, mà có thể do chính Đại sứ Lodge ngầm tiết lộ!

Quân mình phá quân ta, làm đồng minh bị bức tử! Những chi tiết đau lòng ấy chưa thấm vào đâu nếu người đọc so sánh với tác phong và hành động của các Tướng tá Việt Nam, trước, trong và sau vụ đảo chánh và ám sát ông Diệm! Bi thảm và nhục nhã!

Cũng xuyên qua hiện tượng "ba đầu sáu tay" đánh nhau chí chạp trong những vụ đấu đá ủy nhiệm - các thân chủ Việt Nam diệt nhau vì ảnh hưởng của các cố vấn ở đằng sau - người đọc còn có cơ hội nhìn lại một vụ thanh toán tương tự. Đó là vụ Tổng thống Thiệu ngang nhiên bắt giữ và xử án một bạn thân mà ông nghĩ là đối thủ, đó là Dân biểu Trần Ngọc Châu. Vụ án xảy ra năm 1969, một năm sau trận Mâu Thân 68!

Chúng ta sẽ còn cơ hội trở lại vụ này.

***

Rufus Phillips là một nhân viên tình báo nay đã về hưu.

Ông khởi sự viết cuốn hồi ký từ 25 năm trước, bây giờ đến tuổi bát tuần - ông sinh năm 1929 - mới cho xuất bản để lãnh đạo mới của nước Mỹ có dịp ôn lại bài học Việt Nam. Hầu đừng tái diễn tại hai chiến trường nóng ngày nay là Iraq và Afghanistan.

Xuyên qua cuốn hồi ký, người Việt cũng nhìn ra vài sự thật của chứng nhân trong cuộc. Ngoài ông Diệm, Rufus Phillips có sự kính trọng đặc biệt với Đại sứ Bùi Diễm, Tướng Lê Văn Kim, Dân biểu Trần Ngọc Châu và Tướng Hoàng Văn Lạc. Các nhân vật này không là nhân viên của CIA nhưng giúp đỡ rất nhiều cho người Mỹ hiểu được sự tình Việt Nam. Họ không thành công vì những bất cập của chính người Mỹ trong cuộc. Tác giả viết lại và nhắc tới họ với lòng nể trọng.

Chúng ta nên đọc và cũng dành cho tác giả sự nể trọng vì ông đã cố hết sức mình cho người Việt mà không thành. Các thế hệ trẻ hơn càng nên đọc cuốn sách này vì sẽ nhìn lại Hoa Kỳ và phụ huynh với con mắt khác.

Cuốn "Why Vietnam Matters" dày gần 400 trang với nhiều hình ảnh riêng của tác giả, và lời mở đầu của Richard Holbrook, một viên chức ngoại giao xưa kia được tác giả hướng dẫn trong bước đầu làm việc tại Việt Nam từ năm 1962. Ngày nay, Holbrook đã trở thành nhà ngoại giao lão thành, có hy vọng làm Ngoại trưởng trong một chính quyền Dân Chủ.

Phần cước chú rất công phu và phần bình giải rất khách quan của tác giả về các tài liệu liên quan đến Việt Nam là sự kiện cần tham khảo cho những ai còn muốn tìm hiểu sự thật về Việt Nam, hầu đừng tái diễn sai lầm cũ (081026).

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Nguyệt Quỳnh: Anh còn điều gì khác muốn chia sẻ thêm? Trịnh Bá Phương: Trong cuộc đấu tranh giữ đất, nhóm chúng tôi đã tham gia các phong trào khác như bảo vệ cây xanh, bảo vệ môi trường, tham gia biểu tình đòi tự do cho các nhà yêu nước, tham gia các phiên toà xét xử người yêu nước bị nhà nước cộng sản bắt giam tuỳ tiện. Và hướng về biển đông, chống sự bành trướng của Bắc Kinh khi đã cướp Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam! Và mới đây là phản đối bè lũ bán nước đã đưa ra dự luật đặc khu và dự luật an ninh mạng.
Có một câu thần chú mới mà các nhân viên FBI đã khuyên tất cả chúng ta phải học thuộc và nên áp dụng trong thời đại này. Thời đại của cao trào xả súng đang diễn ra khắp nơi ở Hoa Kỳ. Xin giới thiệu cùng bạn đọc một bài viết hữu ích của nữ ký giả Alaa Elassar của đài CNN đang được đăng tải trên liên mạng. Cô đã nêu ra những lời khuyên rất cần thiết cho chúng ta, căn bản dựa trên những video clips huấn luyện và đào tạo nhân viên của FBI.
Since I arrived in the United States in “Black April” of 1975 (the Fall of Saigon) and had been resettled in Oklahoma City to date, I have had two opportunities to go back to schools. The first one I studied at Oklahoma City University (OCU) for 5 years and received my degree in 1981. Having to work during day time, I could only go to school in the evening.
Như vậy, từ hiện tượng đảng viên “quay lưng” lại với đảng đến chuyện dân bỏ mặc mọi việc cho nhà nước lo cho tới chuyện thanh niên, rường cột của Tổ quốc, cũng “khô đoàn” và “nhạt đảng” thì điều được gọi là “nền tảng Tư tưởng đảng” có còn gốc rễ gì không, hay trốc hết rồi?
Niềm vui trong Ngày Hội Ngộ, với đặc san được quý nương “khen” còn mấy ông già chồng chỉ gật gù “mầy giữ gìn sức khỏe để tiếp tục”. Tháng 5 năm 2020 và tháng 5 năm nay vì cái dịch Covod-19, không có cơ hội gặp nhau. Dù “ghét cay ghét đắng” mấy ông già chồng hành hạ “con dâu” nầy nhưng không được dịp hội ngộ với nhau, nhớ nhiều.
Khi đối với cha mẹ có thể cung kính mà vui vẻ, mới là tận Hiếu. Chữ “Kính” nhấn mạnh việc không để xảy ra sơ suất dù rất nhỏ, phụng dưỡng cha mẹ già xuất phát từ nội tâm, với khuôn mặt vui vẻ, mới có thể nói là “Hiếu.” Người già không khác những đứa trẻ, nhiều khi hay tủi thân, hờn dỗi và dễ phiền muộn. Con cái có thể cho cha mẹ ăn uống, hầu hạ cha mẹ khuya sớm nhưng rất khó biết đến nỗi buồn của cha mẹ lúc về già.
Giáo hội xin tán thán tinh thần hộ đạo và tu đạo của quí Thiện nam Tín nữ trong hoàn cảnh tai ương đầy kinh hãi hiện nay. Tất cả năng lực và công đức lớn lao này của người đệ tử, chúng con xin dâng lên cúng dường đức Thế Tôn trong ngày Đản sinh. Hàng trăm ngàn trái tim, hàng vạn ngàn bàn tay siết chặt giữa những thương đau tràn ngập của nhân loại, chúng con nguyện quán chiếu thật sâu sự khổ nạn hiện nay để kiên nhẫn mà vượt qua.
Có lẽ cả Trung Cộng lẫn Hoa Kỳ đều không mong muốn việc khơi mào cho một cuộc xung đột vũ trang, nhưng trước thái độ xác quyết của tổng thống Joe Biden, Trung Cộng hiểu rằng họ đang đối đầu với một đối thủ nguy hiểm gấp bội lần so với những năm qua.
Với chế độ độc đảng toàn trị hiện hành, với bộ máy tam trùng hiện tại, với văn hoá tham nhũng hiện nay, và với chủ trương cấm tự do báo chí cố hữu … thì chuyện sống được bằng lương mãi mãi chỉ là một kỳ vọng xa vời. Vô phương thực hiện!
Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.