NGÀY TẾT Và CON NGƯỜI
Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh 92 tuổi, 64 năm làm báo. Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh sinh năm 1921 là một nhà báo chuyên nghiệp từ
năm 1948 bắt đầu ở Hà Nội. Năm 1952 là đặc phái viên chiến tranh cho
Việt Tấn Xã tại Huế. Năm 1965 làm Tổng Thư Ký VTX tại Saigon. Cũng từ
đó ông cùng Tổng Giám đốc VTX Nguyễn Ngọc Linh mở lớp dậy nghề làm báo
chính quy đầu tiên tại Việt Nam. Và cũng từ đó các Trường Đại học ở Việt
Nam lần đầu tiên có Phân khoa Báo chí. SDNVK là Giáo sư tại các Phân
khoa đó, chú trọng đem những tiêu chuẩn quốc tế về báo chí dậy cho giới
trẻ ở Việt Nam. Sau 12 năm trong trại tù cộng sản tù vì “tội văn nghệ sĩ
phản động,” ông qua Mỹ, gia đình định cư tại San Jose từ năm 1992. Chưa
ấm chỗ, ông một mình xách túi xuống miền Nam cùng làm Việt Báo và là
Trưởng Ban Tuyển Chọn giải thưởng Việt Báo Viết Về Nước Mỹ từ 2000 tới
2002. Năm 2011, vị niên trưởng của Việt Báo 91 tuổi vẫn từ San Jose về
quận Cam dự họp mặt Viết Về Nước Mỹ năm thứ 11. Hình trên, nhà báo
Nguyễn Xuân Nghĩa, trưởng ban tuyển chọn Viết Về Nước Mỹ đang yêu cầu
vị tiền nhiệm phát biểu trong buổi họp mặt. Sang tuổi 92, SDNVK vẫn tiếp
tục viết những bài Bình luận Truớc Thời Cuộc hàng tuần.
Năm ngoái, báo Tết Tân Mão, tôi viết về Mùa Xuân của Vũ trụ, năm nay tôi viết về Ngày Tết của con người. Năm ngoái tôi chỉ viết về khoa học, năm nay với chủ đề “con người” lẽ tất nhiên tôi phải viết cả về tôn giáo nữa, bởi vì nếu không có tôn giáo loài người sẽ không còn là loài người nữa.
Với chủ đề như trên, ý nghĩ đầu tiên thoáng qua đầu một ngưòi đã say mê khoa học từ thuở thìếu thời là câu hỏi tương lai của loài người sẽ ra sao? Và từ ý nghĩ tiên khởi đó là một loạt những câu hỏi kế tiếp như loài người sẽ tồn tại mãi mãi hay sẽ có một ngày xa xôi nào đó loài nguời sẽ bị tiêu diệt vì lý do này hay lý do khác, hoặc giả oai hùng hơn…. sẽ có một ngày đẹp trời trong tương lai, loài người chúng ta sẽ kéo nhau đi định cư ở một cõi trời nào khác tốt đẹp hơn chăng.
Máy nhìn thấy tương lai.
Tôi muốn nhìn về lãnh vực Khoa học trước, bởi vì tình cờ làm sao, vào cuối tháng 11 vừa qua, tôi đã nhận được tạp chí Khoa học “Scientific American” trong đó có một bài tựa đề lớn đập vào trúng trái tim đen của tôi:”Bộ Máy Tiên đoán tương lai”.Tôi thích thú ôm hôn tờ báo, vì đây không phải chuyện “rờ” mu rùa nữa mà là chuyện khoa học của một Tạp chí nổi danh nhất thế giới. Bài báo của David Weinburger có tựa đề “Bộ máy đoán tương lai”, để nhìn vào một đề tài gay cấn nhất của con người đúng lúc này: Tương lai kinh tế của cả loài người sẽ ra sao?
Những biến cố sôi động trên khắp thế giới trong một năm qua quanh vấn đề kinh tế đã lôi cuốn sự chú ý của cà loài người ở khắp năm châu, tại sao vậy? Lý do giản dị là kinh tế có tầm quan trọng lớn lao nhất cho cuộc sống con ngưòi trên Trái Đất này. Mùa Hè và mùa Thu năm ngoái, cuộc khủng hoảng tài chính của Hy Lạp đã làm bể sự ráp nối giữa hai hình ảnh tương tự của kinh tế toàn cầu. Khi đã hết cách trả một món nợ, một nước sẽ đứng trước một loạt những hậu quà có thể xẩy ra. Những nỗ lực của chính phủ nhằm cắt giảm chi tiêu đã tạo ra những cuộc nổi loạn của dân chúng trên đường phố của thủ đô Athens, trong khi mối nguy thiếu nợ không thể trả đã làm thị truờng tài chính thế giới nhốn nháo. Hậu quả còn xa hơn nữa. Bởi vì nó ảnh huởng tới ngành du lịch và trong khung cảnh này đồng Euro bị họa lây.
Viễn ảnh này đã làm Dirk Helbing, một nhà Vật lý học và cũng là Truởng ban Xã hội học tại Viện Kỹ thuật học Liên bang Thụy Sĩ ở Zurich đề nghị lập một hệ thống computer điện tử hóa trị giá 1 tỷ Euro được sử dụng như một quả cầu tròn thủy tinh của các vị Phù thủy hiện đại xem được những gì có thể xẩy ra trong lãnh vực tài chính của toàn khối nếu đem thi hành một giải pháp nào đó cho cái nạn đồng Euro bị kẹt.
Mô hình mới sắp có
Tìm ra một loạt những dữ kiện mới không phải là chuyện hiếm lạ trong ngành khoa học hiện đại, dù có khi những cái mới đó vĩ dại chẳng kém gì khoảng cách khủng khiếp như mọi hình thái trong vũ tru bao la của chúng ta. Thí dụ các nhà bác học đã thu luợm được nhiều những dữ kiện không thể đặt tên cho hết, chẳng hạn những dữ kiện rất phức tạp về hành vi và môi sinh của con nguời liên quan đến bệnh tật. Họ gọi đây là “chứng bệnh của hành vi” và thấy có 2 loại bệnh tiểu đường.
Theo lời nhà bác học Alex Pentland, Giám đốc Phòng Thí nghiệm Năng lực Con người của Viện Kỹ thuật học Massachusetts, kiểu thu thập dữ kiện lớn như vậy đã từng được thực hiện trong công việc nghiên cứu bệnh đau tim khởi sự năm 1948, với môt số bệnh nhân lên đến 5,209 người.
Đến năm 1949 Bill Philips, một kỹ sư và cũng là một kinh tế gia ở Tân Tây Lan đã tạo ra một kiểu máy mô hình mới để cho thấy nền kinh tế của khối Liên hiệp Anh làm việc như thế nào và đã tạo ra cách hàn gắn các bộ phận tinh vi cũng như một loại kính không thể nào bể.
Mô hình nghiên cứu này đã được hiện đại hóa và người ta hi vọng nó có thể dùng để tìm cách hiểu biết về tương lai loài ngưòi trênTrái Đất.
Thế nào là hiểu biết?
Câu trả lời có thể đưa đến một câu hỏi vặn lại: Thế nào là hiểu biết? Trước hết là chuyện “biết mà không hiểu”. Và tự nhiên nguời ta cần phải tìm hiểu một lập luận biết và hiểu khác nhau như thế nào. Bình thường người ta biết là biết, rất giản dị, nhưng “hiểu” khó khăn hơn . Bởi vì từ cái “biết” đó người ta cần phải suy luận rất kỹ đưa dến một địa bàn tranh luận dài dài mà không có kết quả dứt khoát. Bởi vậy cái gọi là ‘nhìn thấy tương lai” chỉ là ảo tuởng. Tuy nhiên sự tranh luận không phải hoàn toàn vô ích. Nó đưa đến một lãnh vực một lãnh vực quan trọng là kiến thức.
Tôn giáo và khoa học
Những cuộc tranh luận về Khoa học tuy không có kết quả rõ rệt về tương lai nhưng nó tạo ra một môi truờng hữu ích là sự mở rộng kiến thức. Ở đây có hai lãnh vực rất quan trọng là: Khoa học và Tôn giáo. Và đây cũng là một nhịp cầu kiến thức nối liền hai lãnh vực Khoa học và Tôn giáo trên một căn bản chung là sự tiến bộ của tư duy con người. Khoa học không có thêm kiến thức là khoa học lạc hậu, tôn giáo nếu không có thêm kiến thức để soi sáng mối đạo, đức tin sẽ sai lạc có thể đưa đến mê cung. Tin mà mê là mê tín. Ở thời đại mới này, ngườì ta đã thấy sự mê tín mù quáng đưa đến những lạm dụng khủng khiếp như thế nào.
Về mặt chính trị người ta hay nói đến dân chủ đa nguyên như một lý tuởng căn bản, nhưng không thấy mấy ai nói đến kiến thức đa nguyên là nguyên lý thiết yếu cho cuộc sống bình thường của con người. Đa nguyên không có nghĩa chỉ có một gốc hay một chiều. Ngày nay chúng ta đã có những kỹ thuật hiện đại trao đổi thông tin như phone, fax, computer, modem và từ Thế kỷ 20 chúng tôi đã dùng đến mấy chữ Bùng nổ Kiến thức (Big bang). Trong ngành báo chí hay nghiên cứu lịch sử văn học , kiến thức ào ạt đến từng giờ từng phút, nhưng trong lãnh vực này không có ai bị rối trí hay loạn óc như câu nói bình dân. Ở đây có chữ “tuệ” đi liền với trí giúp chúng ta băng qua dễ dàng một khu rừng rậm bát ngát, rối ren như mớ bòng bong.Trí và tuệ hòa hợp với nhau trong con người của chúng ta. Nếu trí là lãnh vực của khoa học, tuệ là lãnh vực của tôn giáo, hai lãnh vực này về bản chất không thể kết hợp với nhau, vì kết hợp như vậy chỉ làm cho cả hai bên mất hết hiệu năng.
Tôn giáo và Khoa học cần đứng riêng để giữ sức mạnh tiềm tàng, cùng giúp nhau mà tiến. Thượng Đế, đấng Tối cao đã tạo ra loài người là có ý để loài người tự rèn luyện học hỏi kinh nghiệm mà tiến bộ. Ngài không tạo ra loài người ù lỳ đứng nguyên một chỗ, không biết sử dụng bộ óc của mình, chỉ biết làm theo mệnh lệnh đã được thảo chương như người máy robot.
Kiến thức đa nguyên sẽ có khả năng chống lại mọi chủ trương duy ý chí, độc tài độc đoán trong khoa học và tôn giáo cũng như trong chính trị. Sự hợp tác giữa khoa học và tôn giáo là chân lý tuân theo ý Trời. Theo một từ ngữ mới, gọi là cộng năng (synergy) là đúng nhất.

Cơ quan Không gian Hoa Kỳ, NASA, thông báo robot thám hiểm hỏa tinh có
tên Cơ hội đã phát hiện ra dấu vết các khoáng chất trên hành tinh, dường
như do nước chảy hình thành cách đây đã lâu. Máy đo quang phổ của xe tự
hành cho thấy khoáng chất trong mạch là sulfát vôi hay còn gọi thạch
cao. Các nhà khoa học NASA tin rằng mạch khoáng chất đó được cấu thành
do nước có thạch cao chảy qua một khe nứt của đá nằm sâu dưới đất và sau
bị lộ ra ngoài mặt đất. Dù sao, chuyện loài người tương lai sẽ tụ họp
làm ăn ngoài trái đất là giấc mơ còn xa.
Nguồn gốc con người
Đoạn kết của bài báo Xuân năm nay, Xuân Nhâm Thìn, là một chủ đề tôi muốn viết ra từ lâu, nhưng chưa có đủ tài liệu và suy nghĩ chín chắn về đề tài này.Theo tục lệ cổ truyền, chúng ta từ thời xa xưa do ông bà tổ tiên truyền khẩu lại, người Việt chúng ta là”Con Rồng Cháu Tiên”. Tất nhiên đây chi là một huyền thoại bất cứ dân tộc nào cũng thường có.
Tôi muốn nhìn vấn đề theo một hướng rộng rãi và thực tế hơn, do sách vở cổ xưa và cả những tục lệ hầu như vô nghĩa để lại cho đến ngày nay. Đó là nguồn gốc con người. Khoa Khảo cổ học tân tiến đã tìm được những gốc gác xác thực về loài người trênTrái Đất này. Nhờ tìm thấy các xuơng cốt cổ xưa chôn vùi dưới đất, các nhà khảo cổ biết loài người như ngày nay đã hình thành rất từ từ, khởi sự từ 19 triệu năm trước cho đến 250,000 năm trước đây và trở thành loài đứng thẳng (homo erectus) giống như hiện nay. Bộ xương cổ đó là xương của một phụ nữ được các nhà khảo cổ đào tìm được ở gần bờ biển Đông Phi. Họ đặt tên là nàng Lucy. Khoảng 60,000 năm trước loài ngưòi đứng thẳng trở thành đông đúc hơn nên từ vùng Trung Phi nóng nẩy và cát bụi, họ kéo nhau di chuyển dần dần về hướng Bắc, khi hậu mát mẻ hơn, đất đai mầu mỡ hơn vùng cát bụi, và có những cây quả có thể ăn được.
Khi có ăn, loài người đứng thắng tiếp tục sinh sản nhiều hơn đến độ phải đi về huớng Bắc xa hơn nữa để rút cuộc đến một nơi ngày nay gọi là Ai Cập và gặp biển là nơi có tôm cá làm thức ăn. Mầy ngàn năm sau, họ tìm đường lộ đi qua một vùng nay gọi là bán đảo Á Rập. Xã hội loài người bắt đầu thành hình..
Từ đây có thể rút tỉa được một kết luận đơn giản: loài người cũng giống như các sinh vật khác, đều có nhu cầu thiên phú là tìm sự sống còn và sinh con đẻ cái.
Nguồn gốc của dân Việt.
Nguồn gốc của dân tộc Việt chúng ta bắt đầu như thế nào? Chắc chắn còn chậm hơn sự phát triển sơ khởi của các dân tộc ở Bắc Phi và Trung Đông. Tại Á châu có lẽ sự phát triển xã hội bắt đầu trước hết ở Ấn Độ và sau đếnTrung Quốc. Mặt khác, sự phát triển xã hội thường đi theo với tôn giáo. Ở Trung Đông Thiên chúa giáo phát sinh đầu tiên ở nước Do Thái (Israel) theo niên kỷ 1 đến nay là 2011 năm .Tại Đông Á, Phật giáo khởi sự ở Bắc Ấn khoảng 2,400 năm trước.Phật giáo truyền tới Trung Quốc vào thời Nhà Đường ở bên Tầu.
Về đường biên giới các tỉnh ở phiá Bắc Việt Nam với Trung Quốc, tiếp giáp các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam thời xưa không được phân định rõ rệt, vì có các dân tộc thiểu số như người Thổ, Nùng, Tày, Muờng, Mán,. Mèo… sinh sống. Vậy còn dân tộc Việt từ đâu đến?
Không có sách vở nào ghi nhận điều này. Nhưng sử sách Việt Nam ghi nhận từ thời Trưng Nữ Vương trước Công nguyên, nước Việt đã bị quânTầu chiếm và đặt ra cơ quan gọi là An Nam đô hộ phủ, tức là thuộc địa của Tầu. Lẽ tự nhiên chữ Hán bắt đầu được truyền tụng và thói xấu của bọn cai trị là làm cho người dân Việt tuởng rằng gốc gác của họ là Bách Việt xuất phát từ bênTầu. Tóm lại anh Tầu muốn nói rằng dân Việt cũng là gốc Tầu mà ra.
Đây là sự tham lam của kẻ muốn biến nước Việt thành một thuôc dịa của chúng. Chúng tôi nghĩ đó là một điều sai lầm. Tôi muốn đặt câu hỏi là hình thể nước Việt thờì xa xưa đó như thế nào? Trước hết chúng ta đều biết nước Việt Nam từ thời xa xưa đó chưa có lãnh thổ. Tôi muốn nóí giòng sông Hồng, tức Hồng Hà chảy từ Vân Nam xuống, nhưng cả hàng chục ngàn năm trước hay hơn, nó chỉ chảy đến núi Tản Đà ở Phú Thọ là đã gặp biển rồi. Sông Hồng từ Vân Nam chảy xuống, đem theo đất phù sa, lâu ngày lấp đầy một vùng biển hình tam giác ba góc. Một góc là chân núì Tản ở Phú Thọ, một góc là phía trên tỉnh Bắc Giang, còn một góc là tỉnh Nam Định. Chính nhờ phù sa đắp bồi đắp nên một bộ tộc gần gụi với gốc người Thái ở Vân Nam đã dùng thuyền noi theo giòng sông đến định cư ở vùng đất mới. Chúng ta người Việt không phài có gốc một bộ tộc gọi là Bách Việt củaTầu. Chữ Hán “việt” có nghĩa là vượt qua. Tổ tiên của chúng ta đã vượt qua biết bao gian khổ mới có đất dựng nước như ngày nay.
Sơn Điền NguyễnViết Khánh.