Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Khi Ông Mạnh Và Ông Dũng Đương Đầu Với Nhau?

14/10/200800:00:00(Xem: 13642)

<"xml:namespace prefix = o ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:office" /> 

 

Trung Điền

 

Đầu tháng 10 vừa qua, Trung Ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã triệu tập Hội nghị Trung ương đảng lần thứ 8 tại Hà Nội. Khác với những lần họp trước đây của Trung ương thường kéo dài từ 7 đến 10 ngày, Hội nghị lần thứ 8 chỉ diễn ra 3 ngày từ ngày 2 đến 4 tháng 10, tập trung vào hai vấn đề chính: 1/Thảo luận về tình hình kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2008; 2/Định hướng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nưóc năm 2009. Nói một cách ngắn gọn là Hội nghị lần này tập trung bàn tính về những đối phó khủng hoảng kinh tế - xã hội trong năm 2008 và năm 2009. Tại sao 160 Ủy viên Trung ương đảng lại bỏ thì giờ làm một công việc mang tính hành chánh như vậy"

 

Tình trạng lạm phát lên mức 2 con số và sự suy thoái kinh tế hiện nay không phải là vấn đề mới. Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam đã họp, thảo luận và đề ra biện pháp giải quyết qua hai kỳ họp trước đây. Thậm chí Bộ chính trị cũng đã họp mấy ngày liên tục, mời cả một số chuyên gia kinh tế quốc tế tham dự để vấn kế, sau đó Bộ chính trị đã có hai lần ra văn thư hướng dẫn cho ông Nguyễn Tấn Dũng phải  thi hành. Hướng dẫn đầu tiên là Kết luận số 22-KL/T.Ư vào ngày 4-4-2008 với 8 nhóm giải pháp kiềm chế lạm pháp, tăng cường kiểm soát vĩ mô. Hướng dẫn thứ hai là Kết Luận số 25/KL/T.Ư vào ngày 5 -8-2008  với yêu cầu ông Dũng phải điều chỉnh tỷ suất tăng trưởng thấp hơn hiện nay và chú trọng đến bảo đảm an sinh xã hội, tức là không cho xảy ra những cuộc khủng hoảng xã hội, ảnh hưởng đến uy quyền lãnh đạo của đảng.

 

Với hai bản hướng dẫn của Bộ chính trị nói trên, người ta đã thấy có điều gì bất thường khi ông Nông Đức Mạnh, nhân danh Tổng bí thư đảng nhúng tay giải quyết thay cho ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng những vấn đề mà đáng lý ra nó nằm trong phạm vị trách nhiệm của ông Dũng. Tại sao"

 

Đối phó với những khó khăn kinh tế - xã hội hiện nay chỉ là chiêu bài của những tranh đoạt quyền lực giữa phe ông Mạnh và phe ông Dũng. Từ lâu, ông Mạnh được liệt vào hàng ngũ của khuynh hướng bảo thủ và có chủ trương "sao y bản chánh'' của đàn anh Trung Quốc - Tàu làm sao ta y chang làm vậy cho chắc ăn; từ đó ông được một số lãnh đạo có khuynh hướng thân Trung Quốc như Nguyễn Phú Trọng, Phạm Quang Nghị, Trương Vĩnh Trọng, ... phò tá và tạo thành  nhóm thân Trung Quốc. Đương nhiên Bắc Kinh cũng tìm mọi cách nắm ông Mạnh để qua đó khuynh loát nội bộ lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam, không cho tiến gần với Mỹ hầu tạo thế liên minh chống lại Trung Quốc. Thật ra ông Mạnh không phải người cầm đầu nhóm thân Trung Quốc mà chính là bộ ba Nguyễn Phú Trọng - Phan Quang Nghị - Trương Vĩnh Trọng đang tìm cách ngáng cẳng những chính sách thân Mỹ và thân Nhật của ông Nguyễn Tấn Dũng.

 

Nhóm thân Trung Quốc cho rằng Mỹ không có khả năng giúp Việt Nam giải quyết những khó khăn kinh tế - xã hội mà nhiều khi còn lợi dụng việc giúp đỡ này để tạo ra cái gọi là "diễn biến hòa bình" trong nội bộ lãnh đạo Việt cộng. Cuộc khủng hoảng tài chánh ở Thái Lan vào năm 1999 và những giúp đỡ ASEAN tái thiết kinh tế sau cuộc khủng hoảng lây lan từ Thái cho thấy: Trung Quốc là nước đã cho Thái Lan vay dài hạn 1 tỷ Mỹ kim và giúp Nam Dương phục hồi kinh tế, trong khi Mỹ và Nhật đòi hỏi quá nhiều điều kiện mà không làm được gì. Từ kinh nghiệm đó, nhóm thân Trung Quốc muốn nội các Nguyễn Tấn Dũng phải làm theo những "vấn kế" của Bắc Kinh nên mới đẻ ra hai bản Kết Luận 1 và Kết Luận 2 của Bộ chính trị.

 

Ông Nguyễn Tấn Dũng, từ căn bản không phải là thành phần thân Mỹ, nhưng càng ngày ông càng bị đẩy vào thế phải dựa vào Nhật và Mỹ để chống lại những "biện pháp" bá quyền của Bắc Kinh mà ở vai trò Thủ Tướng phải đối đầu. Từ tháng 8 năm 2006 sau khi nhậm chức, ông Nguyễn Tấn Dũng đã bị rất nhiều áp lực từ Trung Quốc trên các mặt kinh tế, đối ngoại, chính trị, biên giới... Tuy nhiên, ông Dũng không dám có thái độ gần Mỹ một cách lộ liễu vì sợ phe thân Trung Quốc tấn công, nhất là khi Hoa Kỳ kêu gọi ông Dũng tham gia vào các cuộc đối thoại về chiến lược, cả hai  ông Dũng và Nguyễn Minh Triết đã cố tìm cách trì hoãn. Nhưng từ đầu năm 2008, hai biến cố sau đây đã làm cho ông Nguyễn Tấn Dũng và những thành phần thân cận là Thượng Tướng Phùng Quang Thanh (Bộ Trưởng Quốc Phòng), Thượng tướng Lê Văn Dũng (Chủ nhiệm Tổng Cục Chính Trị) và Trung Tướng Nguyễn Huy Hiệu (Thứ Trưởng Bộ Quốc  Phòng) có những thái độ dứt khoát trong việc đi gần hơn với Mỹ. Đó là vụ Trung Quốc ngang nhiên áp lực hãng dầu Exxon Mobil của Mỹ không được cộng tác với Cộng sản Việt Nam nghiên cứu dầu trên Biển Đông và Hải quân Trung Quốc đã cho tàu chiến trang bị vũ khí hạt nhân chạy vào trong hải phận Việt Nam ở miền Trung. Ngoài ra, sự kiện các Tướng Quân khu Thủ Đô Hà Nội đã bất tuân lệnh của ông Nguyễn Tấn Dũng và Bộ Quốc Phòng tiếp tục các hợp đồng kinh tế với những công ty của Bắc  Kinh mà ông Dũng đã ra lệnh cho Quân đội không được làm kinh tế từ năm 2007, khiến ông Dũng phải cách chức hàng loạt.

 

Sau khi từ Hoa Thịnh Đốn trở về vào cuối tháng 6 năm 2008, ông Nguyễn Tấn Dũng đã bật đèn xanh cho Bộ Ngoại giao Cộng sản Việt Nam xúc tiến mời Thứ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ John D. Negroponte đến Việt Nam vào trung tuần tháng 9 để bàn thảo về việc chuẩn bị cuộc họp đối thoại về hợp tác chiến lược, diễn ra vào đầu tháng 10. Đồng thời ông Dũng cũng bật đèn xanh cho Bộ Quốc Phòng đưa khoảng 10 ngàn sĩ quan trong các binh chủng không quân, hải quân, quân báo và người nhái sang Hoa Kỳ tu nghiệp những kỹ thuật mới về quốc phòng từ 2008 đến 2010. Ông Dũng còn cho mời một số chuyên gia kinh tế làm việc trong các viện nghiện cứu chiến lược của Hoa Kỳ tham dự hai Hội nghị tư vấn về kinh tế cho nội các Nguyễn Tấn Dũng vào cuối tháng 9 năm 2008. Nhìn vào hàng loạt những hành động nói trên của ông Nguyễn Tấn Dũng kể từ sau khi ông đi Mỹ về vào cuối tháng 6, không ai mà không thấy ông Nguyễn Tấn Dũng đang tìm cách đi gần với Mỹ. 

 

Rõ ràng là ông Dũng đang muốn dựa vào Mỹ để tìm lối thoát cho phe nhóm ông ta trước sức ép của Trung Quốc và phe nhóm Nông Đức Mạnh. Chính trong bối cảnh xung đột đó, Hội Nghị Trung ương đảng CSVN lần thứ 8 đã bị thu ngắn lại chỉ còn có ba ngày - một thời gian quá ngắn để bàn về những vấn đề dầu sôi lửa bỏng của đất nước. Hệ quả hiển nhiên là lãnh đạo Hà Nội không những đã không đưa ra được giải pháp nào hữu hiệu để tháo gỡ các bế tắc trầm trọng về kinh tế và những bất ổn xã hội, mà còn để lộ cho người ta thấy sự khuynh loát của hai thế lực Mỹ và Trung Quốc càng ngày càng sâu đậm trong nội bộ lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam. Cả hai phe đều sẵn sàng uốn mình bán đứng tổ quốc và quyền lợi của dân tộc để bảo tồn quyền lực của nhóm mình.

 

Trung Điền

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Trước đây, các cuộc đụng độ giữa Israel và Palestine đã thường diễn ra tại Jerusalem và Dải Gaza. Các yếu tố tác động khẩn thiết cho mối xung đột là tình trạng đe dọa cưỡng chế trục xuất các gia đình Palestine hoặc các buổi lễ kỷ niệm của Do Thái giáo tại Tempelberg. Thực ra, chiến cuộc còn bắt nguồn từ các sự kiện lịch sử khác mà các xung đột về thành phố Jerusalem và điện thờ Tempelberg đóng một vai trò chính cho sự leo thang.
Đọng trên hoa, trên lá, giọt sương năm xưa gợi ra cõi trong vắt, bình an, đẩy hồn ta vào chốn không bến không bờ, mênh mông, tịch mịch. Những đêm không trăng sao, ta cũng thấy trong cõi mịt mùng sự an hòa, tĩnh mịch ấy. Nhưng cõi tịch mịch của thăm thẳm trời đêm thì lạnh lẽo, vô hồn. Cõi mênh mông cảm từ giọt sương có phơn phớt nắng mai, thấp thoáng màu lá, màu hoa, bao giờ cũng ấm áp, man mác niềm vui nhẹ nhàng, thanh thoát như sương khói, như tơ. Giọt sương quen thuộc, thân yêu ấy đã biến mất, đã trôi vào quá khứ cùng lịch sử của vũ trụ mất rồi. Dù vẫn giữ hình thái, dung nhan của muôn triệu năm trước, giọt sương hôm nay đang mang trong lòng một sự ồn ào khủng khiếp. Vô lượng vi phân tử, sóng radio của điện thoại di động mang theo những lời thủ thỉ thân yêu, gay gắt tranh luận, ầm ầm giận dữ, đắng cay nhiếc móc, nỉ non than thở, tiếng khóc, tiếng cười, nỗi bi thương, cơn cuồng nộ – đủ món hỉ nộ ái ố – … điệp điệp, trùng trùng lướt qua giọt sương liên miên từ lúc nó chào đời
Các cuộc xung đột giữa Do Thái với Palestine cùng khối Ả Rập là vấn đề nan giải cho Hoa Kỳ lẫn thế giới bởi Do Thái không hề nhượng bộ, luôn có những hành động cứng rắn và trả đũa tàn bạo. Cuộc xung đột hiện nay xảy ra khi Do Thái trục xuất sáu gia đình Palestine tại Đông Jerusalem, là điều mà Do Thái từng bước thực hiện với người dân Palestine từ nhiều năm qua.
Tôi yêu những nông dân thôn Hoành, tôi yêu những nông dân Dương Nội. Yêu cái hồn của đất – nơi con người đang phải đối mặt với phong ba bão táp; nơi con người bước trên nghịch cảnh bằng sự cao quý và khí phách của riêng mình. Tôi có một niềm tin vững chắc rằng lòng tử tế và sự dũng cảm của họ sẽ lan toả và lan rộng.
Từ Văn phòng Viện Tăng Thống, tuy chỉ tồn tại trên danh nghĩa, trong phận sự bảo trì ấn tín của Viện Tăng Thống, kế thừa tâm nguyện của Đức Đệ Ngũ Tăng Thống qua phú chúc di ngôn của Ngài trước ngày thị tịch; chúng tôi trên nương tựa uy đức Tăng già và đạo lực gia trì của Chư tôn Trưởng lão, kính gởi đến Chư tôn Hòa Thượng, Chư Thượng tọa, Đại đức Tăng-già nhị bộ, cùng tất cả bốn chúng đệ tử, tâm nguyện Bồ-đề được thể hiện qua các kỳ họp đã nêu, ước mong tất cả bằng Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành, bằng đức lực, trí lực, và tài lực, với hằng tâm và hằng sản, đồng tâm nhất trí góp phần công đức vào sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh mà Chư Thánh Đệ tử, Lịch đại Tổ sư, bằng hùng lực và trí tuệ, bằng từ bi và nhẫn nhục, khoan dung, trải qua vô vàn gian nan chướng duyên trở ngại, đã mang ngọn đèn chánh pháp đến những nơi tăm tối, cho những ai có mắt để thấy, dựng dậy những gì đã sụp đổ, dựng đứng những gì đang nghiêng ngả.
Ngày Phật đản sanh là ngày vui, ngày thiêng liêng và trọng đại của nhân loại. Dù là với truyền thống nào, tông môn pháp phái nào, dù ở quốc độ nào… Người con Phật cũng đều hoan hỷ và thanh tịnh thân tâm để tưởng niệm đức Phật.
Thì tôi cũng nói cho hết lẽ như thế. Chớ bao nhiêu lương dân ở Văn Giang, Dương Nội, Thủ Thiêm, Lộc Hưng… đang sống yên lành mà Đảng & Nhà Nước còn có thể nhẫn tâm biến họ thành những đám dân oan (vật vã khắp nơi) thì cái chính phủ hiện hành có xá chi đến những khúc ruột thừa ở Cambodia.
Bàn về kinh tế không thể không nhắc đến tiền. Tiền không mua được hạnh phúc nhưng không có tiền thì…đói. Tiền mang lại tự do (có tiền mua tiên) hay biến con người thành nô lệ đồng tiền. Con nít lên 3 đã biết tiền dùng để mua bánh kẹo, vậy mà các kinh tế gia giờ này vẫn không đồng ý chuyện tiền để làm chi!
Sau ngày 30/4/1975, nếu phe chiến thắng đã có những chính sách mang lại sự hoà giải quốc gia, đối xử nhân bản với bên thua trận, thay vì cải tạo học tập, càn quét và thiêu huỷ văn hoá miền Nam, đánh tư sản mại bản, thì đã không có hàng triệu người bỏ nước ra đi và người Việt sẽ chẳng mấy ai còn nhớ đến một đất nước của quá khứ, tuy chưa hoàn toàn tự do dân chủ nhưng so với Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì người dân đã được tự do hơn bây giờ rất nhiều.
Tất nhiên phải “thành công” vì đảng một mình một chợ, không có ai cạnh tranh hay đòi chia phần. Nhưng việc đảng chọn cho dân bầu chỉ để tuyên truyền cho phương châm “ý đảng lòng dân”, trong khi người dân không có lựa chọn nào khác mà buộc phải đi bỏ phiếu để tránh bị làm khó trong cuộc sống.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.