Chuyện
30-4: Vợ Chồng Điệp Viên
Tác
giả: Phạm Thành Châu
Bài
số 3181-28481 vb7043011
Tác
giả hiện là cư dân Virginia, có ba tập truyện ngắn đã xuất bản. Sau đây là bài
viết đặc biệt của ông nhân dịp kỷ niệm 30 Tháng Tư: chuyện một việt kiều về thăm
mộ bạn cũ và chuyện người nghĩa quân
VNCH biến khu mộ của các đồng đội cũ thành nơi thờ cúng các anh hùng liệt nữ.
***
Học
xong trung học, tôi thi vào Đại Học Sư Phạm ban Anh Văn. Trong thời gian là
sinh viên tôi còn làm việc cho số 3 Bạch Đằng. Đó là cách nói gọn của phủ Đặc Ủy
Trung Ương Tình Báo Việt Nam Cộng Hòa.
Tôi
làm tình báo vì có máu phiêu lưu, thích chuyện mạo hiểm, sau nầy lại thêm mối
thù việt cộng giết cha tôi. Ông già tôi là chủ một nhà máy xay lúa nhỏ ở vùng
quê tỉnh Bạc Liêu. Vì là vùng mất an ninh nên phải đóng thuế cho việt cộng, ấy
vậy mà cũng bị chúng nửa khuya đến gõ cửa đem ra đồng bắn bỏ. Cả mấy năm sau,
tôi cố tâm điều tra mới biết rõ thủ phạm là một tên nằm vùng trong xóm, chỉ vì
một xích mích nhỏ, hắn dẫn đồng bọn về giết người. Dĩ nhiên tôi trả thù.
Sau
khi tốt nghiệp sư phạm, trong lúc chờ sự vụ lệnh, tôi lẻn về nhà trốn trong phòng
không cho hàng xóm biết, đến khuya tôi đến nhà hắn, nằm sau hè chờ. Ở thôn quê
không có phòng vệ sinh trong nhà, khi cần thì ra sau vườn. Qua đêm thứ hai hắn
mở cửa ra đi tiểu, tôi chĩa súng vào lưng hắn.
-
Đồng chí ra ngoài kia trả lời trước tổ chức về vài việc cần gấp.
Hắn
sinh nghi định phản ứng, tôi giáng cho một bá súng vào đầu, hắn bất tỉnh, tôi cột
chân tay hắn, cõng trên lưng, ì ạch băng đồng ra chỗ bọn chúng giết cha tôi.
Tôi khai thác tận tình cho đến khi hắn thú nhận tội giết cha tôi, lúc đó tôi mới
cho hắn biết sự thật. Hắn van lạy, nhưng vô ích, hình ảnh cha tôi chết oan ức,
mắt vẫn mở trừng trừng khiến tôi sôi gan. Sau đó gia đình tôi bán nhà máy xay
lúa, bán nhà lên Sài Gòn ở. Tốt nghiệp xong tôi được điều đi các tỉnh dạy học.
Sau mỗi công tác tình báo dù thành công hay thất bại tôi lại chuyển qua tỉnh
khác.
Câu
chuyện bắt đâu khi tôi được giao cho việc theo dõi một cô thợ may ở ngoại ô một
thành phố ven biển miền trung. Nguyên nhân là thỉnh thoảng lại có truyền đơn rải
vào buổi sáng trên con đường vào thị xã. Đây là con đường mà đa số nông dân thường
đem nông sản vào chợ bán. Họ chở bằng xe đạp, xe lăm hay xe bò. Sáng sớm nào
cũng có cảnh sát rình ở đó nhưng chẳng thấy ai đáng tình nghi cả. Sau phải cho
người nằm sát lề đường mới khám phá ra một cô gái đi xe đạp chở rau muống phía
sau, dưới chân chỗ bàn đạp để mớ truyền đơn, cứ dỡ nhẹ chân là truyền đơn rơi
xuống đường khó mà thấy được nhất là ở quãng đường tối.
Qua
điều tra đây là cô thợ may nhà ở vùng ngoại ô, sát địa giới thành phố. Sau nhà
là một vạt ruộng nhỏ trồng rau muống, mỗi sáng cô chở rau vào chợ bán sỉ cho bạn
hàng rồi về ngay. Cô sống với một mẹ già hơn sáu mươi tuổi. Gọi là tiệm chứ thực
sự là một bàn máy may phía trước, cách một tấm vách cót là giường ngủ của hai mẹ
con vừa làm chỗ thử áo quần. Gia đình nầy mới từ một quận miền núi về hơn một năm
nay. Theo báo cáo, trước đó cô là nữ sinh trung học, sau theo nghề may. Tiệm của
cô khá đông khách vì cô hiền lành, vui vẻ lại lấy công rất rẻ, có lẽ đây là trạm
giao liên hơn là cơ sở kinh tài của địch.
Nhiệm
vụ của tôi là tìm cách tiếp cận cô để theo dõi. Tôi sẽ đóng vai một kẻ si tình
cô, gặp gỡ cô mà bọn chúng không thể nghi ngờ, hoặc tốt hơn nữa sẽ được móc nối
làm việc cho chúng. Một buổi sáng chủ nhật tôi chạy xe gắn máy gần đến nhà cô
thì xe chết máy phải dừng lại sửa. Tôi vào tiệm xin cô miếng giẻ rồi loay hoay
mở máy ra chùi, thay bu gi, tháo bình xăng con... toát mồ hôi mà xe vẫn không nổ.
Tôi xin cô miếng nước uống và ngồi trước hiên nhà cô hỏi vài câu vơ vẩn rồi dẫn
xe về.
Qua
hôm sau tôi đem một xấp vải đến nhờ cô may cho một áo sơ mi. Lần nầy tôi được
cô mời vào nhà vì tôi là khách. Thế rồi, thỉnh thoảng tôi lại nhờ cô may một thứ
gì đó và tôi ngập ngừng nói là tôi làm thế để được dịp gặp cô, không gặp tôi nhớ.
Cô có vẻ bất ngờ, nhưng yên lặng. Những lần sau cô lại càng giữ ý, nhưng tôi bắt
gặp trên đôi mắt cô mỗi khi thấy tôi, long lanh niềm vui. Trong lúc trò chuyện
tôi cho cô biết về gia đình tôi rằng ông già tôi tham gia mặt trận bị quân đội
Quốc Gia hành quân bắn chết. Thỉnh thoảng tôi đi chùa nghe thuyết pháp hoặc
tham gia mít ting, tôi phát ngôn bừa bãi ra người bất mãn chế độ. Sau một thời
gian lạnh lùng, giữ kẽ, cô có vẻ thân thiện, vui vẻ hơn. Kẻ thù trong bóng tối đang
kéo dần con mồi về phía chúng, tôi biết mình đã được để ý, nhưng chỉ đến đấy
thì hầu như bế tắc, tôi không biết được những gì chúng tôi cần.
Một
sáng chủ nhật, như thường lệ tôi đến thăm cô, nhưng đến nơi chỉ thấy một đống
tro tàn đang bốc khói. Thì ra, không hiểu vì sao lúc khuya lửa bắt cháy, hai mẹ
con chỉ kịp chạy thoát thân. Tôi khuyên nhủ nhưng cô vẫn lắc đầu lo lắng.
-
Tiền mua bàn máy may, mua miếng đất em trả chưa hết nợ, còn quần áo của khách nữa,
họ nói bao nhiêu phải cố mà trả. Nhưng em còn đồng nào đâu!
Tôi
hứa với cô là sẽ hết lòng tìm cách giúp đỡ. Thế rồi tôi về bán chiếc xe gắn
máy. Nhờ bà con chung quanh phụ giúp nhặt nhạnh những miếng tôle còn xài được,
mua ít vật liệu, dựng lại căn nhà mới cũng khang trang, ngoài ra còn mua được một
bàn máy may mới nữa. Chỉ trong một tuần tôi lo toan cho cô chu toàn. Từ đấy
thái đọâ của cô đối với tôi thay đổi hẳn. Chúng tôi thường đưa nhau đi xem hát,
ăn quà rong, đôi khi cô đến nhà trọ thăm tôi nữa. Mỗi khi đi với nhau cô thường
chải chuốt, thoa chút phấn hồng trên má, trông cô đẹp hẳn ra, như lột xác từ một
cô thợ may lọ lem thành một nàng tiên, nhưng đối với tôi, đi bên cô, nhất là những
chỗ vắng, tôi có cảm giác rờn rợn, tưởng như mình đang đứng trước đỉnh đầu ruồi
của một họng súng nào đó trong bóng tối. Vì nghề nghiệp, lúc nào tôi cũng cảnh
giác, ngụy trang, dọ dẫm tìm một chỗ an toàn phía sau lưng.
Một
lần cô ghé nhà trọ thăm tôi, có một bà hàng xóm biết cô là thợ may đến năn nỉ
cho con gái học nghề may. Cô là học sinh thi hỏng tú tài, muốn theo nghề may để
phụ giúp gia đình. Nghe tôi nói thêm vào cô ta có vẻ bằng lòng nhưng hẹn ít hôm
nữa mới trả lời, có lẽ chờ quyết định của tên đầu sỏ, chỉ huy cô. Tuần sau cô đồng
ý nhận học trò. Được độ ba tháng nhờ sáng ý, cô bé học nghề khá tiến bộ. Tiệm
may cũng đông khách hơn trước.
Một
hôm tôi gọi riêng cô bé hàng xóm qua nói chuyện.
-
Em học nghềø may với chị Lan đến đâu rồi"
-
Em cắt chưa vững nhưng may thì khá lắm, khách nào cũng khen đường chỉ em thẳng,
mịn và đẹp.
-
Có lẽ cần một máy may nữa mới phụ chị Lan kịp giao hàng cho khách.
-
Em cũng nghĩ vậy nhưng không có tiền.
Tôi
tâm sự với cô học trò.
-
Như em biết, thầy và chị Lan yêu nhau, dự định sẽ làm đám cưới, nhưng thầy còn
ngại hình như chị Lan đang yêu ai nên thầy nhờ em giúp thầy tìm hiểu chị Lan
xem có ai đến thân mật chuyện trò với chị ấy không" Em sẽ chẳng làm gì cho chị ấy
nghi ngờ. Thầy có cái máy nầy, sẽ giấu dưới xách tay của em, khi đến nơi, em chỉ
cần mắc xách tay sau lưng chỗ ngồi của em sát vách với phòng thử áo quần. Chỉ
thế thôi, đừng cho bất cứ ai biết chuyện nầy. Nếu chị Lan hay ai bắt gặp cứ bảo
rằng đó là máy thu thanh, thầy sẽ chỉ em cách mở nghe đài phát thanh. Em cũng đừng
cho chị ấy biết là thầy cho em mượn tiền mua máy may, sợ chị nghi ngờ, ghen
tuông phiền phức.
Thế
là chúng tôi nghe rõ những trao đổi, bàn bạc với nhau của bọn chúng trong phòng
thử quần áo. Một bộ phận khác rình thu hình những khách hàng khả nghi và tiến
hành điều tra. Chúng tôi gần như nắm vững tất cả những tên nằm vùng, cơ sở kinh
tài, nơi chứa chấp những tên xâm nhập nữa, nhưng tên đầu sỏ vẫn chưa tìm ra!"
Trong
nghề nầy, một chút sơ ý là chết. Như cô thợ may, bị chúng tôi theo dõi mà không
hay biết. Cô với tôi như hai tay nhu đạo
đang lừa nhau để vật đối thủ xuống, cô đã bị thất thế hoàn toàn, nhưng tôi chưa
ra tay và chờ cô ra đòn. Có thể cô làm bộ chuyện trò, hỏi han để tìm hiểu tôi
hoặc rủ tôi một chiều nào đó ra vùng quê hóng gió tâm sự... Nhưng tuyệt nhiên
chuyện đó không xảy ra. Cô lúc nào cũng ít nói, dịu dàng, nhưng như thế lại
càng làm tôi e ngại và thấy cô rất bản lĩnh, rất nguy hiểm. Đi bên cô tôi cố
làm vẻ sung sướng, hạnh phúc nhưng thật sự tôi có cảm tưởng cô như con rắn độc,
chỉ một tích tắc cô hành động là đời tôi tàn ngay. Mạng tôi đổi mạng cô thì
không xứng. Thế nên tôi chẳng hứng thú gì trong vai trò nầy cả. Tôi được lịnh
phải tiến xa hơn tức là phải chung đụng xác thịt để giữ chặt con mồi, nhưng tôi
không làm được. Dù cô có yêu tôi thực hay giả vờ tôi cũng quyết không đụng chạm
đến nơi thiêng liêng đó của người con gái. Đó là yếu điểm của một tên tình báo
non tay nghề như tôi.
Mùa
hè năm đó, đối phương lên phương án tấn công tỉnh. Mẻ lưới được tung ra. Chúng
tôi dự định hành quân vào lúc khuya. Buổi chiều cô bé học may về báo cho tôi biết
là lúc trưa có một ông sư khất thực đến trước nhà, cô Lan ra cúng dường, ông sư
lầm thầm tụng kinh chúc phúc như mọi khi, nhưng lúc quay vào, thấy mặt cô tái
mét, người cứ run lên bần bật...Chúng tôi đề nghị cảnh sát hành quân sớm hơn dự
định. Thế là cả bọn bị tóm, kể cả chính tôi cũng bị cảnh sát đến gõ cửa, còng
tay, đẩy lên xe cây.
Thường
thì sau khi vở kịch đã hạ màn như thế, tôi thảnh thơi nghỉ ngơi rồi nhận công
tác mới. Nhưng không hiểu sao hình ảnh cô ta vẫn nguyên vẹn trong đầu tôi. Khi
cô bị bắt, bị giam giữ, lòng trắc ẩn của tôi lại nổi lên. Đàn bà, con gái, trẻ
con không có chỗ trong chiến tranh, họ phải được ở hậu phương, phải được thường
xuyên che chở, bảo vệ. Một cô gái vô ý vấp ngã thấy đã động lòng rồi, huống gì
cô thợ may hiền lành, dịu dàng kia đang bị nhốt trong nhà giam sau những song sắt
như một con thú đã bị săn bắt, chờ ngày bị đem xẻ thịt.
Tôi
đã nhiều lần bí mật nhìn cô ủ rũ ngồi ở một góc phòng giam, héo úa như không có
linh hồn, không còn cảm giác, suy nghĩ gì. Tương lai là chết rũ trong tù, tình
yêu, hy vọng của tuổi thanh xuân coi như đã chấm hết. Đối với cô, tôi thấy thật
bất nhẫn, lừa gạt một cô gái dù cô ta được điều khiển từ trong bóng tối. Và khi
cảm tưởng cô không còn là kẻ thù của tôi nữa, sự cảnh giác đã được gạt bỏ, như
bụi bặm trên một bức tranh đã được chùi sạch, để lộ ra hình ảnh trong sáng, dịu
dàng của cô trong tâm trí tôi. Thế nên tôi đề nghị thả cô ra để cho những con mồi
khác đến móc nối lại với cô.
Từ
phòng giam, tôi lại được gọi lên để đối chất về sự liên hệ giữa tôi và cô.
Chúng tôi xác nhận có yêu nhau nhưng chẳng
biết gì về việt cộng cả và anh cảnh sát thẩm vấn (vờ) tin ngay là thật, anh hứa
sẽ thả chúng tôi ra và anh bỏ đi làm giấy tờ. Tôi đến ngồi gần cô cầm lấy tay
cô, cô ngước nhìn tôi và lắc đầu, có lẽ cô cho rằng lời anh thẩm vấn viên chỉ
là cái bẫy, nhưng tôi cố tình cho cô hiểu tôi là người có thẩm quyền, tôi cứu
cô ra vì tôi yêu cô.
-
Như em đã nghe lúc nãy, anh xin bảo lãnh em và chịu trách nhiệm liên đới về những
hành động của em sau nầy. Nếu em thương yêu anh thực lòng thì em hãy lánh xa những
gì có thể gây nguy hiểm cho em. Em còn mẹ già phải nuôi dưỡng, rồi em sẽ lập
gia đình, có con cái, sống hạnh phúc như bao người bình thường khác. Đừng dại dột
nữa, không phải anh sợ bị vạ lây nhưng nếu em gặp chuyện không may anh sẽ đau
khổ lắm. Anh sẽ thu xếp cho em và mẹ em vào Sài Gòn sống lẫn trong đồng bào thì
sẽ không có ai quấy rầy em nữa. Chúng mình sẽ làm đám hỏi và khi nào anh vận động
xin về dạy gần Sài Gòn sẽ làm đám cưới.
Cô
cúi đầu yên lặng nghe, rồi cô nắm tay tôi đặt lên đùi cô, siết nhẹ. Một giọt nước
mắt rơi trên tay tôi. Tôi thở phào nhẹ nhõm. Cô đã hiểu ý tôi. Cô viết cho mẹ
cô một lá thư, dặn bán nhà để chuẩn bị về quê, chỉ giữ lại bàn máy may.
Sau
đó chúng tôi lặng lẽ về Sài Gòn.
Nhờ
bạn bè giúp đỡ, tôi tìm mua được một căn nhà nhỏ ở chợ Cây Quéo, góc đường
Hoàng Hoa Thám, Ngô Tùng Châu Gia Định. Dĩ nhiên việc theo dõi cô không phải đã
chấm dứt.
Công
tác của chúng tôi thường được tình báo Mỹ yểm trợ. Người Mỹ rất hào phóng nhưng
cũng rất nguyên tắc, họ đã vui vẻ trả lại tiền cho tôi mua lại chiếc xe gắn
máy, trả cả những chi phí lặt vặt như đưa cô đi xem hát, ăn quà rong. Nhưng sau
cuộc hành quân, hồ sơ coi như đã đóng. Lần nầy tôi lại bán xe, vay mượn thêm để
lo cho cô mà không biết khi nào mới có tiền mua lại xe khác.
Suốt
mấy tháng hè, tôi về Sài Gòn với gia đình.
Buổi chiều tôi thường ghé thăm cô, có khi tôi ăn cơm tối với gia đình cô. Sau bữa
ăn, bà mẹ dọn dẹp chén đĩa, còn cô thì xin phép đi tắm. Chợ Cây Quéo nằm trong
một đường hẻm, sau khi tan chợ chiều, trở thành vắng lặng như ở một vùng quê.
Sau nhà cô có một sân vuông nhỏ, rào kín chung quanh, tôi thích ra đấy ngồi xuống
một ghế gỗ dài để chờ cô. Cô có thói quen là sau khi tắm cô không mặc nịt ngực,
nên qua lần vải mỏng, đồi ngực cô thẳng đứng lên, lồ lộ như hai mụt măng tre vừa
chồi lên khỏi mặt đất. Cô ngồi cạnh tôi, nghiêng đầu dùng khăn vò mái tóc cho
khô, chải nhẹ cho tóc thẳng, xong cô ngửa người vuốt mái tóc về sau lưng, rồi
cô nhìn tôi mỉm cười. Tôi yên lặng ngắm cô, tưởng như thấy rõ làn da mịn màng,
thơm tho của thân thể cô... Sau đó chúng tôi có một thứ quà rong như chè hay
trái cây để vừa ăn vừa chuyện trò đến khuya mới chia tay.
Sau
kỳ nghỉ hè tôi được chuyển ra Huế dạy học, tôi viết cho cô một lá thư dài và hẹn
Tết sẽ về xin làm đám hỏi. Tính cô ít nói, ngay cả thư trả lời chỉ vỏn vẹn mấy
câu "Được thư anh, em khóc mấy hôm nay vì vui mừng. Cám ơn anh đã hiểu em
và lời hứa của anh lần nầy em tin là thật, bằng trái tim và cả cuộc đời
em"
Khoảng
cuối năm đó tôi xin phép về Sài Gòn, khi đến nhà cô tôi ngạc nhiên thấy nhà đã
sửa sang lại tươm tất. Cô dẫn tôi ra phía sau khoe một căn phòng vừa mới được
xây thêm.
-
Mẹ ngủ phòng ngoài kia, em ngủ trong nầy.
-
Còn anh thì nằm dưới đất"!
Cô
đỏ mặt nhưng sung sướng.
-
Anh với em phòng nầy chứ.
Lễ
hỏi chúng tôi diễn ra đơn giản, kín đáo. Gia đình tôi cứ tưởng tôi sẽ lập gia đình
với một cô nữ sinh nào đó, không ngờ là một cô thợ may. Chẳng phải họ kỳ thị
hay giai cấp gì mà theo lệ thường, thầy giáo rất dễ chọn vợ đẹp trong trường
mình dạy. Nhưng khi gặp lần đầu, mọi người đều thích cô ngay. Cô vừa hiền vừa đẹp
một cách thùy mị. Mẹ tôi cứ mẹ mẹ con con với cô ngọt xớt, các cô em gái tôi
thì tíu tít hỏi han, trò chuyện rất thân mật khiến cô bối rối, vụng về vì cảm động.
Từ đó gần như ngày nào tôi cũng đến nhà cô, đôi khi ngủ lại nữa, nhưng chúng
tôi đã hứa với nhau phải giữ gìn, để dành cho ngày hôn lễ. Cô có những suy nghĩ
lẩm cẩm rất đàn bà. Cô thêu những áo gối có hình quả tim, tên tôi và tên cô lồng
vào nhau, hình đôi chim đang bay, rồi cô phân vân về tên của những đứa con
trong tương lai. Tôi chế giễu thì cô giận, nhưng thâm tâm cô rất vui sướng với
giấc mơ đơn giản đó.
Tôi
bàn với cô vài tháng nữa sẽ làm đám cưới, nhưng rồi đầu năm bảy lăm miền Nam bắt
đầu sụp đổ từng mảng, tất cả tan rã như bọt nước. Người ta ùn ùn chạy về phía
Nam, tôi phải nấn ná lo tiêu hủy hồ sơ, phân tán mạng lưới nên vào đến Đà Nẳng
lại đành quay về Huế vì miền Trung đã rơi vào tay đối phương rồi. Kẻ thù hình
như chưa biết gì về tôi cả ngoài cái vỏ bọc thầy giáo trung học. Chúng bắt đầu
gọi các cô thầy đến khai lý lịch và như đang
sắp xếp mở cửa các trường học.
Thế
rồi khoảng cuối tháng năm, năm bảy lăm, nửa khuya, chúng đến vây nhà trọ, gõ cửa,
còng tay tôi dẫn ra xe. Thoạt nhìn, ngoài chiếc xe cảnh sát chở đầy bộ đội tôi
còn thấy một xe mang số ẩn tế Sài Gòn, tôi biết
ngay bọn chúng đã tìm ra chính xác tông tích tôi. Nhưng tại sao trung ương
lại không hủy hồ sơ"
Ngồi
kèm tôi là hai tên bộ đội còn trẻ mang súng AK.
Phía trước, bên cạnh tài xế là một người đàn bà. Xe chạy ra khỏi cửa Thượng
Tứ, qua cầu Trường Tiền đến đường Duy Tân, chiếc xe chạy trước quẹo vào ty cảnh
sát (cũ), còn xe chở tôi chạy thẳng, hướng về quốc lộ. Tôi đoán chúng đưa tôi về
Sài Gòn khai thác. Tôi dự định thoát thân, nhưng đến gần phía Nam tôi mới hành động.
Nghĩ thế nên tôi buông thả, thiu thiu ngủ dưỡng sức.
Dọc
đường xe phải ngừng ở các nút chặn, tên tài xế cũng là bộ đội trình giấy và nói
gì đấy, ánh đèn loang loáng vào xe, rồi xe lại tiếp tục. Đến Quảng Ngãi trời đã
rạng sáng, tôi lơ mơ mở mắt nhìn quanh. Bỗng tôi lạnh người khi nhận ra người đàn
bà ngồi phía trước là cô thợ may, vợ sắp cưới của tôi. Hóa ra chúng tôi đã lầm
trong điệp vụ vừa kể, tên đầu sỏ là cô ta chứ không phải gã thầy tu khất thực.
Tôi cay đắng cười thầm mình thua trí một người đàn bà, cô đã ngụy trang một
cách tài tình, không chỉ đánh lừa chúng tôi mà còn đánh lừa cả đến lũ chân tay
của cô.
Nhớ
lại những ngày chúng tôi bên nhau, tôi sượng sùng, xấu hổ với cô. Cô đã đóng một
vai kịch rất xuất sắc, rất bản lĩnh, tôi vẫn chỉ là một con mồi ngây thơ. Ấy vậy
mà tôi cứ tưởng tình yêu chân thành của tôi đã cảm hóa được cô. Giờ đây cô ngồi
đó, lạnh như tiền. Cô đang nghĩ gì về tôi, một tên điệp viên hạng bét, ngây
ngô, lãng mạng tiểu tư sản"
Xe
đến Bình Định, ghé vào một quán cơm bên đường, tôi được tên bộ đội mở còng nhưng
dặn "Cần gì nói tôi, giữ khoảng cách năm bước, đến gần hay xa hơn, sẽ bị bắn
bỏ" Tôi được dẫn vào ngồi một bàn ở một góc quán, mấy tên bộ đội ngồi hai
bên, còn cô ta thì ngồi riêng. Sau bữa ăn, lúc trả tiền cô lôi ra một xấp bạc mới
tinh, rút vài tờ vất đấy, đứng dậy, không lấy tiền thối. Tôi cố tỏ ra sợ sệt và
ngoan ngoãn để chúng tin, hi vọng đến chiều tối nếu cũng ăn uống như thế nầy
tôi sẽ bỏ chạy rất dễ dàng và bóng đêm sẽ che chở cho tôi. Nhưng tôi đã lầm, xe
chạy suốt đến sáng, đến ngã ba Hàng Xanh theo đường Bạch Đằng, rồi Chi Lăng,
Ngô Tùng Châu và vào hẽm chợ Cây Quéo.
Cô
vào nhà một lúc lâu mới đi ra với bà mẹ. Hai mẹ con ngồi phía trước, xe lại tiếp
tục trở ra xa lộ đến Biên Hòa quẹo hướng Vũng Tàu. Tôi đoán chúng sẽ truy tôi về
công tác ở Vũng Tàu, Long Hải trước đây hoặc giao cho lũ nằm vùng, nội tuyến đã
bị tôi đưa đi tù, và chúng sẽ mặc sức trả thù.
Đến
Vũng Tàu, ghé mua mấy ổ bánh mì thịt, xe vào một khách sạn hạng trung bình. Sau
khi ăn uống, làm vệ sinh, tôi lại bị còng tay cho vào phòng riêng, phía ngoài
là hai tên bộ đội canh cửa. Tôi nghe cô ta dặn hai tên gác là phải cảnh giác
cao độ với tên địch nguy hiểm đó (là tôi), và cô đến ủy ban quân quản có chuyện
cần, sẽ về ngay. Tôi mệt mỏi lăn ra ngủ một giấc lấy sức, dự định tối nay leo cửa
sổ trốn đi. Cái còng không thành vấn đề, một cọng thép nhỏ là xong, và cọng
thép đó đang nằm trong sợi dây đồng hồ mà tôi đã có được lúc tôi đòi đi tiểu ở
hàng cơm ở Bình Định. Nhưng đến gần tối, sau khi được ăn một ổ bánh mì nữa,
chúng lại còng cả chân tôi vào giường và hai tên bộ đội ngồi ngay trong phòng
tôi, thay phiên nhau lõ đôi mắt cú vọ canh chừng tôi. Thế là hết đường trốn
thoát! Nhớ lại thời gian hứa hôn chúng tôi sống bên nhau, cô đã dần dần hiểu
tôi, trong sự săn sóc cô đón ý tôi rất tài. Lúc đó tôi sung sướng nghĩ rằng
mình có được cô vợ toàn tâm toàn ý, bây giờ chính cái toàn tâm toàn ý kia lại hại
tôi. Cô đã thấy được không sai chạy những gì tôi nghĩ trong đầu, dù chỉ vừa
thoáng qua là cô đề phòng ngay.
Tối
đó độ hơn mười giờ, tôi được dẫn ra xe, vẫn đủ sáu người như trước. Xe chạy
loanh quanh trong thành phố một lúc rồi hướng ra Bãi Sau. Trời đêm đầy mây, lạnh
kinh khủng, miền Nam chưa bao giờ lạnh như năm đó, đường vắng tanh, lờ mờ ánh đèn,
tiếng sóng vỗ rì rào, buồn bã. Xe chạy đến cuối bãi thì dừng lại. Cô ra lịnh bịt
mắt tôi lại.
-
Đồng chí đưa tôi khẩu AK. Cứ ở đây chờ, khi nào nghe tiếng súng nổ tôi sẽ ra.
Và
cô nói với bà mẹ, giọng lạnh lẽo, hàm răng rít lại.
-
Mẹ phải theo con, xem con trả thù kẻ đã giết hại gia đình mình và bao nhiêu đồng
chí khác nữa.
Đúng
là oan oan tương báo. Tôi đã xử tội tên nằm vùng giết cha tôi ra sao, bây giờ
tôi sẽ gặp y như vậy. Nhưng tôi không nhớ rõ mình đã làm gì để cô thù hận
tôi đến độ giờ đây đem ra xử
bắn tôi, không lẽ cô là con của tên nằm vùng kia"!
Cô
lên đạn, chĩa súng vào lưng tôi, đẩy tôi đi trước. Cô đã phạm một sai lầm chết người. Cô dí súng
vào lưng tôi là giúp tôi nắm được quãng cách giữa cô và tôi. Tầm vóc cô thì tôi
còn lạ gì. Chỉ cần tôi quay nhanh lại là mũi súng sẽ chệch ra ngoài và với một đòn
chân, tôi có thể đá gãy cổ cô hay ít ra cũng hạ gục cô trong tích tắt. Trong
bóng tối thì bị bịt mắt hay không cũng mù như nhau. Tôi lần tìm cọng thép trong
dây đồng hồ và bắt đầu mở khóa còng tay.
Được
một quãng, khi đoán đã xa tầm nghe ngóng của mấy tên bộ đội, tôi vừa định ra đòn
thì cô mở băng bịt mắt tôi.
-
Anh cõng mẹ được không" Nhanh lên! Nếu có chuyện gì, anh và mẹ cứ chạy thoát đừng
lo cho em. Có thuyền chờ sẵn đằng kia.
Cô
ôm súng chạy phía trước, tôi cõng bà cụ men theo bờ rừng dương liễu mải miết
theo cô. Độ một cây số, chúng tôi đến một thuyền nhỏ có người chờ sẵn. Thuyền được
đẩy ra, nổ máy và nửa giờ sau chúng tôi ra thuyền lớn đi thẳng.
Hôm
sau chúng tôi được tàu Mỹ vớt về đảo Guam.
PHẠM
THÀNH CHÂU
Ba
tập truyện ngắn của Phạm Thành Châu, đã xuất bản, nhận gửi sách tận nhà:
-
Bức Họa Khỏa Thân
(248
trang)
-
Nhớ Huế (248 trang)
-
Lý lẽ của trái tim (275 trang)
Giá
mỗi tập 12 USD. (trong nước Mỹ). Mua ba (3) tập trở lên, giá mỗi tập 10 USD kể
cả cước phí. Gửi sách trước, trả tiền sau. Liên lạc:
Phạm
Thành Châu
7004
Beverly Lane
Springfield
VA 22150
Phone
(703) 569-0124 (571) 480 - 3276)
(c)
(xin
để lại lời nhắn)